Kampuchia, Miền Ðất Ðợi Chờ Trịnh Ðức Hòa, C.Ss.R.
Và chúng tôi đã ngỡ ngàng chứng kiến muôn điều kỳ diệu . . . .
Một giáo đoàn Kitô hữu trung kiên Chắc rằng nhờ lời cầu nguyện của nhiều quý ân nhân thân hữu, nên hai anh em Cứu Thế chúng tôi gặp được nhiều điều thuận lợi ngay từ khi chân ướt chân ráo đến thủ đô Phnom Penh. Chỉ ngay buổi chiều đầu tiên hôm ấy, thứ Bảy 05-08, chúng tôi đã tìm ra ngôi nhà thờ Công giáo chính thức duy nhất của thủ đô. Nhờ thịnh tình của một vị thừa sai trẻ người Thái-lan là Cha Sri Pramong Werachai, chúng tôi được mời vào ngày hôm sau đến thăm viếng và dâng thánh lễ Chúa nhật đầu tiên cho đồng bào Công giáo Việt Nam tại họ đạo Svay Pak, cách thủ đô mười một cây số về hướng bắc. Thật là bùi ngùi cảm động khi thấy bà con bổn đạo quấn quít trò chuyện với Cha, Thầy người Việt Nam! Một bà mẹ nhỏ nhẹ nói: "Chúng con phải chờ 18 năm, hôm nay mới được dâng thánh lễ bằng tiếng mẹ đẻ mình, Cha ơi!" Người nghe đây đã phải cố cầm lại xúc động . . . . Tin các Cha, Thầy Dòng Chúa Cứu Thế từ Hoa-kỳ đến thăm Campuchia từ sáng hôm ấy được cấp báo đến các họ đạo gần xa trong Giáo hạt Tông toà Phnom Penh và Phủ doãn Tông toà Kompong Cham. Ở gần thì Ban Hành Giáo thân hành đến xin về họ đạo dâng lễ. Ở xa thì cử người quen tới xin Cha, Thầy viếng thăm. Cảm được tấm lòng chân thành tha thiết của bà con, anh em chúng tôi không nỡ từ chối một ai. Thế là phải sắp đặt luôn một chương trình đi thăm một loạt họ đạo Công giáo Việt Nam nằm rải theo đôi bờ hai con sông lớn của đất nước Kampuchia là Mêkông và Bassac. Lần đầu tiên chúng tôi được nghe đến những danh xưng các họ đạo Việt Nam thật lạ tai và lại được đích thân thăm viếng những xóm đạo xa xôi hẻo lánh đó như: Champa, Sa Ang, Tam Bảng, Bình Di, Hố Gai, Hố Lương, Hố Trư, Ván Ép, Cù Lao Kết, Bãi Cải . . . (Xin đọc thêm phóng sự của Thầy Ðặng Phước Hòa, C.Ss.R.). Ðâu đâu cũng được chứng kiến tận mắt những cộng đoàn Dân Chúa tuy thiếu thốn nhiều về vật chất nhưng niềm tin vẫn rạng ngời son sắt. Một ngôi nhà thờ Cù Lao Kết ọp ẹp cũ kỹ mà vẫn phải chiến đấu với mùa nước lụt tàn khốc của sông Mêkông để có nơi thờ phượng cho xóm đạo. Một nhà thờ Công giáo Bu Ðinh hiên ngang nằm giữa xóm chợ người Miên và cất ngay trên bãi . . . sình. Hay cả một xóm đạo Chak Ang Re nằm bên sông Mêkông bị chính quyền ra lệnh dẹp bỏ, đàn chiên tan tác, nhà thờ hạ xuống thành đống gỗ buồn nằm trước nghĩa trang quân đội để chờ có ngày dựng lại. Ấy thế, niềm tin yêu Chúa, trông cậy Mẹ của đoàn con lưu lạc xứ Chùa Tháp vẫn sáng ngời, vẫn tròn đầy như trăng rằm. Quả là niềm tin tử đạo! Vâng, phải là một niềm tin của nòi giống anh hùng tử đạo mới có thể đương cự được những cơn hồng thủy khủng khiếp của bao thái thú thời đại căm Chúa thù đạo. Chúng tôi đã ngạc nhiên khi biết đa số đồng bào Việt Nam sinh sống tại Kampuchia hiện nay là người Công giáo. Truy nguyên thì biết cách nay hơn 200 năm, tổ tiên của bà con đã đành bỏ làng quê mình tại Việt Nam để chạy lên Miên tránh cơn bách hại Gia-tô đạo thời nhà Nguyễn. Bà con từ các tỉnh miền châu thổ sông Cửu Long mà nay thuộc về các giáo phận như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long Xuyên, đã theo các dòng nước Tiền Giang, Hậu Giang và Bassac chèo ghe chống xuồng lội ngược về hướng Nam Vang để tìm chỗ ẩn thân qua cơn sóng gió vì chính đạo. Lâu ngày, bà con định cư xứ Miên luôn! Ðược biết đến nay các xóm đạo Công Giáo Việt Nam đã lan rộng khắp xứ Chùa Tháp, tức là tại Giáo hạt Tông toà Phnom Penh và hai Phủ doãn Tông toà Battambang (giáp Thái-lan) và Kompong Cham (giáp Lào và Tây nguyên Việt Nam). Ðáng chú ý là dù trải qua bao biến thiên dời đổi, đa số bà con Công giáo Việt vẫn giữ nghề truyền thống hay còn gọi là "nghề Thánh Phêrô", tức là dựng làng theo bờ sông Mêkông và biển hồ Tonle Sap để làm nghề chài lưới độ thân. Không biết có phải vì quen chịu sóng gió bão táp trên sông nước mà niềm tin bà con ta sao kiên vững như bàn thạch? Cả như bạo chúa Pol Pot, hung thần Ieng Sari có thủ tiêu các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân thời 75, cùng san bằng bình địa tất cả mọi tu viện và thánh đường Công giáo lâu đời tại Campuchia như Nhà thờ chánh tòa Thánh Tâm, Hòa-lan, Russey Keo, Banam . . . . đi nữa, vẫn không tru diệt được niềm tin tử đạo của người Việt Nam. Sau cơn mưa trời lại sáng, sau Thương Khó đến Phục sinh. Ðạo Chúa thế đó, căn tính tử đạo vẫn mãi là sinh mệnh tất yếu của niềm tin Kitô! Ðến như Ðức Cha Yves Ramousse của Giáo hạt Tông toà Phnom Penh có lần đã nhìn nhận: "Người Công Giáo Việt Nam có bị bửa đầu cũng quyết không bỏ đạo!" Nói nôm na mà nghe hay quá!
Từ hội nhập văn hóa đến mục tiêu truyền giáo
Qua cuộc đàm đạo với Ðức Cha Émile Destombes, Giám mục phó Giáo hạt Tông toà Phnom Penh và qua những cuộc tiếp xúc với bổn đạo, chúng tôi luận rằng có lẽ hàng giáo phẩm Kampuchia đã học được một bài học đắt giá sau biến cố diệt đạo khốc liệt thời Pol Pot. Trước 75, đạo Công giáo được coi như là đạo của người Việt Nam vì hầu như chỉ có người Việt Nam theo đạo Công giáo mà thôi. Một công thức giản lược đến buồn thảm thành hình: Ðạo Công giáo = Người Việt Nam. Nói cách khác, đạo Phật là đạo của người Miên; còn đạo Công giáo là của người dun (tiếng lóng chỉ dân Việt tại Kampuchia). Ðiều oái oăm là đến nay vẫn còn có những người Miên còn căm giận dân Việt vì lẽ đã chiếm đất Kampuchia Krom (nay là toàn bộ Nam phần Việt Nam) của họ. Ðã xảy ra một kết quả không tránh khỏi: thù người Việt nên ghét Ðạo Chúa luôn! Không biết có phải vì lẽ đó hay không mà thậm chí đến nay người Miên chỉ chiếm 20% trong tổng số người Công giáo tại Kampuchia, trong khi 80% còn lại là người Việt Nam. Riêng các Giám Mục thừa sai Pháp thì tính gọn: Ðể người Miên hết nghi kỵ, Miên hóa phụng vụ là thượng sách! Thế là, bà con Việt Nam thành Miên luôn: đọc kinh tiếng Miên, thánh lễ tiếng Miên, thánh ca Miên, giáo lý Miên . . . , chỉ còn lại dấu tích Việt này: phái nữ vẫn hân hoan đi lễ trong chiếc áo dài truyền thống thân thương, chứ dứt khoát không chịu mặc sarong Miên đi lễ! Có thể hiểu được lý do chính đáng của hàng giáo phẩm khi chủ trương Miên hóa phụng vụ như thế. Hy vọng hành đạo kiểu Miên như vậy sẽ giúp tránh bớt những ngộ nhận cùng nghi kỵ của người Miên đối với đạo Công giáo, hầu thu phục lòng cảm mến đạo nơi người bản xứ. Tắt một lời, hội nhập văn hóa là con đường truyền giáo cho dân tộc Kampuchia, mà người Công giáo Việt tại xứ Miên vì là đa số nên phải đi tiên phong. Chủ trương thì hay đấy, nhưng thực tế thì bà con bổn đạo Việt rên quá! Nào là "Ðức Cha đổi quá mau, thiếu giai đoạn chuẩn bị", "Ðâu phải ai cũng rành tiếng Miên!", "Ðọc kinh, xem lễ tiếng Miên không phê bằng tiếng Việt!", "Trẻ em vì nghèo phải phụ cha mẹ soi cá giăng câu suốt ngày, tiếng Việt còn mù, nói gì tiếng Miên". Nhưng rên mấy cũng chịu thôi. Tình cảnh lưỡng nan này đã khiến anh em chúng tôi băn khoăn không ít. Bụng bảo dạ, năm tới có tính qua thăm Kampuchia, phải rành tiếng Miên để cử hành phụng vụ để gọi là nhập gia tùy tục! Chứ cứ tiếng Việt mà phát ngôn, e Ðức Cha không vui! Vẫn còn đó một thách đố không nhỏ cho các nhà truyền giáo là làm sao, một mặt trình bày và diễn đạt niềm tin Kitô giáo bằng ngôn ngữ, phong cách và tình tự dân tộc của người bản xứ, nhưng mặt khác vẫn lưu giữ sắc thái phổ quát của giáo hội hoàn vũ để duy trì mối dây hiệp thông công giáo. Nỗ lực này đòi hỏi những người hữu trách trong các giáo hội địa phương một sự hiểu biết đầy đủ về văn hóa và đời sống tâm linh của người bản xứ, một sự chọn lọc thận trọng trong phương thức hội nhập bản sắc dân tộc vào đời sống đức tin, và một lối áp dụng tiệm tiến đi đôi với những hướng dẫn và giải thích cần thiết cho bổn đạo.
Loan báo Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Ðộ duy nhất Trong kỳ họp Thượng Hội Ðồng Giám Mục Á Châu chuẩn bị mừng Năm Thánh 2000, các nghị phụ đã trình bày một thách đố sâu nặng trong nỗ lực truyền giáo cho người bản xứ: đó là những đạo hữu của các tôn giáo lớn ở Á Châu không đặt vấn đề khi chấp nhận Ðức Kitô như một Ðấng Thần Linh hay Ðấng Tuyệt Ðối; trở ngại cho họ là nhìn nhận Ðức Kitô là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất. Trong Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhận xét: "Các nghị phụ ghi nhận rằng công bố Ðức Giêsu là Vị Cứu Tinh duy nhất có thể sẽ tạo ra những khó khăn đặc biệt trong các nền văn hóa tại đây, vì nhiều tôn giáo dạy rằng có những thần minh tự bộc lộ mình như Ðấng cứu độ trung gian. Thế nhưng, thay vì làm nản lòng các nghị phụ, những thách đố đặt ra cho các nỗ lực Phúc âm hóa trên đây càng thôi thúc các ngài tìm cách truyền tải ‘đức tin mà Giáo Hội Á Châu đã kế thừa từ các tông đồ, cũng là đức tin mà Giáo Hội Á Châu đang cùng với Giáo Hội mọi thời và mọi nơi theo đuổi’" (n. 10). Chính đây mới là lý do chính giải thích vì sao các dân tộc phương đông, trong đó có xứ Miên, vốn có những truyền thống tôn giáo lớn rộng và lâu đời như Phật giáo, Ấn giáo, Khổng giáo, Hồi giáo, Thần đạo . . . , đã tiến quá chậm trong việc đón nhận đức tin Kitô giáo. Sau 2000 năm Tin Mừng Ðức Kitô phát xuất từ Châu Á, cộng đoàn Kitô hữu vẫn là một thiểu số rất nhỏ bé giữa biển người mênh mông chưa nghe biết Chúa Kitô ngay trên chính lục địa Ngài từng sinh sống! Phải chăng bụt nhà không thiêng? Cũng không hẳn thế, vì các vị sáng lập các tôn giáo lớn trên thế giới đều là người Á châu cả: Ðức Phật Thích ca, Khổng tử, Mohammed., và họ đều có đa số tín đồ là người Á châu. Hay phải chăng Ðức Kitô vốn là người phương đông nhưng lại được giới thiệu như một Ðấng Cứu Ðộ đến từ phương tây? Nếu có, thì nay đến lúc phải điều chỉnh lại. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II khẳng định: "Chính tại Á Châu, ngay từ đầu Thiên Chúa đã mạc khải và thực hiện ý định cứu độ của Ngài . . . . Và ‘khi thời gian đã mãn’ (Gl 4:4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Ðức Giêsu Kitô Cứu Thế, mang hình hài của người Á Châu! Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hóa trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên: ‘Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương’" và "Mọi dân tộc trên Châu Á này đều cần đến Ðức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài. Á Châu đang khao khát nước hằng sống mà chỉ mình Ðức Giêsu mới có thể cung cấp" (Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, s. 1 & 50). Việc rao giảng Ðức Kitô khẩn thiết là thế, nhưng liệu việc truyền giáo sẽ đến đâu, nếu "không có người được sai đi"? Ðấy là tình cảnh đáng thương của Giáo Hội Kampuchia. Cả nước Kampuchia chỉ có duy nhất hai linh mục người Ðông dương cho 20.000 giáo dân. Truy cội gốc hai ngài, ta có "nửa cha" người Miên và "một cha rưỡi" người Việt Nam! Nói "nửa Cha" và "một rưỡi" vì rằng: Cha Tín là người thuần Việt, còn Cha Sophal có gốc cha Miên mẹ Việt! Thật tội nghiệp cho hai mục tử máu Việt này! Các ngài rất thương bổn đạo Việt Nam mình vì thế phải tất tả ngược xuôi khắp làng xóm, sông lạch xứ Biển Hồ để ban các phép Bí tích và hướng dẫn an ủi đồng bào. Cơ cực và thiếu thốn đã khiến hai cha lâm bệnh: Cha Tín hư thanh quản, Cha Sophal sút cột sống. Ấy thế mà vẫn phải cày tới luôn cho bổn đạo được nhờ. Thương quá Kampuchia! Nhu cầu truyền giáo trước mắt của Giáo Hội Kampuchia thật khẩn thiết: cần có những nhà thừa sai kịp đến tiếp sức trước khi các linh mục Việt Nam kia kiệt sức. Tuy hiện nay đã có một số các linh mục và nữ tu thừa sai thuộc Pháp quốc, Columbia, Thái-lan, hay Dòng Salesian Don Bosco, Chúa Quan Phòng, Thừa Sai Bác Ái, Maryknoll, nhưng chẳng thấm vào đâu so với nỗi thiếu thốn triền miên trăm bề. Sự hiện diện ngắn ngủi của hai anh em Dòng Chúa Cứu Thế chúng tôi trong chuyến viếng thăm Kampuchia vừa qua chỉ dám ví như cơn mưa rào giữa mùa hạ nóng. Mát thật đấy, nhưng ngắn đến phát khóc! Và chúng tôi đã khóc thật, khóc thương, khi vẫy tay tiễn biệt bà con bổn đạo lúc lên máy bay về lại Mỹ quốc . . . bỏ lại mảnh đất đã thấm máu đào tử đạo. * * * Ðể kết, xin có đôi lời với anh chị em bổn đạo tại Kampuchia. Cảm ơn anh chị em đã tiếp đón hai anh em chúng tôi bằng tất cả trái tim của tình đồng bào ruột thịt và của tình con cái một Cha trên trời. Cảm ơn anh chị em đã chân thành chia sẻ với chúng tôi bao nỗi truân chuyên cùng niềm hy vọng của kiếp lữ hành trần thế. Và nhất là cảm ơn anh chị em đã để lại cho chúng tôi một chứng từ niềm tin sống động của con cháu tiền nhân tử đạo. Chúng tôi đã đến, đã thấy và làm chứng cho niềm tin bất khuất của anh chị em bất chấp bao nghịch cảnh. Anh chị em đã cho chúng thấy ba nét đẹp cao quý trong căn tính người Công giáo Việt Nam vẫn mãi là anh dũng trong đức tin, trung thành với Giáo Hội và yêu mến Mẹ Maria. Hẹn ngày trở lại với anh chị em và trở lại với Kampuchia, miền đất đợi chờ một mùa gặt mới. Hai anh em Dòng Chúa Cứu Thế chúng tôi cũng muốn mượn những dòng chữ đơn sơ này để chân thành tri ân những tấm lòng thiết tha với sứ mạng mở mang Nước Chúa ở các xứ truyền giáo như Kampuchia. Ðó là những ân nhân thân hữu quý mến tại Houston, Texas và Oklahoma đã tích cực cầu nguyện và yểm trợ cho chuyến viếng thăm Kampuchia của chúng tôi vừa qua. Kẻ góp công, người góp của, chúng ta đều cùng nhau mong muốn xoa dịu phần nào cơn khát khao lương thực thần linh của đồng bào Việt Nam ở xứ Miên. Quý ân nhân đang cố gắng thực hiện lệnh truyền của Ðức Kitô: "Các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân . . ." (Mt 28:19) khi tiếp tay với Dòng chúng tôi thực hiện Dự án Truyền giáo Kampuchia. Ước nguyện sao cho mối quan tâm và thịnh tình trân quý này được Chúa Cứu Thế chúc lành để tiếp tục nảy sinh hoa trái trong những mùa gặt kế tiếp. Xin Chúa hoàn tất tốt đẹp những gì Người đã khởi sự hôm nay. Vài Số Liệu về Giáo hội Công Giáo Kampuchia 1 Giáo hạt Tông toà (Pnomh Penh), 2 Phủ doãn Tông toà (Battambang và Kompong Cham), 4 Giám mục, 35 họ đạo, 29 linh mục (3 triều, 26 dòng), 15 chủng sinh, 45 nữ tu, 11 giảng lý viên, 26.000 người Công Giáo hay 0,2% trong tổng số dân 10.520.000. Nước Kampuchia có quan hệ ngoại giao với Toà Thánh kể từ năm 1994. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |