VIỆT NAM GIÁO SỬ Lm Phan Phát Huồn, CSsR PHẦN THỨ TƯ NHỮNG NĂM KIẾN THIẾT CHƯƠNG BA MƯƠI Công cuộc truyền giáo tại Việt Nam từ 1888 đến 1933 V.- CẢN TRỞ TRONG CÔNG VIỆC TRUYỀN GIÁO (1888-1933)
1. Về phía chính phủ thực dân Pháp Những cố gắng tái lập nền quân chủ tại Pháp không thành công, chính sách bài giáo vẫn tiếp tục. Dưới thời tổng trưởng giáo dục Jules Ferry và Paul Bert, khởi sự một cuộc chiến chống Hội Thánh Công giáo. Các viện đại học Công giáo thiết lập sau năm 1775 không còn được quyền phát bằng cấp (1879) và hết là đại học. Các sắc lệnh tháng 3-1880 bãi bỏ các cơ sở giáo dục của dòng Tên, còn những dòng tu khác chưa đuợc chính quyền thừa nhận phải làm đơn xin điều chỉnh trong vòng 3 tháng: 261 tu viện bị giải tán (1). Nhiều đạo luật khác (1880-83) buộc hàng giáo sĩ phải thi hành nghĩa vụ quân sự, bãi bỏ chức tuyên úy trong các binh chủng và bệnh viện, hủy ngày nghỉ Chúa Nhật, và dành mọi sự dễ dãi cho việc ly hôn. Chính sách giáo dục "vô tôn giáo" miễn phí và cưỡng bách được áp dụng: Cấm dậy giáo lý trong các trường, loại bỏ các giáo sĩ, tu sĩ ra khỏi ngành giáo dục (1882-86). Tuy nhiên, ảnh hưởng của Hội Thánh hãy còn khá lớn trong đời sống của dân Pháp, vì nhiều hội đoàn vẫn tiêp tục hoạt động trong ngành giáo dục tư. Chính vì thế, kể từ đầu thế kỷ XX, nhiều biện pháp mới nhằm triệt hạ các dòng tu, nhất là những dòng chuyên giáo dục. Ðạo luật 1.7.1901 về các đoàn thể cấm các hội dòng không có giấy phép, rồi đến luật 7.7.1904 dòng tu hoạt động giáo dục. Trên 10.000 trường tư thục bị đóng cửa (1903-04). Tài sản của các Dòng bị tịch thâu, cả tỉ bạc của các dòng tu được phân tán trong tay những người có quyền và các kẻ thừa hành. Mục đích của "đảng cầm quyền" bấy giờ là tục hóa tất cả, nghĩa là loại bỏ Kitô giáo ra khỏi xã hội và quốc gia. Cuối thời Giáo hoàng Lêo XII mọi cuộc xung đột với Tòa Thánh về việc đề cử Giám Mục xảy ra. Năm 1904, tổng thống Pháp bất chấp lệnh của Tòa Thánh (từ năm 1870) sang thăm vua Italia, Ðức Giáo hoàng cảnh cáo ông, lập tức thủ tướng Emile Combes tuyên bố xé bỏ hiệp ước (1801) với Tòa Thánh, cắt đứt ngoại giao với Vatican (1904), tách biệt Giáo Hội và Nhà Nước (1905), thành lập Hiệp Hội Tôn Giáo để mọi tài sản của Giáo Hội phải trao cho tổ chức này quản trị dưới sự kiểm soát của chính quyền. Như vậy Giáo hội bị tước đoạt hết quyền hành và của cải (2). Chủ trương của Ðệ II Cộng Hòa của Pháp, chắc chắn là có ảnh hưởng đến các xứ thuộc địa dân Pháp. Tại đây các báo chí do Hội Tam Ðiểm giựt giây (3) bắt đầu chỉ trích các thừa sai xuyên tạc các hoạt động của Hội Thánh và vận động áp dụng những luật bài giáo bên chính quốc vào Ðông Dương như đạo luật 1.7.1901 về tài sản. Ðạo luật này không được hoàn toàn áp dụng tại thuộc địa nhưng trái lại luật 1903 nhằm tục hóa các cơ sở nhà nước được áp dụng gắt gao, do đó các Nữ tu Thánh Phaolô đã bị trục xuất ra khỏi các bệnh viện nhà nước và các điều dưỡng viên được thay vào đó. Các trường học công lập cũng thôi không được dùng các sư huynh Lasan trong việc giáo dục. Luật 1905 tách biệt Hội Thánh ra khỏi chính quyền, có ảnh hưởng đến các cha xứ, do luật này, nhà nước không được trả lương cho các cha xứ nữa. Ðức Giám Mục và cha chính xứ bị trục xuất ra khỏi Nhà thờ Chính tòa Saigon vì đây là một cơ sở nhà nước, nhà nước muốn dùng Ngôi Thánh Ðường làm bảo tàng viện nhưng các thừa sai đã thuê lại đúng lúc. Các luật bài tông 1901, 1904, 1905 chỉ được áp dụng phần nào thôi ở thuộc địa, vì nếu áp dụng toàn bộ thì quá thiệt thòi cho chính phủ về phần tài chánh. Báo cáo từ Bắc Kỳ cho biết các dòng tu xây dựng và điều hành các cơ sở giáo dục, y tế của họ ít tốn kém hơn chính quyền thực dân Pháp đến 10 lần. Cũng tại Bắc Kỳ và Nam Kỳ người ta nhận thấy rằng hậu quả của việc mua đứt hoặc thay thế các dòng tu trong các lãnh vực này có thể rất tai hại cho ngân sách của địa phương ấy (4).
2. Về phía nhân dân Việt Nam Ðầu năm 1931, Ðức Ông Hedde gửi thư về Pháp cho biết công việc truyền giáo trong giáo phận kể là khả quan. Nhưng tình hình chính trị tại Bắc Kỳ có phần đáng lo ngại, vì dân chúng càng ngày càng ác cảm đối với người Pháp. Lý do là vì dân chúng cảm thấy mình bị khai thác bởi công quyền. Người ta cứ nghiễm nhiên tăng sưu thuế mà người bản xứ phải đóng góp nhiều hơn cả. Người ta thường bảo dân đã bị quan lại khai thác. Ðúng như vậy, nhưng các quan ngày trước không đông bằng công chức lúc này, mà dù sao thời trước thuế mà vẫn nhẹ hơn. Chính phủ công bố là có cộng sản đứng giật dây. Thật ra có mấy người theo khuynh hướng cộng sản, có ít lãnh tụ được Maskôva yểm trợ, nhưng đó là số rất ít, và họ không gây dược ảnh hưởng gì trên dân chúng miền quê. Tại miền Thượng Du nơi mà các cha dòng Ðaminh đang ở, mọi sự còn yên ổn vì chưa nghe đến tuyên truyền cách mạng nhưng rồi thế nào cũng có ảnh hưởng tới đây. Các nhà cầm quyền bắt đầu lo ngại, và đã thú nhận là tình hình rất là bấp bênh. Người ta cứ đổ thừa cho cộng sản và thẳng tay đàn áp những người ra mặt chống đối. Nhưng thật ra họ không phải là cộng sản, đây là nhóm trí thức trẻ được thấm nhuần tinh thần ái quốc trong các trường học. Họ phản kháng vì bị bắt bớ mỗi khi muốn hé lộ tinh thần ái quốc ra. Nhận thấy mình yếu thế, họ đã nghiêng theo cộng sản. Thật là một điều lầm lẫn khi nói rằng cộng sản lén lút dưới bộ mặt ái quốc. Ðây là phong trào quốc gia, trong đó những người lãnh đạo được cộng sản viện trợ và những người này đã dùng những phương pháp của cộng sản. Bởi vậy đa số dân chúng theo thâm tâm vẫn có cảm tình với những người ấy, mặc dù bề ngoài người ta vẫn trách móc họ. Người ta oán trách chính phủ Bảo hộ đang ngang nhiên tăng thuế để có tiền trả lương cho công chức Âu châu, trong khi đó thì người bản xứ đã có đủ khả năng để lo việc hành chánh rồi (5). Sự thật là như vậy, và cần phải có cải cách về đường lối cai trị, nếu nuốn vãn hồi trật tự trong nước. Nhưng chính phủ thấy khó xử, vì đa số các kiều dân Âu châu đều là công chức. Có rất ít người chịu chuyên chú về canh tác, về kỹ nghệ hay về thương mại. Bởi vậy nếu chính phủ đả động đến quyền lợi của công chức thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn (6). Giữa tình hình rối ren năm 1931, Ðức Ông Hedde miêu tả tình hình đen tối miền Trung như sau: "Tôi đi giảng phòng cho các cha Thừa sai giáo phận Vinh. Ðây là một dịp tốt để tôi quan sát miền này, đang bị điêu đứng. Cộng sản hoạt động rất mạnh tại đây và gây nhiều mối lo ngại. Chính tôi đã được nghe những tin thê thảm người ta vẫn giấu dân chúng. Miền này đã mất mùa ba năm liền và dân chúng rất khổ sở. Thế mà chính phủ cứ đòi thu thuế như thường lệ. Các quan An Nam đối xử với dân chúng tàn nhẫn hết chỗ nói. Dân chúng phải bán trâu bò, ruộng đất hoặc đem con đi ở đợ để có tiền nộp thuế. Dân chúng phẫn uất đến tột độ, cộng sản đến đúng lúc để xách động dân gian chống lại chính phủ. Ðây là đầu giây mối nhợ của cuộc nổi dậy. Nhà cầm quyền đã trừng phạt một cách tàn nhẫn. Họ đem mấy ngàn người ra bắn. Hàng ngàn người khác chết vì đói khát hay vì quá buồn bực. Bây giờ tình hình đã tạm yên, nhưng xứ sở còn bị điêu đứng về lâu về dài và nếu không thận trọng thì dịp thu thuế lần sau sẽ có nổi dậy nữa. Phong trào nổi dậy sâu rộng đến nỗi chính phủ không tài nào dẹp yên được nếu giáo dân hợp tác vào đấy. May phúc là giáo dân không hùa theo vì họ được tuyên truyền phong trào do cộng sản điều khiển (7), và vì họ đông đúc trong miền nên họ đã ngăn chặn để phong trào nổi dậy khỏi bành trướng và phá đổ tất cả. Ai cũng biết điều ấy, thế mà chính phủ cứ ngơ đi, vì sợ nói ra sẽ mắc nợ với các thừa sai, tôi sợ rằng một ngày kia các người ngoại giáo sẽ báo thù giáo dân và làm hại đạo. Tôi rất ngạc nhiên nhưng lại sung sướng khi nghe biết các biến cố tang thương trên đã khai mào cho một cuộc trở lại đạo công giáo như chưa từng thấy. Chính phe lương dân cũng đã công nhận là giáo dân khôn ngoan không gia nhập phong trào, vì họ được các cha Thừa sai hướng dẫn. Và để khỏi bị cộng sản hành hung, giáo dân đã đến ẩn náu dưới bóng các cha. Giáo dân quá cảm động khi thấy các cha tỏ lòng bác ái, và hết sức giúp đỡ họ trong cơn cùng túng. Ðức cha Eloy, Giám Mục Vinh nói với tôi: Nếu tôi có nhiều nhân sự hơn để dạy giáo lý cho tất cả những người muốn tình nguyện theo đạo, và nếu tôi có hơn chút tiền nữa để giúp đỡ họ thì năm nay tôi sẽ có hàng vạn người theo lớp tân tòng". (8) Chú Thích: 1. Về sau cộng sản trên thế giới cũng như ở Việt Nam dùng biện pháp thiếu giáo dục này. 2. Thomas P. Neil: "History of the Catholic Church", p.546. "Between 1901 and 1905 (French Government) it enacted a series of anticlerical laws 432/24 known as Lois laiques, to drive the church out of French political, social and intellectuel life. An association Act of 1901 provided that any religious order wishing to continue work in France must obtain specific authorization from the government and submit to periodical inspection. All remaining Catholic institutions were thus placed under arbitrary government control. A law of 1904 provided that within ten years no member of a religious association could teach in any French school public or private. Thus the religious were driven out of education. The Separation Act of 1905 was a unilateral abrogation by the French government of the Concordat of 1801. The state support of all priests and bishops was terminated, so that the church deprived of its properties, had to rely on the generosity of its faithful. Title to all Church property was vested in the state and the laws provided for associations of laymen to administer minister the property. The purpose of this legislation was obviously to...destroy the Church as a living force in the country... Itseemed in 1905 that it only would be a matter of time and the Church would appear..." 3. Người hăng say đả kích và xuyên tạc các hành động của Giáo Hội là Camille Parsi, thường năng viết trong các tờ Le Mekong. Ðoạn này viết theo Bùi đức Sinh: Giáo hội Công Giáo ở Việtnam III 2 từ trg. 666 (Roneo). 4. Bùi Ðức Sinh: Op. cit. trg. 678. (roneo) 5. Số công chức bên Pháp bị nghỉ việc được đem qua làm hành chính tại VN, một văn phòng chỉ cần có 2 người, họ dùng đến 4, người dân phải nai lưng đóng thuế để trả lương cho hạng người này. 6. Thư ngày 27.7.1931 của Ðức ông Hedde. 7. Vì theo họ đây là cuộc nổi dậy do Cộng sản dựt giây. Ngày 12.9.1930 có 20.000 người nổi dậy tại các huyện Nam Ðàn và Thanh Chương tại Nghệ An, họ đã lập ra Sô Viết Nghệ Tĩnh thay thế các cơ quan chính phủ để điều hành trong ba tháng những vùng mà họ đã chiếm được. - Lê Thành Khôi: Le Vietnam trg. 445. 8. Thư ngày 31.1.1932. (còn tiếp) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |