Hài
Cốt Thầy Marcô Trần Văn Ðàn Lm. Trần Sĩ Tín, C.Ss.R.
Ngày Lễ Truyền Tin 25-3-2000, một số anh em người Jrai ở Pleikly đã từ rừng sâu đem được hài cốt của Thầy Marcô Ðàn về tại giáo điểm Pleikly. Hài cốt Thầy không còn bao nhiêu, chỉ một nắm tay đầy, sau 29 năm chôn vùi trong rừng sâu không săng hòm. I. Thầy Ðàn Gia Nhập Giáo Ðiểm Pleikly: Ngày 10-10-1969, bốn anh em DCCT (Cha Vương Ðình Tài, 2 Thầy Nguyễn Ðức Mầu (nay là Bề trên Phụ tỉnh DCCT Hải ngoại), Trần Sĩ Tín và Thầy Léôna) được Ðức Cha Kim (Paul Seitz) Giám Mục Kontum, chở xe hơi từ Kontum đổ xuống Pleikly (Pleiku) không nhà, không cửa, giữa anh chị em người Jrai lúc đó còn là xa lạ. Pleikly ở cạnh Quốc lộ 14, cách Pleiku khoảng 60 cây số về hướng Nam, lúc đó hoàn toàn mất an ninh. Ðường sá rất xấu, nửa đất nửa đá. Chúng tôi đều là dân tình nguyện, dĩ nhiên là được Bề Trên chấp thuận và ủng hộ. Trong những ngày tháng đầu chúng tôi mới đến Pleikly, chưa có nhà cửa, phải ở tạm trong một căn phòng của trường làng Pleikly dành cho đàn dê đến trú vào ban đêm. Chúng tôi đều là dân tình nguyện. Chúng tôi chọn ở gần những người ở xa, chọn làm dân với dân, chọn làm Jrai với anh em Jrai. Từ giữa năm 1970, Thầy Hilaire và Thầy Marcô Ðàn cũng tình nguyện gia nhập Nhóm Pleikly như thế. Ðầu năm 1970, trong một lần về Sàigòn, tôi được biết Thầy Marcô Ðàn vừa tốt nghiệp môrt cách xuất sắc khóa Châm Cứu do một Thượng Tọa hướng dẫn. Thầy cũng có nghiên cứu về thuốc Nam. Trong một lần ngồi cùng bàn với Thầy tại nhà Dòng Sàigòn, tôi có ngỏ lời với Thầy: "Nếu Thầy lên Pleikly với tụi em thì hay quá! Anh em người Thượng cứ đến xin thuốc mà tụi em chẳng biết thuốc men là gì cả. Thầy biết thuốc tây, bây giờ Thầy lại còn biết châm cứu và biết cả thuốc Nam, thật là thích hợp cho dân nghèo." Nghe tôi kể, Thầy Marcô Ðàn chỉ mỉm cười, chẳng nói chẳng rằng. Tôi vốn xem Thầy là Thầy của tôi vì Thầy lớn hơn tôi cả 20 tuổi và lại dạy Sử-Ðịa cho tôi niên khóa 1954-1955 tại Huế. Tôi cũng được biết sức khỏe của Thầy không được tốt nên Bề Trên cũng không giao nhiệm vụ nào cho Thầy và để tùy Thầy tự chọn. Biết thế nên khi ngỏ ý với Thầy, tôi cũng làm theo kiểu nghĩ sao nói vậy, chứ chẳng hy vọng Thầy sẽ lên Pleikly, lúc đó là một nơi xa xôi hẻo lánh, rất nguy hiểm vì chiến tranh, nguy hiểm vì còn là rừng thiêng nước độc, và thiếu thốn trăm bề... Ấy thế mà đùng một cái Thầy Marcô vác đồ nghề lên Pleikly vào giữa năm 1970. Chỉ không đầy một thấng là từ Pleiku đến Pleikly nhiều người đã biết đến Thầy. Kinh, Thượng, Lương, Giáo đều đến với Thầy vì ngón nghề châm cứu của Thầy. II. Thầy Ðàn Ði Tù Và Chết Rũ Tù: Sự việc bắt đầu vào trung tuần tháng 3, 1971. Ðêm 14-3-1971, Quân Ðội "giải phóng" tiến đánh quận Phú Nhơn, ngay gần làng Pleikly. Sau ba ngày đêm mất ăn mất ngủ, căng thẳng, lo âu giữa hai lằn đạn, tới ngày thứ tư, chúng tôi (Thầy Marcô, Mầu, Tín và cô Chín (một giáo dân) bị bắt, bị trói và dẫn đi sâu vào rừng núi hướng Tây. Sau bốn ngày đi đêm nghỉ, họ dẫn chúng tôi đến một nơi gọi là trại cải tạo: đó là những lán tranh trống trải. Sau những ngày dài đi bộ băng rừng vượt suối, dưới cái nắng nóng tháng ba Tây Nguyên, khi tới nơi tôi thấy Thầy Marcô mệt mỏi, thều thào, không ăn được. Mấy ngày sau Thầy mới lại ăn uống bình thường. Tiêu chuẩn ăn uống của chúng tôi mỗi ngày luôn luôn là: một lon gạt gạo, thêm củ sắn mì, rau thường xuyên là lá sắn mì, mỗi tháng mỗi người một lon muối. Tại trại cải tạo, từ tháng Tư đến tháng Năm, chúng tôi luôn bị cùm hai chân ngày đêm và bị thẩm vấn rất nhiều. Thầy Marcô chịu cùm hai chân không nổi, đã xin được cùm một chân và đã được chấp thuận. Biết Thầy có nghề châm cứu nên cán bộ thường xuyên kêu Thầy châm cứu cho cán bộ, bộ đội. Ngoài những bệnh thông thường, 99% đều bị bệnh sốt rét rừng. Thầy cũng châm cứu cho các bạn tù, đa số là anh em Jrai. Có một bạn tù Jrai bị bí đại tiện, quằn quại đau đớn lắm. Thầy chỉ châm cho vài mũi kim (Thầy mang theo và được phép giữ) và nói xin ai đó đi lấy lá trải dưới sàn, chỗ người bệnh vẫn bị cùm, và chỉ 5 phút nữa là người bệnh sẽ được khỏe lại. Y như rằng! Sau khi đã được "khỏe lại", người bệnh mới kể: "Thảo nào đêm qua tôi mơ thấy mình đang phải vật lộn giữa dòng suối nước sâu thì được Ông Già này vớt lên! Sau này mà về được tới nhà thì phải cúng heo để nhận Ông Già làm Cha theo đúng phong tục Jrai mới được!" Lời nguyện ước này không được thực hiện ở trần gian. Tới tháng Năm, Cha Mầu (chịu chức từ tháng 3, 1970 tại Kontum) ngã bệnh sốt rét ác tính, hôn mê tưởng chừng đi luôn. Thầy Marcô Ðàn cũng bắt đầu bị sốt rét nhưng không hôn mê. Tôi bận canh giữ Cha Mầu đã mê man mấy ngày, chính vì thế mà tôi không ở gần Thầy vào phút chót. Bỗng giữa đêm ấy, có tiếng mấy anh em Jrai cùng ở một lán với Thầy kêu to: "Ông Già người Kinh chết rồi!" Tôi từ lán bên cạnh phía dưới chạy qua thì Thầy đã ra đi. Tôi hỏi giờ người cán bộ cũng vừa đến thì được biết lúc đó là 11 giờ 5 phút giờ Sàigòn tức 12 giờ 5 phút giờ Hà nội, tính theo bây giờ là 0 giờ 5 phút ngày 12-5-1971. Tôi mặc áo dòng vào cho Thầy, tấm áo dòng vừa là áo, vừa là chăn, vừa là chiếu cho chúng tôi trong cảnh tù đày. Tôi lấy giây rừng bó Thầy lại trong chiếc chiếu mà Thầy đã xin được của một em du kích Jrai. Sáng 12-5-1971, tôi và một số anh em Jrai đã đào huyệt chôn Thầy, vẫn chỉ bó chiếc chiếu của người Jrai đan bằng lá dứa dại, cách lán trại chúng tôi khoảng 20m trên triền núi. Chỗ ấy bây giờ nằm sâu trong biên giới Cambốt một ngày đường. Một người bạn tù Jrai cũ, người đã tham gia trong việc chôn cất Thầy Marcô, đã dẫn đường cho anh em Jrai Pleikly tìm lại được hài cốt của Thầy. Sau 29 năm tưởng chừng như hết hy vọng có thể tìm lại được hài cốt của Thầy vì đường đi rất nhiều khó khăn trắc trở, thì tới NĂM THÁNH 2000 này, Thầy lại trở về Pleikly vào đúng THÁNG BA, tháng Thầy rời Pleikly đi vào cuộc Tử Nạn của Thầy. Thầy trở về Pleikly như dấu chứng Thầy luôn có mặt và tham gia vào SỨ VỤ RAO GIẢNG TIN MỪNG GIỮA NGƯỜI JRAI. Thầy sống và chết với người Jrai, cho người Jrai. Chính vì vậy mà dân làng Pleikly đã chọn THÁNH MARCÔ làm BỔN MẠNG của mình. ÐỂ NHỚ THẤY MÃI MÃI. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |