PALAWAN, ÐẤT HỨA ? Lm. Nguyễn Ðức Mầu, C.Ss.R. Tôi và Ðức Ông Nguyễn Văn Tài, giám đốc Ðài Phát thanh Veritas, kiêm Tuyên úy người tị nạn VN tại Phi Luật Tân, rời Thủ đô Manila vào buổi sáng Chúa Nhật ngày 20 tháng 08. Ngồi tại phòng đợi sân bay nội địa, tôi tưởng tượng đến sân bay Tân Sơn Nhất của quê hương. Không biết có được như thế này hay hơn thế này. Sau một tiếng đồng hồ bay, đảo Palawan đã trước mặt. Cảnh vật đẹp tuyệt trần. Nước biển xanh ngắt. Từng đời sóng bạc đầu xô vào bờ biển bao bọc núi rừng trùng điệp. Ðẹp ơi là đẹp, nhưng hoang vu quá, xa xôi quá. Một hòn đảo ở giữa đại dương bao la. Người đời có thể lãng quên nếu một ngày nào đó nó chìm mất giữa làn sóng nước. Những người anh chị em Việt Nam của tôi ở đó cũng vậy thôi. Phi cơ đáp xuống sân bay khá lớn, tuy còn thô sơ. Sân bay nay đã có thể đón tiếp những máy bay phản lực lớn của Hãng Phipippines Airlines, trong một dự trù của viên Thống đốc đảo, muốn biến Palawan thành một trung tâm du lịch lớn của Phi Luật Tân. Rất tiếc vị thống đốc đó vừa mới tử nạn phi cơ tháng trước, để công trình dở dang. Từ sân bay, Ðức Ông Tài và tôi đi về Tòa Giám mục để chào xã giao Ðức Cha địa phương. Trong câu chuyện tại Tòa Giám mục, Ðức Cha cho biết rất mong có thêm linh mục cho địa phận heo hút của ngài, nhất là linh mục Việt Nam cho làng VN, đồng thời cho anh em người Phi ở vùng chung quanh làng. Trên con đường dài 13 cây số dẫn từ phố đến làng Việt Nam, tôi bùi ngùi nhớ đến cảnh làng quê bình dị, nghèo nàn của quê mình, cũng ruộng cũng chuối, cũng con trâu đàn vịt, cũng những em bé đen đủi đứng ngơ ngác nhìn xe cộ qua lại. Ở đây khung cảnh lẫn con người đều giống hệt, ngoại trừ tiếng nói. Giữa cảnh hoang dã đó, bỗng mọc lên một làng VN, gồm hơn trăm nóc nhà. Những căn nhà nhỏ, vách bằng phên tre, nền ximăng, lợp tôn, với tí đất trước sân. Làng có chùa Phật giáo, có nhà hội Tin Lành, có nhà nguyện Công Giáo với Ðài Ðức Mẹ khá khang trang. Bức tượng Ðức Mẹ bằng xi măng, đường nét thô sơ, do tự tay anh em nặn lên tại trại cũ, được di chuyển về đây, để nhớ đến lòng kính mến Mẹ của những con người tị nạn đau thương. Ði đâu, họ vẫn có Mẹ, và chắc chắn Mẹ vẫn che chở họ. Làng còn có một công viên có chỗ cho con nít chơi, coi cũng được mắt. Ðể có công ăn việc làm cho dân làng, làng mở một nhà hàng khá nỗi tiếng bán món ăn VN cho du khách, một lò bánh mì cũng rất được ưa chuộng, một lò bánh tráng và bánh phở, và một lớp học cho trẻ em mẫu giáo. Những nhân viên đều được trả lương đủ sống. Dân làng phần đông làm nghề buôn bán, chạy xe đò, mở tiệm ăn hay bán hàng tạp hóa trên phố. Kể ra cuộc sống khá đầy đủ, so với cuộc sống chật vật ở quê nhà. Nhiều người có cả xe hơi, và nhiều dân địa phương người Phi đã vào làm công cho người VN; họ làm các công việc giặt quần áo, dọn dẹp, nấu bếp, làm công, hoặc đem sản phẩm chuối, trái cây, gà vịt vào bán cho người VN. Những anh chị em lên phố mở tiệm hay đi về Manila làm ăn, hoặc buôn bán ở các đảo khác đều khá giả. Trước đây, chính phủ Phi đã muốn đóng cửa trại tị nạn và tống xuất mọi người tị nạn về. Ðã có những chuyến bay cưỡng bức đồng bào hồi hương, và đã có những lần đồng bào kéo nhau ra sân bay, nằm vạ trên phi đạo để cản máy bay chở đồng bào tị nạn về nước. Hội Ðồng Giám Mục Phi đã mạnh mẽ lên tiếng phản đối việc cưỡng bức, cho nên sau đó chính phủ Phi đã cho người tị nạn VN ở lại. Tiếp theo là cuộc vận đồng tại hải ngoại để quyên tiền lập Làng Việt Nam cho đồng bào tị nạn được ở lại Phi. Vì có đồng tiền dính vào, nên sinh chuyện. Chiều Chúa Nhật, chúng tôi và Ðức Ông Tài dâng lễ cho anh chị em trong làng. Sáng nay, họ đã dự lễ do Cha Hoan, Dòng Tên, đã dâng. Cha Hoan đến làng để nghỉ hè, và chuẩn bị cho năm Nhà Tập thứ hai, được tổ chức tại Phi. Cha ở lại đó hai tháng. Khi chúng tôi dâng lễ chiều, có khoảng 15 em thiếu nhi Phi được các nữ tu người Phi phục vụ trong làng, hướng dẫn đến. Còn có khoảng 30 người VN tham dự. Theo anh chị em cho biết, thì lễ Chúa Nhật được khoảng 40 - 50 người dự lễ. Trong khi đó, Cha Hoan lên dâng lễ cho một số gia đình còn ở trại cũ. Họ quyết tâm ở lại để gây chú ý cho chính phủ Hoa kỳ phải giải quyết tình trạng của họ, nhưng hoài công. Ở Trại cũ, cách làng độ 14 cây số, gần phi trường, còn khoảng 7 gia đình, độ non 30 người. Họ trồng rau, buôn bán mà sống. Cảnh sống thật nghèo khổ, nhà ở lụp xụp, chứ không khang trang sạch sẽ như ở làng. Về mặt pháp lý, anh chị em ở Phi đang trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, hoang mang vô cùng. Theo Ðức Ông Tài thì chính phủ Phi sẽ không tống xuất họ về VN, vì sự phản đối của Hội Ðồng Giám Mục Phi. Chính Phủ VN chỉ nhận những người hồi hương tự nguyện. Nhưng việc xét cho họ có thẻ thường trú tại Phi không phải là chuyện dễ dàng. Ðã có lần, anh chị em tị nạn được hỏi về nguyện vọng tương lai, muốn đi di dân sang một nước thứ ba, đặc biệt là Hoa Kỳ hay ở lại; do không hiểu đường lối, và do một số người xúi giục, một số lớn trả lời muốn đi di dân. Vin vào đó, Sở Di trú Phi mới trả lời Hội Ðồng Giám Mục Phi rằng, chỉ có ít người muốn định cư tại Phi, thì làm thế nào Quốc Hội Phi chấp nhận qui chế thường trú cho họ được. Còn việc đi di dân sang Hoa kỳ hay một nước thứ ba của con số có non 1000 người VN tị nạn tại Phi, thì rất ít hi vọng được các chính phủ liên hệ chú ý tới. Do đó, đủ thứ tin tức được tung ra, mà phần nhiều là tin vịt. Tình trạng tâm lý của anh em thật khó khăn và tuyệt vọng. Chúng tôi đến thăm làng VN và trại cũ trong tình trạng đó. Nói gì với anh em đây? An ủi họ thế nào? Giải quyết tình trạng bị bỏ rơi cả về mặt tâm linh lẫn mặt xã hội ra sao? Tôi bỏ giờ đi khắp làng, lân la từ nhà nọ đến nhà kia, Công Giáo có, Phật giáo có, ra phố có, sang trại cũ có. Nhưng cho dù đi dâu, câu hỏi đầu tiên của anh chị em, vẫn là: khi nào thì có được cuộc sống ổn định, nhất là về mặt đức tin. Tôi không có câu trả lời cho họ. Ðiều tôi có thể đem lại là tình thương yêu, sự lắng nghe, tâm tình chia sẻ. Và trong nỗi khổ và tuyệt vọng ngút ngàn đó, tôi lại thấy một sức mạnh thần kỳ đang lớn dần. Sức mạnh đó không nằm trong tài tháo vát buôn bán hay làm ăn; nó cũng không nằm trong trí thông minh và chịu khó, kiên nhẫn và tiết kiệm, mặc dù những điều đã mang lại một cuộc sống tuy vất vả nhưng khá sung túc so với dân địa phương. Tuy nhiên, thật sự mà nói, nếu không có lòng tin, không biết những anh chị em tị nạn đó có thể bình an tâm trí mà sống đến ngày hôm nay không. Riêng đối với anh chị em Công Giáo địa phương, thì người Công Giáo VN còn có một lòng tin sâu xa và có căn cơ hơn. Có lẽ chưa có ai nói với họ về vai trò chứng nhân của họ giữa đất nước Phi; hoặc giả họ đang phải bôn ba đấu tranh với cuộc sống hay phải lo lắng ngày đêm về tương lai mịt mù của họ nên họ không lòng trí nào để nghĩ đến đời sống đức tin. Nhưng tôi vẫn thấy nơi họ một lòng tin sâu xa và thầm lặng, một lòng tin giúp họ nhận được sự hiện diện của Chúa ngay trong những ngày tăm tối nhất của cuộc đời tha hương lữ thứ. Ðối với anh chị em Công Giáo trong làng, căn nhà nguyện vẫn là trung tâm cuộc sống của họ. Tôi thấy cứ mỗi sáng lại có người thay nhau đến nhổ cỏ tại khuôn viên thánh đường. Họ trồng hoa, chăm sóc cây cỏ, làm đẹp Nhà Chúa. Có người xin được giống cây khuynh diệp về trồng tại nhà thờ. Cây khuynh diệp càng ngày càng cao, mùi càng thơm, như lòng tin của người dân làng càng đặt vào Chúa và Ðức Mẹ. Nhiều người đi bán ở các đảo hay mở tiệm trên phố, đến ngày Chúa Nhật vẫn đưa vợ con về làng dự Thánh lễ khi có cha. Cái tội lớn nhất của họ là còn quá ít người Công Giáo trong làng, lại ở một đảo xa xôi trên Thái Bình Dương, tương lai lại mịt mù, cho nên cha VN nào có đủ đại độ và hi sinh để về chia sẻ sự nghèo khó, bị bỏ rơi của họ đây! Sau một ngày rưỡi ở với họ, sáng ngày 22, tôi cũng phải xách vali ra sân bay để về lại Manila. Một số anh chị em đưa tôi ra sân bay, trong số đó có cả Cô Út (Trà Ôn) là người không Công Giáo. Câu hỏi trên môi của mọi người vẫn cứ là: "Khi nào cha lại về với chúng con?" Tôi bồi hồi xúc động! Nhưng xét lại mình, không biết mình có tìm được cớ nào khả dĩ có thể trở lại với họ không! Trên xe ra phi trường, Cô Út (Trà Ôn) buột miệng: "Cầu cho hủy chuyến bay để cha ở lại!" Tôi than trời: "Cô đâu có còn phải là "Út Trà Ôn", mà là "Út Ác Ôn". Thế mà câu "xúi quẩy" của Cô Út đã thành sự thật 50 phần trăm. Thay vì máy bay cất cánh lúc 11 giờ 40, thì chuyến bay bị đình hoãn tới 3 giờ chiều vì bão. Thế là cả bọn kéo nhau đi ăn phở. Phở VN được dân địa phương gọi là "cháo lòng". Nguyên do là có một gia đình Công Giáo VN, khi mới tới đảo, đã nấu cháo lòng để bán. Cháo lòng khá ngon. Sau đó, họ không nấu cháo lòng nữa, mà nấu phở để bán. Thế là dân Phi cứ thế mà gọi phở là "cháo lòng". Chúng tôi đi loanh quanh một hồi rồi cũng phải ra phi trường. Cuối cùng rồi cũng phải chia tay, với bao nhiêu lời dặn dò, nhắn gửi, hứa hẹn. Lòng có ngậm ngùi, nhưng mặt không dám tỏ ra. Ngồi trên máy bay mà lòng tôi ngổn ngang trăm mối. Thương anh chị em tị nạn thật nhiều, nhưng làm sao đây? Làm thế nào để giúp cho họ có một linh mục thường xuyên ở với họ đây? Những thiếu thốn của họ về sách vở, về thuốc men, tôi có thể kêu gọi những anh chị em hảo tâm ở Mỹ gửi cho họ. Nhưng còn linh mục, tôi tìm ở đâu ra? Làm thế nào để có một cha, hoặc về hưu, hoặc đi nghỉ hè, hay cần thời gian tịnh dưỡng, hay cần chỗ yên tịnh để viết sách, viết luận án, có thể đến làng. Chỗ ăn, chỗ ở, chỗ dâng Lễ đều sẵn sàng, chỉ thiếu một chút tình, một chút hi sinh và đại độ cho những anh chị em bị bỏ rơi hơn cả: DÂN LÀNG PALAWAN! Kỷ niệm chuyến đi Palawan Tháng 8 năm 2000 Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |