| |
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN. 10-09-2000 : EPHATA ! HÃY MỞ RA. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN. 17-09-2000 : VẤN NẠN ÐAU KHỔ. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN. 24-09-2000 : CHẤT NGƯỜI TRONG TÔI. CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN. 01-10-2000 : GƯƠNG SÁNG - GƯƠNG TỐi. Chúa Nhật XXIII Thường Niên 10-09-2000< EPHATA! HÃY MỞ RA Họ đầy lòng thán phục mà rằng: "Người làm mọi sự tốt đẹp. Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được" (Mc 7:37). Con người đã được dựng nên để được thưởng thức muôn kỳ công Chúa làm ra mà ngợi khen chúc tụng, đồng thời thay quyền Ngài cai quản và thống trị cả vũ trụ này. Nhờ các giác quan mà con người có thể cảm nhận được các trạng thái xinh đẹp của muôn loài. Với sự hoạt động tài tình của thính giác, vị giác, khứu giác, thị giác, xúc giác, tôi có thể ngây ngất trước vẻ đẹp của cảnh bình minh trên sóng nước, rung động khi nghe tiếng chim thánh thót bên rừng cây lao xao, hoặc khoan khoái trước màu sắc và hương thơm lạ lùng của bông hoa đồng nội. Ðức Giêsu cũng đã từng rung cảm trước cảnh đẹp của thiên nhiên: những sóng lúa rì rào, các bông huệ trắng tinh, những con chim sẻ, đàn chiên, hay cây nho, hạt cải.... Thế nên, rất nhiều lần Ngài đã sử dụng chúng như những hình ảnh sống động trong các dụ ngôn chuyển tải Tin Mừng Nước Trời. Ghi nhận được vẻ đẹp nơi các tạo vật là bước đầu tiếp cận với Thượng Ðế. Vũ trụ thiên nhiên không chỉ là một nguồn hoa lợi vật chất để con người khám phá thu tích, nhưng còn là những dấu chỉ của hành vi yêu thương mang dấu vết Thiên Chúa, dẫn con người đến với Ngài. Cha F. Lelotte đã rất chí lý khi viết rằng: "Các sự vật hữu hình trước hết là những sứ giả âm thầm nói cho ta biết về Ðấng Vô Hình. Chúng tỏ cho ta thấy trí tuệ cao cả, quyền năng tuyệt đối và lòng tốt vô biên của Ngài để dẫn ta về với Ngài." Tạo vật phản chiếu dung nhan Tạo Hoá. Tất cả mọi sự Thiên Chúa dựng nên đều tốt đẹp. Ðó là lời khẳng định của Thánh Kinh. Tác giả thánh vịnh cũng đã nhắc đến kỳ công tác tạo với tấm lòng ca ngợi biết ơn: Chúc tụng Chúa đi, này đồi xanh núi biếc, Chúc tụng Chúa đi, kìa hoa lá cỏ cây, Chúc tụng Chúa đi, hỡi suối nước tràn đầy, Chúc tụng Chúa đi, nào sông sâu biển cả... Dùng giác quan để chiêm ngưỡng rừng xanh bao la hay đại dương bát ngát, lắng nghe tiếng nhạc vang vẳng của giòng suối róc rách hay tiếng hót véo von của con chim hoạ mi, sờ chạm những cánh hồng vừa nở hay hơi thở của những làn gió thoảng đưa, để rồi nhận ra bàn tay yêu thương của Thiên Chúa mà ca ngợi và mến yêu Ngài, hẳn là ước muốn của Ðấng Tạo Thành khi dựng nên thế giới. Thiên Chúa muốn con người sử dụng giác quan như những phương thế khả dĩ nâng cao nhân phẩm và làm phong phú cuộc sống. Nhưng từ khởi thuỷ, con người lại để giác quan huỷ hoại nhân phẩm và làm tàn lụi cuộc đời. Khi "lắng nghe" lời dụ dỗ của con rắn, khi "thấy" quả cấm sao mà xinh đẹp, và khi giơ tay "hái" mà "ăn," thì con người đã chống lại Ðấng Tạo Hoá và đóng ngỏ giác quan của mình trước cái đẹp siêu nhiên. Phép lạ chữa lành người câm và điếc được tường thuật duy nhất trong Tin Mừng của Thánh Maccô đã như một hành động mở ngỏ giác quan siêu nhiên mà chính Thiên Chúa đang thực thi cho con người. Phúc âm kể lại: Khi Chúa Giêsu ra khỏi vùng Tyrô, ngang qua Siđôn, Ngài đến biển Galilê, băng giữa xứ Ðêcapôli là vùng dân ngoại—phải chăng từ hư vô Thiên Chúa đã tạo dựng thế gian; hôm nay cũng từ vùng dân không biết Giavê là ai, Thiên Chúa sẽ tạo nên những kẻ yêu mến và tôn thờ Ngài. Người ta đã đem đến cho Ðức Giêsu một người câm điếc để xin Ngài chữa lành. Sau khi xoa nước miếng vào lưỡi cùng đặt ngón tay vào tai anh ta, Ðức Giêsu nhìn lên trời, hướng về Thiên Chúa Cha, như khẩn xin lòng bao dung xót thương mà tha thứ và tái tạo con người. Sau đó Ngài nói với người câm điếc: "Ephphata, Hãy mở ra." Tức thì lưỡi và tai anh được tháo gỡ. Kết quả của việc tái tạo này là con người cất lời ngợi ca Thiên Chúa. Dân chúng sững sờ thán phục và thốt lên: "Mọi sự, Ngài đã làm cách hoàn hảo"(Mc 7:37). Ðây chính là lời chúc tụng mà tác giả sách Sáng Thế đã ghi nhận trong tiến trình tạo dựng vũ trụ (Kn 1:10, 12, 18, 21, 25). Như thế, cách diễn tả của Thánh Maccô đã hàm ngậm một lời tuyên xưng: Chúa Giêsu vừa hoàn thành một cuộc sáng tạo mới. Thế giới hôm nay có còn cần đến một cuộc sáng tạo mới, hay là phép lạ "chữa lành câm điếc" nữa chăng? Chắc chắn là cần lắm. Bởi vì vẫn có biết bao nhiêu người đang bị câm—không thể ca ngợi Thiên Chúa—họ không nghe thấy Tin Mừng Tình Yêu. Phải chăng vì thiếu chứng nhân? Bao nhiêu người không thiết tha nghe tiếng chân lý để có thể bật lên lời ca ngợi tung hô, phải chăng vì lòng họ đã bị thôi miên trước những cám dỗ ngọt ngào của thế gian? Phải chăng vì phim ảnh sách báo xấu xa đã bịt tai mắt họ, nên không cảm được nét đẹp siêu nhiên để mà ngợi ca? Bao nhiêu người tham dự Thánh Lễ mà vẫn như kẻ câm người điếc. Không thiết tha với tiếng Chúa. Không cất lời đáp thưa. Hững hờ. Thụ động. Ngơ ngác. Phải chăng nghe chuyện phiếm, loan tin sai mới là lối sống của họ? Vẫn cần lắm bàn tay chữa lành của Chúa Giêsu trong thế giới hôm nay. Song có lẽ, trước tiên Chúa lại muốn bạn và tôi trở thành những chứng tá của Tình Yêu--những nhân tố trung gian "đem người câm điếc đến cùng Ðức Giêsu và xin Ngài chữa lành" (Mc 7:32).
Chúa Nhật XXIV Thường Niên 17-09-2000 VẤN NẠN ÐAU KHỔ
"Con Người phải chịu nhiều đau khổ, và bị hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục phế thải, bị giết đi, và sau ba ngày sẽ sống lại" (Mc 8:31). Từ xưa đến nay một vấn đề gai góc, nan giải và làm cho nhiều người thất vọng nhất là vấn đề đau khổ. Con người sinh ra bắt đầu bằng tiếng khóc, rồi trải qua cuộc đời với đầy vơi đắng cay và nước mắt, để cuối cùng, nằm xuống và được đưa đi giữa những tiếng khóc, có khi chân thật, có lúc giả dối của kẻ khác. Cho nên không lạ gì khi có người than thở: "Ðời là bể khổ." Nhưng tại sao đời lại là bể khổ? Có lẽ câu hỏi này đã được các nhà hiền triết từ bao đời nay bóp óc tìm câu giải đáp, nhưng rồi đâu vẫn hoàn đó, đau khổ vẫn là khổ đau. Ðau khổ vẫn là một thực trạng trong kiếp sống con người. Thế rồi vì không hiểu được lý do cũng như không tìm được câu trả lời thích đáng cho vấn đề đau khổ, nên người ta không chấp nhận và tìm mọi cách để hủy diệt nó. Vì thế lắm khi người ta cũng đã huỷ diệt luôn kẻ đang gánh chịu đau khổ. Ðã có lần chính phủ Nhật ra lệnh tập trung tất cả mọi người mắc bệnh phong cùi trên một hòn đảo ngoài khơi Thái bình Dương, rồi tưới xăng thiêu rụi cả hòn đảo cùng những người mắc bệnh phong cùi trên đó. Ðã có lần Hitler đã ra lệnh cho bác sĩ giám đốc bệnh viện Bethel thủ tiêu tất cả mọi bệnh nhân mắc bệnh thần kinh, không muốn sự hoạn nạn khốn cùng của họ đè nặng trên "dân tộc và quốc gia." Ðã có vô số lần, chính vì không chịu đựng được đau khổ, hay sâu xa hơn, bởi vì không tìm ra chân lý trong những khổ đau nên đã có không biết bao bạn trẻ cũng như bạn già tự chấm dứt cuộc đời, đi tìm cái chết để mong đạt được một điều duy nhất: chấm dứt khổ đau. Chắc chắn không ai có thể đem lại cho con người một câu trả lời thoả đáng ngoài Thiên Chúa; không ai minh chứng một cách sâu xa và hùng hồn ý nghĩa của sự khổ đau ngoài Thượng đế được tỏ hiện nơi Chúa Giêsu, Ðấng mà tiên tri Isaia đã gọi là Tôi tớ Ðau khổ của Giavê. Nhìn vào Ðức Giêsu, người ta phải tự hỏi tại sao một Thiên Chúa toàn năng toàn phép lại chọn lựa con đường khổ đau để cứu thoát nhân loại. Tại sao Ngài cũng đã sinh ra với tiếng khóc, trải qua kiếp sống với những thăng trầm, và cuối cùng chịu chết nhục nhằn tận cùng trên khổ giá, giữa bao khóc thương thảm thiết của những người thân quen? Càng nhìn vào câu hỏi tại sao một Thiên Chúa, một chủ tể của đất trời lại chọn con đường đau khổ người ta càng có thể khám phá thâm sâu chân lý và ý nghĩa của cuộc đời. Nhưng đây không phải là cuộc đời của bể khổ, song là của bể tình, một biển tình vời vợi. Càng nhìn vào những gì Ðức Kitô đã chịu, và qua ánh sáng Phúc Âm, con người càng hiểu ra nguyên do của khổ đau. Thế thì nguyên do của đau khổ là gì? Xin thưa chính là TỘI. Thuở tạo thiên lập địa con người đã hạnh phúc biết mấy. Mọi sự tốt đẹp biết bao. Kinh Thánh đã xác nhận: tất cả mọi sự Chúa dựng nên đều tốt đẹp--đẹp từ trăng sao trên trời đến muôn loài cây cỏ dưới đất, đẹp từ con người cho đến muông chim cầm thú, đẹp từ cuộc sống loài người cho đến cuộc sống loài vật. Ấy thế mà điều tươi đẹp đó đã bị tan nát. Tan nát vì tội. Thánh Phaolô đã viết, "Cũng như vì một người, mà sự tội đã nhập vào trần gian, và vì tội thì sự chết nữa; và như vậy sự chết lan tràn qua hết mọi người" (Rm 5:12). Nói cách khác tội đã kéo theo sự khổ đau và sự đau khổ tận cùng sẽ là sự chết. Vì tội mà đời mất đẹp. Vì tội mà đời mới là bể khổ đấy thôi! Thế nhưng, vì "là Ðấng trung tín và giàu lòng xót thương," Thiên Chúa không thể không cứu con người. Từ trong Xót-Thương mà Ðức Giêsu đã ra đời. Ngài đến bằng con đường đau khổ vì yêu, và rồi đã chết trong đau khổ để cứu con người. Một linh mục từng suy niệm rằng: "Ðời sống Chúa Giêsu là một đời sống đầy gian lao đau khổ. Cuộc sống ấy đi dần đến một cái chết ghê sợ nhất trên đời, nhưng Ngài chấp nhận, Ngài mong chờ, bởi vì không có máu đổ ra thì không có ơn cứu chuộc." "Không có máu đổ ra thì không có ơn cứu chuộc." Ðúng lắm! Thế nhưng nếu chỉ nhìn vào những đớn đau thể xác cùng trí lòng của Ðức Giêsu và nghĩ rằng đau khổ của một người đã làm nên ơn cứu độ cho muôn người thì cũng còn thiếu sót lắm. Bởi vì đọc kỹ Thánh kinh sẽ thấy trên đồi Golgotha có tới ba người chịu đau khổ chứ đâu phải một người. Cả hai tên trộm cướp nữa chứ đâu phải một mình Ðức Giêsu. Thế nhưng cả ba người cùng chịu đau khổ, cả ba người cùng chịu cái chết trần truồng nhục nhã, nhưng chỉ một người mang ơn cứu độ đến cho toàn nhân loại. Lý do là vì sự khổ đau của người đó đã được kết tinh trong tình yêu. Nói cách khác vì quá yêu thương nhân loại nên Thiên Chúa đã mang lên mình mọi tội lỗi con người, mọi căn nguyên đau khổ, để đóng đinh chúng vào thập giá; trước là giải thoát nhân loại khỏi sự thống trị của tội, sau là thánh hoá sự đau khổ, để rồi từ nay đau khổ có một chỗ đứng--một giá trị mới trong đời sống con người; giá trị đó chính là nếu đau khổ được ướp đượm trong tình yêu, thì nó sẽ trở thành ân phúc cứu độ. Ðã có không biết bao nhiêu các nhà hiền triết, văn hào thông thái bó tay trước vấn nạn đau khổ, và cũng đã có không biết bao nhiêu nhân vật lừng danh lẫn thấp hèn đã thất vọng, đầu hàng trước khổ đau. Nhưng chính nhờ Ðức Giêsu và qua ánh sáng của Lời Ngài mà ta không còn thất vọng. Ta thấy được rằng trong sự chết có mầm sự sống, trong gian lao có tia sáng của chiến thắng vinh quang, trong đau khổ có chồi non của hạnh phúc, nếu như sự chết, nỗi gian lao và đau khổ ta đang mang đó có nền tảng của tình yêu thương: yêu thương Ðức Kitô và yêu thương các linh hồn. Thế nên, mỗi khi gặp đau khổ, ta đừng thất vọng, buông trôi, cũng đừng chửi trời rủa đất, cũng đừng trách móc người khác hoặc chính mình, cũng đừng như Phêrô đã trách Chúa khi nghe nói đến khổ đau (Mc 8:32), song hãy đưa vào khổ đau một chút hương vị thương yêu, bằng việc thân thưa với Chúa: "Lạy Chúa, con xin kết hiệp đau khổ của con với khổ đau của Chúa, để làm sáng danh Chúa và cứu các linh hồn." Chắc chắn nỗi khổ đau sẽ không còn là một thực tại vô giá trị hoặc đáng nguyền rủa, song nó đã trở thành phần ơn cứu độ mà Chúa Giêsu muốn ban xuống cho nhân loại. Chúa Nhật XXV Thường Niên 24-09-2000 CHẤT NGƯỜI TRONG TÔI
"Ở đâu có ghen tương, tranh chấp, ở đó có hỗn độn và các thứ tệ đoan... Chinh chiến tự đâu? Ðấu tranh tự đâu? Nếu không phải là tại các đam mê dục tình hằng làm giặc nơi chi thể anh em đó sao? Anh em ham muốn mà không được, nên anh em giết nhau. Anh em ghen tương mà không được, nên anh em đấu tranh, chinh chiến và cải vã" (Gc 3:16-4:2). Lời chất vấn và khiển trách của Thánh Giacôbê tông đồ khiến tôi nghĩ đến một câu truyện thần thoại do một thầy dòng kể lại. Chuyện nói về một chàng thương gia nọ rất sùng đạo. Mặc dầu lo làm ăn vất vả nhưng dường như anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp phải thời kỳ có cạnh tranh trong công ăn việc làm, anh ta càng khẩn cầu tha thiết hơn. Ðộng lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên đâu đó hiện ra với anh và phán: "Thấy nhà ngươi cứ thành tâm cầu xin nên ta không nỡ làm ngơ. Bây giờ hãy cho ta biết ước muốn của ngươi. Ðiều gì ta cũng ban cho. Ðồng thời để tỏ cho thế nhân biết được lòng quảng đại của ta thì hễ thứ gì ta ban cho ngươi thì ta cũng sẽ ban cho tha nhân, đồng nghiệp của ngươi như thế và gấp đôi luôn." Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng sung sướng qua ưu tư lo buồn. Anh tự nhủ: "Nếu bây giờ mình xin cho được một chiếc xe Lexus thì mấy người bạn, chúng nó sẽ được hai chiếc. Ái dà, không được đâu! Nhưng nếu xin cho được trúng số một triệu thì mấy nhà xung quanh, họ sẽ được tới hai triệu mất. Thế thì không ổn!" Anh tiếp tục suy nghĩ: "Nếu mình xin cho có vợ đẹp con khôn, thì rồi đồng nghiệp của ta chúng sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn và giỏi gấp đôi con mình. Thế thì lại càng không ổn... Ðó là chưa nói tới chuyện chúng nó có tới hai vợ trong khi mình chỉ được có một. Trong thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ. Nhưng nếu xin theo kiểu này thì thật là thất sách vô cùng!" Chàng thương gia không biết phải xin cái gì. Sau một hồi lâu ưu tư đắn đó, anh ta chợt reo lên như vừa tìm thấy điều chi hay lắm. Anh thành kính quì xuống thưa với thần: "Lạy Ngài, xin cho con đui một con mắt." Không xin cho được khá giả may mắn vì sợ người khác sẽ được hơn, nhưng lại xin cho bị rủi ro thiệt hại một tí để kẻ khác bị khốn đốn bất hạnh nhiều hơn. Xin cho mình đui một con mắt để người khác bị mù cả hai. Ðây quả là quá tiểu nhân và quá dã tâm. Một tâm địa xấu xa nhỏ nhen! Thế nhưng nếu thành thật rà soát lại lòng mình thì không chừng cái chất tiểu nhân kia--những so sánh hơn thua, những đố kỵ ghen ghét--cũng đang ẩn nấp đâu đó trong hồn tôi. Ðể rồi nếu được thành công, may mắn, xinh đẹp... hơn người, thì nó sẽ nằm yên bất động. Còn nếu như kẻ khác trổi vượt, thì chất tiểu tâm và lòng dã nhân kia sẽ bùng lên với những gì là khó chịu và đắng cay. Thế rồi những xung khắc cay chua, những tổn thương tình người, những xúc phạm nhân phẩm cứ tù đó mà phát sinh và lan đi. Trong Thánh kinh không thiếu những câu chuyện như trên. Ví dụ trường hợp 12 môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Bỏ tất cả mọi sự đi theo Ngài, bất chấp nắng mưa, cực nhọc, túng thiếu. Ăn ở với nhau rất đề huề vui vẻ. Nhưng rồi một ngày kia, một người đàn bà xuất hiện, xin cho hai anh Gioan và Giacôbê được ngồi bên hữu, bên tả Ðức Giêsu sau khi Ngài khải hoàn vinh quang. Thế là sinh chuyện! Kinh Thánh nói rõ: mười môn đệ kia phẫn uất với hai anh em con nhà Zêbêđê. Không biết "chiến tranh nóng lạnh" giữa các tông đồ đi đến mức độ nào, chỉ biết rằng sau đó, Chúa Giêsu phải can thiệp và dạy cho các ông một bài học của khiêm nhường, quên mình, thí mạng để làm giá chuộc thay cho nhiều người. Một ví dụ khác là câu chuyện Người Con Hoang Ðàng: Một ông chủ có hai con trai. Ðứa em thì ăn chơi phung phí, phá tan sản nghiệp gia đình, làm bại hoại gia phong, giao du với quân đàng điếm. Người anh dường như chẳng care, không quan tâm. Nó đi bụi đời, sống chết mặc nó. Ðời mình cứ vậy mà êm trôi. Thế nhưng bất ngờ đứa em trở về và được đón tiếp linh đình. Tức thì anh ta chịu không nổi. Lòng ghen tuông gia tăng khiến anh cắt đứt luôn những quan hệ cha con anh em khi tuyên bố "thằng con của ông." Ông chứ không phải cha; "thằng con của ông" chứ không phải "đứa em của tôi." Tình người bị cắt đứt! Và khi tình người bị cắt đứt thì còn đâu chuyện thương cảm, lắng lo cho nhau khi gặp rủi ro, sa cơ, hay vui mừng chia sẻ với nhau khi gặp may mắn, hạnh phúc. Nhưng tại sao người ta lại thiếu tình người? Phải chăng vì họ đã không nhận ra tình Chúa--khi vô tình thì cũng dễ vô ơn và vô tâm? Phải chăng người ta không nhận ra chân lý trong Tin Mừngï của Ðức Kitô: chỉ là người hơn khi tự làm rốt hết và trở nên tôi tớ mọi người. Thật lạ kỳ! Thói thường nhân thế hay tìm đến với danh vị, lợi lộc, quyền uy, kết thân với chốn cao sang để mưu cầu ảnh hưởng. Phần Ðức Kitô, Ngài lại dạy người ta tìm đến với những ai hèn kém, nghèo khổ, đơn côi, những kẻ mà xét theo khách quan, chỉ biết đón nhận chứ không thể cho đi. Thế nhưng chính khi trao ban cho những người như thế lại là đang tiếp cận với Ðức Giêsu và đón nhận chính Ngài. Bởi lẽ "những gì các ngươi làm cho một trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các ngươi đang làm cho chính mình Ta" (Mt 25: 40). Càng chân thành trao ban cho các "anh em hèn mọn," tôi càng làm phong phú chất người trong tôi và tăng thêm sức sống cho đời. Giá trị và mức độ của chất người và sức sống đó lại không tuỳ thuộc vào chất lượng hay số lượng của vật được cho đi, song là tuỳ thuộc vào thái độ của việc trao ban. "Ðể vinh Danh Chúa hay hiển danh tôi?" "Ðể tỏ mình là người quảng đại hay để ‘anh em hèn mọn’ có được cơ may hạnh phúc?" là những câu hỏi mà tôi phải dùng để tự vấn thường xuyên. Trở nên đầy tớ mọi người, để mang hạnh phúc cho đời, vui trong niềm vui của người, xót cho nỗi đau của đời. Tập sống như thế là tôi đang trở thành môn đệ đích thật của Ðức Kitô. Chúa Nhật XXVI Thường Niên 01-10-2000 GƯƠNG SÁNG--GƯƠNG TỐI
"Kẻ nào nên cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin vào Thầy, thà nó bị buộc cối xay vào cổ mà xô xuống biển thì hơn" (Mc 9:42) Sách Macabê quyển thứ hai có kể lại việc vua Antiokia xứ Siria, sau khi chiếm được thành đô Giêrusalem, đã ra lệnh buộc tất cả mọi người Do thái phải bỏ tập tục tổ tiên và giới răn Thiên Chúa. Vua cấm không cho dân mừng ngày Sabat, không được cắt bì cho con, phải thờ thần Ðionysos của người Hy lạp, phải ăn của cúng và dùng thịt heo. Có người kia tên là Elêazar đã cao niên thuộc dòng tộc Do thái. Ông bị quân lính bắt phải há miệng ăn thịt heo. Nhưng ông thà chết vinh hơn sống nhục, nhất quyết cự tuyệt sắc chỉ của vua, một lòng tuân theo tục lệ tiền nhân và lệnh truyền Thiên Chúa. Biết rằng thái độ của Elêazar khó tránh khỏi bản án tử hình, bạn bè thân thiết của ông đã tìm cách khuyên nhủ Elêazar hãy giả đò làm theo lệnh vua. Họ sẽ dọn cho ông những thứ thịt luật lệ không cấm, rồi ông sẽ ăn như thể đang dùng những thứ thịt lấy từ tế đàn, và như thế ông sẽ thoát khỏi án chết. Nhưng Elêazar đã có một quyết định rất cao thượng, xứng với tuổi tác và uy thế của ông, xứng với mái tóc bạc trắng và đức hạnh sáng ngời mà ông đã có từ thuở bé, và hơn nữa, xứng với luật thánh mà Thiên Chúa đã thiết lập. Ông đã trả lời cho các bạn: "Ở vào tuổi tôi, giả đò giả bộ là chuyện chẳng nên. Vì như thế sẽ làm cho nhiều bạn thiếu niên nghĩ rằng lão già Elêazar đã 90 tuổi đầu mà còn ham sống sợ chết, qui hàng ngoại đạo. Và họ sẽ bị lầm lạc vì tôi, bởi tôi đã giả tảng giả lờ, bởi tôi tham chút đời tàn vắn vỏi, mà chuốc lấy cho tuổi già vết nhọ vết hoen. Cho dù lúc này tôi tránh được khổ hình do tay người phàm, tôi sẽ không thoát, dù sống hay chết, khỏi tay Ðấng Toàn Năng. Bởi thế, can đảm thí mạng sống mình, tôi sẽ tỏ ra xứng đáng với tuổi già của tôi, và để lại cho hạng thiếu niên, bức gương cao quí là chết cái chết hạnh phúc, tự nguyện và dũng cảm, hầu bênh đỡ các luật pháp khả kính và lành thánh" (2 M 6:24-28). Sau những lời đó, lập tức Elêazar bị điệu ra pháp trường. Khi sắp chết dưới trận đòn dã man, ông thều thào trong đau đớn: "Lạy Chúa, Chúa biết rõ là tôi có thể thoát chết, nhưng tôi vui sướng chịu đựng thế này vì lòng kính sợ Ngài"(2 M 6:30). Và như thế Elêazar đã ra đi. Nhưng qua cái chết, ông đã để lại cho các thiếu niên một gương sáng chói ngời. Ðời xưa và đời nay, không thiếu những người can đảm liều chết nhằm để lại cho giới trẻ mẫu gương của niềm tin và lòng tôn kính, nhưng cũng không thiếu kẻ vì tham sống sợ chết, vì đam mê trần tục, vì đầu hàng bản năng, đã gây ra không biết bao nhiêu gương mù gương xấu làm tan nát hình ảnh Thiên Chúa đượïc ghi khắc trong tâm hồn các thanh thiếu niên. Tội này nặng lắm! Chính Ðức Giêsu đã khuyến cáo: "Kẻ nào nên cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn đã tin vào Ta, thì thà nó bị buộc thớt cối xay vào cổ mà xô xuống biển còn hơn"(Mc 9:42). Có hai loại cối xay người Do thái thường dùng: 1- cối xay nhỏ, quay bằng tay, người phụ nữ sử dụng trong nhà và 2- cối xay lớn, với thớt đá rất nặng được kéo bằng sức lừa. Cối xay Ðức Giêsu nói đến chính là chiếc thớt đá do lừa kéo. Bị cột vào cổ với khối đá nặng này và ném xuống biển là hết hy vọng nổi lên. Thực tế đây chính là hình phạt xử tử mà người Rôma và Palestine đã thi hành trong thời hoàng đế Augustô. Tại sao Chúa Giêsu lại kết án nặng nề những kẻ gây nên gương xấu như vậy? Thưa vì tội gây gương xấu là "tội giết người." Giết chết thân xác của người khác đã là một tội ác khủng khiếp, giết chết linh hồn còn nặng nề khủng khiếp gấp bội. Gương xấu chính là những nhát dao đâm vào tâm hồn của những người yếu đuối. Nói đến gương tốt gương xấu tất phải nói đến gia đình và đời sống của các bậc phụ huynh. Ðức Cha Bùi Tuần đã từng nhận định: "Cha mẹ học cao, giỏi khoa tâm lý, nhưng không có đời sống gương mẫu thì không thể giáo dục con cái nên người chân chính. Trái lại, một bà mẹ nhà quê, ít học, nhưng hiền đức, lại rất có thể luyện con nên người đức hạnh." Thế mới hay gương sáng của phụ huynh cần thiết và quan trọng biết bao. Hãng tin quốc tế AFP có lần đưa tin một em bé ba tuổi thuộc tiểu bang Wisconcin đã cầm súng bắn chết bố ruột của mình. Khi cảnh sát hỏi cung, em cho biết là vì muốn bênh vực người mẹ. Sau các cuộc trắc nghiệm khoa học, tâm lý, và kiểm chứng, cảnh sát đã không còn nghi ngờ gì việc em bé ba tuổi đã bắn chết bố mình. Nguyên do gây ra thảm cảnh trên đây là vì cha mẹ em đã đánh nhau sau khi bất đồng ý kiến về việc chọn đĩa nhạc nào để cho vào máy hát. Vì một chuyện nhỏ nhặt mà sinh ra đấu khẩu, thượng chân hạ cẳng. Ôi, trong những gia đình như thế thì làm sao con cái có thể thành thân hay thành nhân được. Một xã hội được canh tân, một gia đình được hạnh phúc, một tâm hồn bé thơ được tăng trưởng còn tuỳ thuộc rất nhiều vào yếu tố canh tân nếp sống đạo đức của cha mẹ và các bậc phụ huynh. Chắc chắn với những cố gắng hy sinh "chặt tay," "cắt chân," "móc mắt,"—những tự chế xác thân và vươn mình hướng tới những giá trị cao cả mà Ðức Giêsu mời gọi—người Kitô hữu, không chỉ tránh khỏi án phạt hoả ngục đời sau, chẳng phải đối diện với "hoả ngục gia đình" đời này, nhưng còn được hưởng hoa trái yêu thương và hạnh phúc thiên đàng tại thế, mà Thiên Chúa hằng ban cho những ai luôn sống theo Lời Ngài.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |