Home | Nguyet San | Phat Thanh | Nha Sach | Dong Chua Cuu The Một
Chuyến Ði Thăm (Kỳ 1) Fr.X.. Ðặng Phước Hoà, C.Ss.R. Trong lúc Cha Hoà dùng Anh ngữ hỏi chuyện người tài xế, tôi để mắt quan sát những người bản xứ và quang cảnh hai bên đại lộ Confederation de la Russie ("Liên bang Nga") dẫn vào thành phố Phnom Penh. Nếu không có những ngôi chùa to lớn, lộng lẫy được xây dựng theo lối kiến trúc đặïc biệt của dân tộc Miên và thỉnh thoảng có người vận chiếc sarong đi ung dung đây đó, tôi cứ tưởng tôi đang ở trong lòng quê hương nghèo khổ của tôi. Bụi đường bám dầy trên những ngôi nhà mái tôn vách ván. Hàng cây phượng vĩ xanh thắm còn điểm đôi ba cánh hoa đỏ rực như muốn níu kéo mùa hạ đang tàn dần theo thời gian. Các loại xe hai bánh trong lòng đại lộ hai chiều chen nhau vượt lên làm cho chiếc taxi Toyota đời 86 của chúng tôi ngại ngùng nhường bước. Vài chiếc xe đạp khiêm nhường nép sát vào lề đường thong thả lăn bánh. Gần vào thủ đô Phnom Penh, tôi mới thấy những ngôi nhà cũ kỹ - nhà trệt có, nhà lầu có - loang lỗ rêu xanh nối dài dọc theo đại lộ. Tuyệt nhiên không thấy một kiểu nhà tân thời nào ở đây. Có lẽ từ khi chế độ Cộng Hoà của Thủ tướng Lon Nol sụp đổ trong mùa xuân 1975, thủ đô Chùa Tháp không còn được trang điểm bằng những cơ sở có chiều kích kinh tế và văn hóa nữa. Khu Ðại học Nam Vang (University of Phnom Penh) rộng lớn đầy cây cỏ mọc bừa bãi tọa lạc tại ngã ba của hai đại lộ Confederation de la Russie và Kampuchia Krom ("Kampuchia Hạ") cũng vẫn là vết tích của chế độ trước năm 1975. Thành phố này như còn lạc lõng giữa trào lưu văn minh tân tiến của nhân loại đang hãnh diện bước vào thiên niên kỷ thứ ba. "Hoà ơi!" - tiếng Cha Hoà làm tôi rời mắt khỏi đoạn đường không đèn giao thông chằng chịt xe hai bánh và xe du lịch tự do chạy theo lương tâm của mỗi tài xế - "Anh tài xế này đề nghị chúng ta đến khách sạn Paris mới xây thay vì khách sạn Li Lay. Giá phòng như nhau, 15 Mỹ kim một ngày. Muốn không?" "Mình cũng nên đến cho biết rồi quyết định sau", tôi đáp lại. Khách sạn Paris gồm 8 tầng lầu, mỗi lầu 15 phòng ngủ với đầy đủ tiện nghi và một nhà hàng bên cạnh tầng trệt trang trí theo lối Tây phương. Tại đây, chúng tôi được Chúa quan phòng cho gặp một chi thu ngân người Hoa biết nói tiếng Việt. Cám ơn Chúa và mừng hết lớn! Trong lúc làm giấy tờ nhận phòng (có hai giường ngủ riêng biệt), Cha Hoà dò hỏi về cộng đoàn Việt Nam và nhà thờ Công Giáo. Rõ ràng chị ta rất xa lạ với những từ ngữø Công Giáo như linh mục, nhà thờ, đi lễ. Cha Hoà được Chúa Thánh Thần soi dẫn đã vận dụng hết các kiểu khôn ngoan để giải thích cho chị ta hiểu mình đang muốn nói gì. Lại nhờ ơn Chúa giúp đỡ, chị ta đã nhớ đến ngôi nhà thờ ở Russey Keo và chỉ cho anh tài xế đưa chúng tôi đến đó. Chỉ kịp đưa hành lý vào phòng và rửa mặt cho tỉnh táo là chúng tôi theo taxi đến nơi phải đến. Xe đi vào cổng có tấm bảng tôn khá lớn ghi Catholic Church bằng Miên và Anh Ngữ và trên cột xi măng có tấm bảng nhỏ mang hai hàng chữ Miên - Pháp L’Eglise Catholique. Hai dấu hiệu làm ấm lòng chiến sĩ. Ta về nhà Thiên Chúa của ta. Xuống xe mà lòng không khỏi thắc mắc: Nhà thờ sao giống như biệt thự của thực dân Pháp ở quê hương ta thế? Hai dãy nhà cao 3 tầng đầy cửa sổ được chia đôi bằng cầu thang xoáy trôn ốc. Chẳng có một ánh đèn nào sáng hắt ra ngoài cửa sổ khi hoàng hôn đã xuống! Yên ắng mọi bề. Giáo hội hầm trú? Tôi chợt nghĩ như thế. Nhìn quanh quẩn dăm ba phút, hai anh em chúng tôi chủ động đi tới cánh cửa khép hờ của dãy nhà ngang. Bên trong gần một trăm người Pháp đang cử hành Thánh Lễ với ngôn ngữ của họ. Ðúng là Giáo Hội hầm trú! Cả một gian phòng lớn không có chút ánh đèn ngoại trừ gian cung thánh mờ ảo trong ánh đèn néon. Ðứng một lúc, chúng tôi đồng ý bước ra đi kiếm tin tức. Chúng tôi theo tiếng hát đi lên lầu hai. Lại một gian phòng rộng rãi khác làm nơi thờ phượng, có nhà tạm và tượng chuộc tội trên gian cung thánh. Gian phòng vắng người và không có ghế ngồi. Gần cung thánh có ca đoàn đang tập hát. Tôi sung sướng quỳ thờ lạy Chúa Thánh Thể và tin rằng sự hiện diện của Ngài là mối hy vọng sẽ thỏa lấp cho những gì chúng tôi đang nong nả tìm kiếm. Có tiếng Cha Hoà đang nói chuyện ngoài hành lang. Tôi thập thò nửa muốn đến ca đoàn hỏi chuyện, nửa muốn quay trở ra với Cha Hoà. Có một phụ nữ đi về hướng tôi đứng. Tôi thầm thĩ xin Chúa đừng để người ấy nghi tôi là kẻ gian rồi đuổi tôi ra là hỏng chuyện. Khi hai bên đã giáp mặt nhau, tôi vội vàng tự giới thiệu và xin muốn gặp Cha Xứ bằng Anh Ngữ. Trời đất, chị ta trả lời bằng tiếng Miên mới khổ chứ! Một người đàn ông từ ngoài hành lang đi vào xổ một tràng tiếng Miên với người phụ nữ này rồi cả hai cùng đi ra ngoài. Tôi chẳng biết làm gì hơn cũng đi theo ra. Lúc này, tôi mới biết ông ấy là người Việt và người phụ nữ ấy là nữ tu Sina, cũng người Việt thuộc Dòng Chúa Quan Phòng. Nữ tu Sina mời hai chúng tôi xuống lầu gặp Cha Werachai, người Thái Lan, đang giúp cho cộng đoàn Công Giáo Miên tại đây. Sau cái bắt tay và giới thiệu, Cha Hoà vào văn phòng nói chuyện với Cha Werachai, còn tôi lân la đến làm quen với hai cô gái người Miên gốc Việt. Qua Cha Werachai, họ biết tôi là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam từ Hoa kỳ sang. Hai cô còn nói được tiếng Việt khá rành rọt dù sinh trưởng tại thủ đô Phnom Penh. Cô A Rì (tên Việt là Ðiệp) có cha người Miên, mẹ người Việt đang nấu ăn tại Toà Giám Mục, đã nghỉ học sau năm lớp 10 và làm thư ký cho một hãng nọ với số lương gần 100 Mỹ kim một tháng. Cô kia tên A Thì (tên Việt là Tuyền), cha mẹ là người Việt đã ở đây lâu năm. Cô ta phải nghỉ học sau năm lớp 10 để phụ với mẹ buôn bán tại Chợ Cũ (Kandal Market). Cả hai cùng tham gia ca đoàn và hát lễ chiều Chúa Nhật lúc 4 giờ. Tôi ngỏ ý xin một tập thánh ca để sau này có việc dùng. Hai cô vui lòng cho như món quà kỷ niệm ngày gặp mặt. Cũng qua hai cô này, tôi biết tên gọi của nhà thờ này là nhà thờ Chợ Nhỏ. Sau đó, chúng tôi kiếu từ ra về với ý tốt của Cha Werachai quá lòng mong đợi của chúng tôi: Ngài mời Cha Hoà cùng đồng tế Thánh Lễ sáng Chúa nhật lúc 8 giờ tại Họ Ðạo Svay Pak, cách Phnom Penh 11 cây số. Trên đường về lại khách sạn, Cha Hoà và tôi chỉ cho nhau vài bảng hiệu có ghi các món ăn bằng tiếng Việt: phở, cháo lòng và các món nhậu. Hơn nữa, trong bữa ăn tối tại nhà hàng Le Soir de Phnom Penh trên đại lộ Preah Monivong kết thúc ngày đầu tiên ở Phnom Penh, chúng lại gặp một người Hoa biết nói tiếng Việt. Từ giờ trở đi, nỗi lo lạc lõng giữa người bản xứ và trở ngại ngôn ngữ dần dần tan biến trong lòng chúng tôi. Người ta nói người Việt ở Phnom Penh đông lắm! Có lẽ đúng. Tạ ơn Chúa vì bước đường chúng con đang đi có bàn tay Chúa hướng dẫn. Ngày 6 tháng 8 Ðúng 7 giờ sáng Chúa Nhật chúng tôi có hẹn với anh tài xế taxi hôm qua dưới phòng đợi của khách sạn. Anh ta đưa chúng tôi tới nhà thờ Chợ Nhỏ, tại đây Cha Werachai đưa chúng tôi đến Họ Ðạo Svay Pak. Tuy khoảng cách chỉ có 11 cây số, nhưng chúng tôi phải mất gần 30 phút mới tới nơi. Nhờ nữ tu Sina cho tin tức, đã có một số người đứng đón chúng tôi trước nhà thờ. Theo phong tục địa phương, chúng tôi chắp tay trước ngực và cúi nhẹ đầu chào lại bà con giáo dân. Trong khi Cha Hoà đứng nói chuyện với một số người trong Ban Hành Giáo, tôi mạnh dạn tới chào bà con giáo dân. Vài câu hỏi xã giao qua lại. Tôi cố gắng khơi chuyện, cười đùa với mọi người để xóa tan bầu khí xa lạ, ngại ngùng của lần gặp gỡ đầu tiên. Ai cũng chân thành, mộc mạc. Một điều thưa Thầy, hai điều thưa Thầy. Họ hỏi tôi về đời sống bên Hoa Kỳ, ngược lại tôi tìm hiểu nơi họ về đời sống dân Việt trên đất Miên. Trong Nhà thờ, Cha Hoà đã ngồi vào tòa Giải tội, hối nhân xếp một hàng thật dài để lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa; ca đoàn bắt đầu ôn lại những bài thánh ca tiếng Miên. Còn vài phút nữa Thánh Lễ bắt đầu, nữ tu Sina tập cho cộng đoàn vài bài thánh ca. Bà con giáo dân, nhất là các em thiếu nhi hăng hái hát lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa. Tôi nhớ lại mỗi Thánh Lễ Chúa Nhật tại Nhà Dòng của mình ở Houston, mọi giáo dân nhiệt tình hát theo những bài thánh ca các Thầy tập cho trước Thánh Lễ. Có thế Thánh Lễ sốt sắng hơn. Một điểm rất đặc biệt tôi ghi nhận là vị chủ tế và giáo dân ngồi dâng lễ từ đầu chí cuối. Khi công bố Phúc Âm, chỉ có linh mục chủ tế đứng mà thôi. Ðược phép Cha Werachai, Cha Hoà chia sẻ Lời Chúa bằng tiếng Việt. Muốn hoà đồng với bà con giáo dân, Ngài uốn theo giọng miền Nam giảng một bài thật hay và cảm động. Ngài ca ngợi đức tin của bà con và mời gọi bà con tiếp tục sống đạo theo gương các Thánh Tử Ðạo Việt Nam giữa những thiếu thốn tinh thần lẫn vật chất. Sau Thánh Lễ, một bà cụ đến chào tôi và khen Cha Hoà nói tiếng "Miền Trung" dễ nghe quá! Các lớp giáo lý phải dời lại chừng một tiếng đồng hồ vì có nhiều người thăm hỏi chúng tôi. Lúc này cũng là lúc kiến bò bụng mạnh rồi vì giờ đã trưa và vì chúng tôi rời khách sạn sớm cho kịp lễ nên không ăn sáng. Trong khi chờ đợi bữa cơm trưa do các bà khoản đãi tại nhà thờ, Bác Tư Nhiều, Trưởng Ban Hành Giáo, ngỏ ý mời chúng tôi về thăm nhà, uống nước, nghỉ ngơi. Cả ba vừa đi vừa trò chuyện giữa nắng hè chói chan nhưng không hầm nóng như Houston. Theo lời Bác Tư Nhiều, tôi để mắt nhìn vào những căn "nhà thổ" dọc đoạn đường 100 thước từ nhà thờ đến nhà Bác. Khi ra về, tôi còn thấy nhiều căn nhà như vậy từ trong xóm ra tới quốc lộ 4, nối từ Phnnom Penh tới Battambang. Những cô gái này tuổi từ 13 - 18 đến từ các tỉnh miền Tây Việt Nam. Tất cả đều do hoàn cảnh đẩy đưa vào nghề này. Một vài hoàn cảnh điển hình các Bác, các Dì kể cho nghe: Cha Mẹ nợ nần quá trả không nổi, nên bán con cho chủ nợ, hoặc giao con cho họ khi nào trả xong nợ thì về. Có cô bé phải hành nghề trả nợ cho cha mẹ. Nợ vừa xong, con sắp về nhà, cha mẹ lại tới xin chủ nợ cho mượn thêm. Tôi ngồi nghe mà xót xa cho tuổi thơ Việt Nam. Còn dân trong xóm sống còn nhờ mở quán bán nước giải khát cho khách làng chơi. Thật vậy, trong xóm này, không là quán bán nước thì là nhà chứa, chẳng có nhà nào làm nghề gì khác. Tôi trộm nghĩ dân trong xóm phải sống nhờ các cô gái giang hồ. Không còn gái giang hồ, kinh tế trong xóm sẽ xuống dốc. Dịch vụ "xác thịt" trở thành mối lợi cho mọi người ngoại trừ các cô bé còn trong lứa tuổi biết buồn kia. Qua đây mới thấy tận mắt những nỗi nhục nhằn của dân Việt tha hương vì miếng cơm manh áo mà bất chấp mọi sự. Họ còn cho biết có nhiều cô gái trẻ từ Việt Nam sang vào làm đấm bóp trong các khách sạn, hộp đêm ở Phnom Penh. Vì ở giữa xóm như vậy, Họ Ðạo nhận Thánh Maria Mađalêna làm quan Thầy để xin ngài cầu bầu cho các Cha Mẹ, chủ chứa, và các cô gái công giáo giáo lẫn lương giáo hồi tâm trở lại với đời sống hoàn thiện. Ðứng trong nhà thờ để chờ bữa trưa, tôi buồn chân lại đi quan sát ba lớp giáo lý Vỡ Lòng, Rửa tội và Rước Lễ lần đầu: một ở trước cửa nhà thờ, một ở nơi cánh trái của gian cung thánh và một trong ngôi nhà có hai căn lớp cùng chung một vách với nhà thờ bên cánh phải. Trong căn lớp thứ hai có một lớp học tiếng Miên ở do cô giáo người Miên gốc Việt dạy. Ngoài lớp giáo lý Vỡ Lòng và lớp học tiếng Miên, hai lớp giáo lý kia qui tụ toàn các em trong tuổi thanh niên. Hỏi lý do vì sao lớn bằng tuổi này vẫn chưa Rửa tội hay Rước Lễ. Xin thưa rằng do hoàn cảnh chiến tranh, đi xa làm ăn nên gia đình chỉ có đọc kinh để giữ đức tin chứ không có linh mục lo cho lãnh các bí tích. Sau bữa cơm mặn mà hương vị Việt Nam, chúng tôi từ biệt bà con để trở lại Họ Ðạo Chợ Nhỏ cho kịp Thánh Lễ 4 giờ chiều do Cha Werachai mời. Tuy được gọi là Họ Ðạo của người Miên nhưng có đến 80 phần trăm là dân gốc Việt vẫn còn giữ được tiếng nói quê hương. Thánh Lễ do một Cha người Pháp, dòng Tên, chủ tế. Ngài quên không giới thiệu Cha Hoà với bà con giáo dân cho nên chỉ có một nhóm nhỏ dọn dẹp nhà thờ sau Thánh Lễ mới biết Cha Hoà là người Việt từ Hoa Kỳ sang. Lại mất một thời gian nữa để chuyện trò với nhau. Bà con tuy xa quê hương đã lâu nhưng vẫn còn giữ được tâm hồn mộc mạc, chất phác, thân thiện của người miền Nam. Chào tạm biệt bà con để trở về khách sạn lúc bóng đêm đã phủ đầy. Một ngày của Chúa đã trôi qua trong bình an, chúng tôi cùng dâng kinh đêm tạ ơn Chúa vô vàn đã cho chúng tôi hơn những gì chúng tôi mong đợi. Cứ tưởng phải vất vả lắm mới gặp được bà con Công Giáo Việt Nam, ai ngờ lại dễ dàng thế này. Khi đến Họ Ðạo Maria Mađalena ở Svay Pak, chúng tôi sung sướng thấy linh ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp được bà con tôn kính ở đây. Chúng tôi cảm thấy như là về nhà Mẹ mình. Lòng tôi thổn thức: Mẹ ở đây chờ con đã lâu mà giờ này con mới đến. Xin Mẹ tha thứ! Tuy muộn màng nhưng vẫn hơn là không đến, phải không Mẹ! Xin dâng cuộc hành trình này như là cuộc hành hương gieo cảm thông và củng cố đức tin cho đoàn con Việt lạc loài bị bỏ rơi của Chúa và Mẹ giữa Năm Thánh ngút ngàn Hồng Ân này. Cám ơn Mẹ đã đi trước dọn đường cho chúng con. Mẹ ơi, chính họ là ơn gọi của con. Xin cho chúng con là những sĩ tử Cứu Thế được cùng với Mẹ ở giữa những người Việt bị bỏ rơi tại Kampuchia, chẳng một ai hay biết đến. Ngày 7 tháng 8 Bài Tin Mừng của Thánh Lễ sáng thứ Hai hôm nay cho anh em chúng tôi một sứ điệp truyền giáo thật cụ thể: "Các con hãy cho họ ăn đi" (Mt 14:13-21). Chúng tôi tin rằng đây là một lệnh truyền của Chúa Cứu Thế dành cho chúng tôi trong cuộc hành trình này và cho sứ vụ thừa sai mai sau. Rõ ràng Người đã thấy rõ cảnh khốn cùng của đoàn con Việt bơ vơ không có người chăn và động lòng thương trước lời van xin tha thiết của họ. Chúng tôi đã được Chúa Chiên Lành đưa bước đến đây để thấy tận mắt cuộc sống thiếu thốn mọi bề và nghe tận lời thống thiết của người Công Giáo Việt Nam tại Kampuchia. Người mời gọi chúng tôi hãy chăm sóc cho họ nhưng cũng như các tông Ðồ, chúng tôi sẽ gãi đầu ấp úng trình bày về mọi thiếu thốn mà chúng tôi đang phải đối đầu. Người thừa biết chúng tôi sẽ nói gì và Người cũng biết rõ Người phải làm gì cho đàn chiên không người chăn. Bây giờ Người chỉ mong chúng tôi sẵn lòng tiếp nối cánh tay của Người để phân phát cho người ta. Lòng chúng tôi phấn khởi trước lệnh truyền của Thầy Chí Thánh. Vì thế, như đã bàn với nhau trong bữa cơm tối hôm qua, sáng nay Cha Hoà sẽ gọi điện thoại xin gặp Ðức Cha Ramousse, MEP (Dòng Thừa sai Paris), của Ðịa phận Phnom Penh để nắm thêm tình hình sinh hoạt tôn giáo địa phương và dò ý Ngài về sự hiện diện của Dòng Chúa Cứu Thế trong địa phận của Ngài. Nhưng Ngài đã về Pháp nghỉ hè. Vì thế, thay vào đó chúng tôi sẽ gặp Ðức Giám Mục Phó Émile Destombes, MEP. Bằng xe môtô đúp (xe Honda ôm) chúng tôi có mặt ở Toà Giám Mục trên đường Preah Monivong đúng 2 giờ chiều. Ðó là ngôi nhà dân sự nay biến thành Tòa Giám Mục. Không một bảng hiệu bên ngoài và đóng cửa cài then rất kỹ. Chúng tôi cảm thấy có cái gì không ổn trước "sự khiêm nhường và âm thầm" của Tòa Giám Mục Phnom Penh. Sau sự sụp đổ của chính quyền Lon Nol năm 1975, tất cả mọi tài sản của giáo hội địa phương đều nằm trong tay chính quyền cộng sản Pol Pot. Mọi nhà thờ, trường học Công Giáo, tu viện đều bị đập nát, Tòa Giám Mục biến thành cơ quan nhà nước. Chính chủng viện của địa phận, nay là nhà thờ Chợ Nhỏ như đã được đề cập trên kia, Ðức Cha Ramousse phải điều đình với chính quyền để mua lại. Khuông đất vuông vức của chủng viện trước kia đã bị chính quyền Pon Pot cắt xén bán cho tư nhân nhiều phần, nhất là phần đất mặt tiền của chủng viện. Nhà thờ Russey Keo đã thành bình địa nay là chỗ trú thân cho mọi người từ khắp nơi chạy về sau cuộc chiến Việt Nam - Kampuchia. Mạnh ai nấy chiếm đất cất nhà. Khu đất thánh cũng bị san bằng cho dân lên nhà ở. Ngôi nhà thờ Hoà Lan rộn rịp khi xưa, nay không còn viên đá nào nằm trên viên đá nào, ngoại trừ hang đá Ðức Mẹ vẫn được người Việt - Miên, Công Giáo lẫn Phật Giáo tôn kính. Có nhiều chuyện kể chứng minh Mẹ vẫn còn hiện diện giữa xứ Chùa Tháp với đoàn con lưu lạc. Những tích truyện này làm tôi nhớ đến Mẹ La Vang với đoàn con tất tưởi bơ vơ 200 trăm trước ở quê hương tôi. Bây giờ người ta xây đài phát thanh thay vào đó rồi. Trường học do các nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng Việt Nam điều khiển cũng đã đi vào dĩ vãng. Cha Hoà dùng Pháp ngữ nói chuyện với Ðức Cha Émile. Qua đó chúng tôi biết có khoảng 20.000 người Công Giáo tại Kampuchia, riêng người Công Giáo Việt Nam khoảng 15.000. Từ 10 năm nay, Hội Ðồng Giám Mục Kampuchia (gồm 2 người Pháp, một Ấn Ðộ đều thuộc Hội Truyền Giáo Ba Lê, và một Tây Ban Nha thuộc Dòng Tên) đồng ý dùng tiếng bản xứ trong mọi sinh hoạt tôn giáo như Thánh Lễ, Bí Tích, giáo lý, v.v. để dễ truyền giáo cho người Miên. Các Ngài cũng ghi nhận vẫn còn có cái gì gây cấn trong lịch sử xưa và nay của hai quốc gia Việt - Miên cho nên phải làm mọi cách để thay đổi nếp nghĩ của người Miên là Ðạo công giáo là Ðạo của người Việt Nam. Khi Cha Hoà đề cập đến chuyện đưa các sĩ tử Phụ tỉnh Hải Ngoại sang đây hoạt động mục vụ thì thấy Ngài chẳng sốt sắng gì cả. Khi ra về, chúng tôi hơi nản lòng vì Ðấng đại diện của Chúa đã chẳng mở đường mà lại dập tắt mọi nao nức của những người muốn được sai đi. Trước khi trở lại khách sạn, chúng tôi ghé qua hiệu sách, cũng trên con đường Preah Monivong, mua vài cuốn sách học Miên ngữ và bản đồ nước Kampuchia và thành phố Phnom Penh. Tuy mang tên là International Bookstore nhưng diện tích và văn hóa phẩm trong hiệu sách rất khiêm nhường. Thế là xong một ngày thứ ba tại đất Chùa Tháp với những náo nức và chùng lòng. Xin dâng lên Chúa tất cả. Ngày 8 tháng 8 Qua bài Tin Mừng của Thánh Lễ sáng thứ Ba hôm nay, Thầy Chí Thánh đã khéo trấn an chúng tôi. Sự bạo dạn của Phêrô khi xin Chúa cho đi trên biển để đến cùng Người là bài học thâm thúy của Người dành cho chúng tôi đang chùng lòng truyền giáo sau ngày nói chuyện với Ðức Cha Émile. Phêrô đến với Chúa không còn là những bước đi trên đất như mọi ngày nữa nhưng là bước đi trên mặt biển. Ðó là những bước đi lạ thường cần cho thời đại hôm nay. 75 năm trước, Dòng Chúa Cứu Thế sang Việt Nam qua lời mời của Ðức Giám Mục. Ðó là bước đi bình thường. Bây giờ anh em chúng tôi cảm thấy Thầy Chí Thánh muốn chúng tôi phải có những bước đi lạ thường trong hành trình thừa sai. Xem gương của các Cha Vương Ðình Tài, Nguyễn Văn Phán và Trần Sĩ Tín của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn thì biết. Có lẽ khi các bề trên thấy các ngài chẳng làm nên cơm cháo gì ở trên Tây Nguyên thì đã nản lòng và cho là phí của trời. Nhưng những bước đi lạ thường đó nay đã đơm hoa kết trái sau gần 20 năm: hằng năm, từng ngàn anh chị em dân tộc biến đổi cuộc đời và tin nhận Thiên Chúa. Chúng tôi tin rằng Thầy Chí Thánh mời chúng tôi nhập cuộc với những bước đi lạ thường đầy tin tưởng phó thác. "Ơn đã ban, lời đã gọi, Thiên Chúa không hề hối tiếc" (Rm 11:29), nhưng chúng tôi có can đảm đủ, kiên trì đủ để theo ý Chúa không. Hôm nay, anh em chúng tôi đến Choeung Ek (Killing Fieds) để xem chứng tích tội ác của Pon Pot trong những năm 1975-79. Ðịa danh này nằm trên Quốc Lộ số 2 về hướng Long Xuyên. Giữa cánh đồng là một tháp cao được chính quyền xây dựng năm 1988 theo kiến trúc rất đặc biệt của Kampuchia. Lòng tháp có kính bao vây bốn bề như một cái tủ kính cao chót vót được chia thành 15 ngăn để đặt 20.000 sọ người tìm thấy trên cánh đồng này. Trong số sọ đó có 6 người Hoa Kỳ, 2 Pháp và 1 Úc. Hướng dẫn viên cho biết có khoảng 2.000.000 người Miên bị giết khắp nơi trong chương trình diệt chủng của Pon Pot. Riêng tại Choeung Ek, người ta khám phá hơn 20 hố chôn tập thể lớn nhỏ nằm trong cánh đồng bên kia Tháp Tưởng Niệm. Theo lời anh, chúng tôi ghi nhận những chú bướm chỉ xòe cánh bay trên phần đất có những hố chôn tập thể. Những phần đất còn lại, không có bướm vờn lượn. Họ tin đấy là oan hồn của những người đã chết trong chiến dịch diệt chủng tại đây. Rời Killing Fields, chúng tôi vào lại thành phố thăm Viện Bảo Tàng. Ở đây, hầu như chỉ có tượng Ðức Phật đủ kiểu, đủ kích thước, đủ màu sắc, được làm bằng các loại kim loại và bằng đá. Thật ngạc nhiên khi chúng tôi khám phá 3 trống đồng Ngọc Sơn của Việt Nam cũng có mặt trong Viện Bảo Tàng này. Chẳng biết làm sao họ có được? Trên đường về lại khách sạn chúng tôi đi ngang qua đền Vua (Royal Palace) thật lộng lẫy và Chùa Phnom, biểu tượng của quốc gia Kampuchia. Vậy là chúng tôi chấm dứt một ngày đi tìm lại thời vàng son và thời đau thương của dân tộc láng giềng anh em. Ngày 9 tháng 8 Như đã thỏa thuận với nhau trong bữa cơm tối hôm qua, chúng tôi sẽ dành 3 ngày đi thăm các cơ sở của các Dòng đang hoạt động tại Phnom Penh. Sáng nay, chúng tôi đến Trường Kỹ Thuật của các tu sĩ Dòng Don Bosco tại Khum Phnom Penh (New Phnom Penh) gần phi trường Pochentong. Chúng tôi may mắn gặp được Cha John Visser, người Ba Lan, Giám Ðốc trường. Theo như ngài kể, năm 1994, một số tu sĩ Dòng từ các quốc gia Ba Lan, Ý, Phi Luật Tân, Thái Lan và Colombia, đặt dưới sự bảo trợ của Tỉnh Dòng Thái Lan, đã trở lại Kampuchia tiếp tục công việc tông đồ bị bỏ dở vì chiến tranh trong nhiều năm qua. Những cơ sở của Dòng trước năm 1975 đều bị chính quyền Pon Pot trưng dụng hay bị đập nát. Trường Kỹ Thuật này là cơ sở duy nhất của Dòng trên đất Kampuchia. Nhờ sự kêu gọi của Trung Ương Dòng tại Rôma, Hội Ðồng Giám Mục Ý, và các hội đoàn bác ái ở Hoà Lan, Ðức và Bỉ đã gửi giúp đủ loại phụ tùng, máy móc và thợ chuyên nghiệp thiện nguyện đến mở các lớp dạy nghề dưới sự điều khiển của các tu sĩ Dòng Don Bosco. Ngôi trường to lớn, khang trang nằm trên vuông đất 12 mẫu gồm 5 dãy nhà chính: một dãy làm văn phòng, một dãy khác làm nhà ăn và ở, ba dãy còn lại chia ra làm các lớp dạy hàn, may mặc, in ấn, sửa chữa máy xe, điện tử. Hằng năm có khoảng 1.200 bạn thanh niên nam nữ nộp đơn xin vào học nhưng nhà trường chỉ có thể nhận 250 học viên cho chương trình 2 năm mà thôi. Chương trình học bắt đầu vào tháng Chín. Ðể nhận học viên, nhà trường đòi hỏi các thí sinh phải có trình độ lớp 9 trở lên và phải qua kỳ thi do nhà trường tổ chức. Hiện nay, nhà trường có khoảng 420 học viên, trong có 150 học viên được ăn ở tại trường sau khi đã được cứu xét cẩn thận. Tất cả học viên được nhà trường nuôi ăn bữa trưa miễn phí. Thầy Bênêđictô, tu sĩ của Dòng hướng dẫn anh em chúng tôi đi thăm tất cả cơ sở của Dòng gồm cả khu vực riêng biệt cho các tu sĩ Dòng. Thầy cũng cho biết hằng năm có khoảng một đến hai học viên xin gia nhập đạo. Tiện đường đi, chúng tôi đến thăm các nữ tu Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêsa Calcutta tại Cham Chao, đang giúp cho 24 bệnh nhân lao phổi và 12 bệnh nhân AIDS trong một căn nhà lớn. Các nữ tu đang cho xây lầu hai trên căn nhà đó để có thể tiếp nhận thêm bệnh nhân. Dòng cũng có một cơ sở lớn khác nằm trên đường Preah Monivong giúp cho các bệnh nhân AIDS. Năm 1990, có 14 nữ tu đến các quốc gia Ấn Ðộ, Phi Luật Tân, Ðại Hàn sang làm việc tại Phnom Penh. Nữ tu Lumina đưa chúng tôi thăm các bệnh nhân ngay sau đó. Có một bệnh nhân AIDS đang hấp hối. Cha Hoà đến bên giường bệnh cầu nguyện cho chị ta được chết lành. Chúng gặp một nữ tu Dòng Ðức Mẹ đã trọng tuổi đang nằm dưỡng bệnh tại đây. Nữ tu này đã xin bề trên cho được ở Phnom Penh để có thể sống gần với con cháu. Khi nghe chúng tôi là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, chị mừng rỡ nói có biết Cha Nguyễn Văn Vàng và Cha Hoàng Yến thời các ngài qua giảng đại phúc tại Russey Keo vào những năm 40. Xin Chúa an ủi và thưởng công cho tôi tớ của Ngài trong những ngày tháng cuối đời. Chúng tôi cũng may mắn gặp một Cha Dòng Tên, người Thái Lan, đang phục vụ cho các phế nhân trong những cuộc chiến tranh vừa qua. Theo Cha, có 14 tu sĩ Dòng đang làm việc trên khắp đất nước Kampuchia và có 2 cơ sở lớn tại Phnom Penh và Battambang. Chúng tôi kiếu từ ra về, lòng cảm phục sự hy sinh cao độ của các ngài. (còn tiếp 1 kỳ nữa) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |