| |
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN. 08-10-2000 : LY DỊ LÀ PHẢN CHỨNG YÊU THƯƠNG. CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN. 15-10-2000 : SỰ LỰA CHỌN KHÔN NGOAN. CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN. 22-10-2000 : NIỀM VUI CỦA LÒNG VỊ THA. CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN, LỄ CHÚA HIỂN DUNG. 29-10-2000 : XIN MỞ MẮT CONÙ. CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN. 05-11-2000 : TIÊN KÍNH CHÚA, HẬU ÁI NHÂN. Chúa Nhật XXVII Thường Niên 08-10-2000 LY DỊ LÀ PHẢN CHỨNG YÊU THƯƠNG
"Người ta có được phép ly dị vợ mình bất cứ vì lý do gì không?" Chẳng biết các biệt phái đã đặt vấn đề này với Chúa Giêsu để đưa Ngài vào bẫy hay họ thành tâm muốn xin một lời chỉ giáo. Bởi lẽ trong bối cảnh vua Hêrôđê ly dị vợ và cưới người khác, nếu Chúa Giêsu phản đối ly dị thì chẳng khác chi tự gây xung đột với nhà vua. Mặt khác, Ngài cũng có thể bị kết tội lạc giáo nếu câu trả lời mâu thuẫn với những gì được ghi trong luật Môisen—người chồng được bỏ vợ bằng cách trao tờ ly thư nếu như thấy vợ mình "thiếu đoan trang đứng đắn".Giải thích về ý nghĩa của nhóm từ "thiếu đoan trang đứng đắn," trường phái Giáo sĩ Shammai của Do thái cắt nghĩa rằng: luật cho phép người đàn ông bỏ vợ chỉ với lý do cô ta phạm tội ngoại tình. Trong khi đó trường phái Hillel, lại cắt nghĩa phóng túng rằng người vợ có thể bị ly dị nếu làm hư đồ ăn, hay nói chuyện với người đàn ông lạ mặt, hay kể xấu về họ hàng bà con bên chồng. Kết quả là phái tự do phóng túng đã thắng thế khi mà nhiều người đàn ông đã đưa vợ ra toà vì những lý do không đâu vào đâu. Trước những lối lý giải khác nhau của hai trường phái Shammai và Hillel về vấn đề ly dị, cộng với lối sống tự do quá trớn của nhiều người đương thời, Ðức Giêsu đã khẳng khái xác định lý do Môisen để cho người ta ly dị là vì lòng dạ quá chai lì và ngang bướng của họ. Còn từ thuở tạo thiên lập địa, sự đó chẳng hề được lập ra. Ðức Giêsu đã hướng con người về với khung cảnh sáng thế để chỉ ra rằng Thiên Chúa đã thương dựng nên người nam và người nữ, tác thành họ nên một trong tình yêu, và điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, sẽ không có một quyền lực nào được phép phân ly (Mc 10:6-7), dù đó là quyền lực của tiền bạc, sắc đẹp, sức khoẻ, tuổi tác, tính tình... ngoại trừ sựï chết, lúc người ta trở về với Ðấng Tạo Thành. Thật đáng ghi nhận biết bao khi Kinh Thánh tiếp nối bài huấn từ của Ðức Giêsu về vấn đề ly dị với hình ảnh Ngài ẵm các em nhỏ vào lòng và đặt tay chúc lành cho chúng. Phải chăng Thiên Chúa muốn nói với các bậc cha mẹ: dù gì thì cũng hãy nhìn vào con cái. Chúng không thể cùng một lúc bước đi trên hai nẻo đường đối nghịch của cha mẹ. Cha mẹ đã từng được phối hợp "nên một," và rồi sự "nên một" này đã tạo nên mầm sống là con cái. Tính chất "nên một" rất thiêng liêng trong con cái đó phải được bảo vệ và duy trì nhân danh Thiên Chúa. Bởi vì trong Thiên Chúa không có phân ly. Thiên Chúa đã chúc lành cho các em nhỏ. Chẳng nhẽ cha mẹ lại chống lại ý Trời bằng ly dị, một hành động chúc dữ cho con mình. Con cái là phúc lộc Thiên Chúa trao ban cho cha mẹ. Ơn lành của Thiên Chúa nơi các em, cha mẹ sẽ được hưởng nhờ. Ðể con cái đón nhận phúc lành của trời cao và để ơn lộc đó sinh hoa bình an, kết trái vui tươi, và chín mùi hạnh phúc, cha mẹ phải biết đưa con mình đến với Ðức Giêsu. "Người ta đem các trẻ nhỏ đến với Ngài để Ngài đụng đến chúng" (Mc 10:13). Khi đưa con em đến cùng Chúa, cha mẹ cũng đã tự đưa chính mình đến với Ngài. Song, giữa thế giới hôm nay, phải đưa con và đưa mình đến với Ðức Giêsu như thế nào? Trong các phương cách tiếp cận Ðức Giêsu, không gì dễ dàng và hữu hiệu hơn cầu nguyện. Thử hỏi có phải bao gia đình tan nát, bao con cái buông tuồng, bao tâm hồn sa đoạ, là vì gia đình thiếu cầu nguyện? Phải chăng là vì các thành viên trong gia đình bỏ bê, không màng chi đến mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa? Thực tế cho thấy phần lớn những gia đình bất hạnh là những gia đình coi thường đạo đức. Những đôi vợ chồng gấu ó đến độ phân ly là những cặp vợ chồng xem giá trị thiêng liêng nhẹ hơn giá trị trần tục. Chỉ với đời sống liên kết với Ðức Giêsu qua cầu nguyện, người ta mới tìm được sức mạnh đỡ nâng và khám phá giá trị bất biến của một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Chí lý làm sao lời xác minh của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II: "Gia đình cầu nguyện là gia đình tồn tại. Một gia đình không bỏ cầu nguyện là một gia đình không mất hạnh phúc." Chúa Nhật XXVIII Thường Niên 15-10-2000 SỰ CHỌN LỰA KHÔN NGOAN
Một đám cưới sang trọng tiêu tốn hết ba triệu rưỡi đô la để chỉ tồn tại không quá 15 năm là đám cưới của Công nương Diana và Thái tử Charles. Một chiếc nhẫn trị giá đến 205 ngàn đô la để chỉ ngự trị trên bàn tay quí phái của Diana không quá năm tiếng đồng hồ là chiếc nhẫn mà nhà triệu phú Dodi Fayer đã tặng cho công nương trong đêm định mệnh. Tai nạn bất ngờ xảy ra. Diana đi về thế giới bên kia. Không mang theo được đồng đô la nào. Chiếc nhẫn kim cương đắt giá cũng được tháo ra trao lại cho dòng họ Spencer của cô. Nằm trong quan tài, Diana với đôi tay không nhẫn cưới và cũng chẳng có nhẫn kim cương. Ðiều kỳ lạ là trên đôi tay ấy người ta có thấy một cỗ tràng hạt do Mẹ Têrêsa trao tặng trong một lần tiếp xúc. Phải chăng: Kiếp ngắn dài, một mộ bia (Lm. Trần Cao Tường) Phải chăng những người có trách nhiệm sau cùng trên thi hài của công nương đã muốn nói với mọi người: tiền bạc, kim cương, danh dự, vật chất, sang giàu, thế gian... không phải là hành trang cho một cuộc sống hạnh phúc đời đời, nhưng là những mầm sống yêu thương và những giá trị thiêng liêng mà Mẹ Têrêsa, qua cỗ tràng hạt, đã trao lại cho Diana và thế giới như một lời nhắn nhủ? Hạnh phúc sung mãn và trường tồn không thể tìm thấy trong sự sang giàu của thế gian. Thánh kinh đã khẳng định điều đó. Cả ba Phúc âm Nhất lãm đều ghi nhận: Một ngày kia khi Chúa Giêsu đang trên đường đi về Giêrusalem để bước vào cuộc khổ nạn hầu mang lại ơn cứu độ và hạnh phúc cho muôn người, thì một chàng thanh niên giàu có "chạy" đến. Anh ta quì xuống trước mặt Ðức Giêsu và thưa: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm cơ nghiệp." Chắc hẳn câu hỏi của anh thanh niên đã làm bối rối và sửng sốt cho không ít người: cứ tưởng "có tiền mua tiên cũng được," đàng này trong con người còn có một thứ mắc hơn tiên đến nỗi có tiền chưa chắc đã mua được. Ðấy chính là một khát vọng vô biên. Vì là khát vọng vô biên nên chắc chắn không một thực tại hữu biên nào trên thế gian này có thể lấp đầy. Dù đó là xác thịt, kiến thức, giàu sang hay bất cứ thứ gì. Chỉ có Thiên Chúa, Ðấng Vô Biên, mới có thể thoả mãn cái khát vọng vô biên nơi lòng con người. Chính Thánh Augustinô, sau khi trải qua biết bao kinh nghiệm tìm kiếm đối tượng cho khát vọng vô biên nơi lòng mình, đã thốt lên: Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi Trước tâm tình và ước nguyện của chàng thanh niên, Ðức Giêsu đã làm một cuộc phỏng vấn liên quan đến các giới răn: ngươi không được giết người, không được ngoại tình, không được trộm cắp, không làm chứng gian, không.... Và người đó đáp lại: "Thưa Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở còn thơ." Nghe thế Ðức Giêsu bảo anh ta: "Ngươi còn thiếu một điều. Có gì thì hãy đem bán mà cho kẻ nghèo. Ðoạn hãy đến theo Ta" (Mc 10:21). Nong nả đi tìm câu trả lời cho đâu là ý nghĩa của cuộc sống, ấy thế mà khi nhận được lời giải đáp, chàng thanh niên lại sa sầm nét mặt, bỏ đi buồn rầu. Thánh kinh cho biết "vì anh ta có nhiều của" (Mc 10:22). Bước theo Ðức Giêsu đòi hỏi một thái độ vươn mình trên những gì là của cải vật chất. Bởi vì "không ai có thể làm tôi hai chủ: hoặc nó sẽ ghét người này mà mến người kia, hoặc tha thiết với chủ này mà khinh màng chủ nọ. Các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa và Tiền của được." Ấy thế mà, nếu thành tâm xét lại, thì hình như trong đời tôi vẫn còn đó những khoảnh khắc vừa mang danh Kitô hữu lại vừa xem tiền bạc như lẽ sống. Phải chăng vừa theo Chúa, tôi vừa tự biến mình làm "con vật kinh tế," thậm chí có khi còn giành giật, lừa gạt, chà đạp, sát phạt kẻ khác... vì đồng tiền. Bao lâu chỉ biết thu về mà không hề trao ban, người ta sẽ cứ mãi "sầm mặt xuống, buồn rầu." Khi nào biết san sẻ cho kẻ nghèo khó, người ta sẽ lớn lên trong tình yêu và tiếng cười. Cha Albert Marie thuộc dòng khổ tu Soligay ở Bỉ cũng có một kinh nghiệm tương tự. Trước khi vào dòng, ngài từng là một chính khách triệu phú với danh xưng Van Cruyssen. Trong Ðại chiến Thế giới II, ngài là một sĩ quan mang cấp bậc đại úy, với sáu huy chương và đệ nhất Bắc đẩu Bội tinh chói ngời trên ngực áo. Nhưng giờ đây những huy chương và bội tinh ấy lại được đặt trước bàn thờ kính Trái Tim Chúa Giêsu trong tu viện. Trong dịp ngài tuyên khấn, có rất nhiều vị dân biểu, chủ tịch và phó chủ tịch thượng viện, cũng như chủ tịch hiệp hội giới trẻ Công giáo Bỉ quốc đến tham dự. Sau lễ nghi, vị tân khấn đã chia sẻ tâm tình với những người hiện diện: "Cha Albert Marie sung sướng và hạnh phúc hơn nhà triệu phú Van Cruyssen nhiều." Yêu thương và san sẻ cuộc đời cho người nghèo chính là điều kiện tất yếu mà những ai muốn trở thành môn đệ chân chính của Ðức Kitô đều phải thực thi. Yêu thương san sẻ không hệ tại nơi tiền bạc của cải, song là ở tất cả những gì mình có. Ðức Giêsu đã bảo: "Hãy đi bán tất cả những gì ngươi có mà cho kẻ nghèo." Người nghèo là người túng thiếu, không chỉ thiếu về của cải, nhưng còn có thể thiếu về giáo lý, kiến thức, sức lực, cảm thông, tha thứ, tiếng ca, nụ cười.... Vậy nếu trong gia đình, nơi giáo xứ, cộng đoàn, hay tại sở làm của tôi vẫn còn những người thiếu thốn như thế, liệu tôi có can đảm đáp trả lời mời gọi của Ðức Kitô--"Hãy cho, và ngươi sẽ có một kho tàng trên trời"--hay tôi sẽ cúi mặt, bỏ đi, buồn rầu. Chọn lựa bước theo Ðức Kitô là một chọn lựa quyết liệt và rướm máu. Nhưng đó lại chính là một lựa chọn khôn ngoan và đáng giá vô cùng. Chúa Nhật XXIX Thường Niên 22-10-2000 NIỀM VUI CỦA LÒNG VỊ THA
"Ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy hầu hạ anh em, và ai muốn cầm đầu thì hãy làm tôi tớ mọi người" (Mc 10:43-44). Từ xa xưa, nhiều nhà tư tưởng đã có cùng một nhận định: niềm vui và hạnh phúc là một khát vọng được chôn sâu trong cuộc đời con người, để rồi từ lúc chào đời cho đến khi lìa đời sẽ cứ là một cuộc kiếm tìm hạnh phúc và niềm vui liên lỉ. Dù làm bất cứ việc gì thì mục tiêu duy nhất vẫn là để thoả một nhu cầu nào đó của tiến trình đi tìm hạnh phúc. Nhưng nói đến hạnh phúc và niềm vui không có nghĩa là hạnh phúc hay niềm vui nào cũng như nhau. Có những niềm vui chật hẹp, ích kỷ, bị đóng khung trong khuôn khổ cá nhân, nhưng cũng có những niềm vui thanh thoát, mở ra với tất cả mọi người. Phương thức tìm kiếm niềm vui rộng mở đó đã được Ðức Giêsu mạc khải: "Ai muốn làm lớn thì hãy tự làm đầy tớ phục vụ anh em" (Mc 10:43). Phục vụ là trao ban niềm vui Nước Trời cho người khác. Vấn đề cấp thiết là tôi có niềm vui của trời cao để trao ban cho tha nhân không? Bởi vì không có thì biết cho đi cái gì. Người ta thuật lại cứ mỗi buổi sáng, Mẹ Têrêsa Calcutta có thói quen chúc lành và gởi các sơ đi phục vụ người nghèo trong các hang cùng ngõ hẻm. Một hôm, Mẹ đã giữ một sơ nọ lại, không cho đi vì thấy nét mặt của sơ không được tươi tắn. Người ta hỏi tại sao Mẹ không cho sơ đó đi. Mẹ trả lời, "Người nghèo đã đau khổ, buồn tủi lắm rồi, bây giờ đến với họ với gương mặt như thế thì có khác nào chất thêm khổ sở, u sầu cho họ." Thế ra, nếu chưa có bình an, sức sống, và niềm vui tâm hồn, tôi sẽ lấy gì trao ban hay phục vụ người khác đây? Hay là tôi cứ phục vụ để tìm được niềm vui trong khi dấn thân? Cũng không ít người đến với hội này đoàn kia để tìm niềm vui lắm. Nhưng thực tế cũng cho thấy có nhiều người đã bỏ đoàn bỏ hội vì không tìm được niềm vui mình muốn. Thế nên cần phải xác định lại tinh thần phục vụ của chính mình. Vui để phục vụ, quan trọng lắm. Phục vụ để có niềm vui, ý nghĩa lắm. Thế nhưng nếu phục vụ hoài mà không có "niềm vui" nào hết, ngoại trừ bị chỉ trích, ngoài việc tốn kém thì giờ, sức lực, có khi cả tiền bạc, nếu chẳng còn chút hứng thú gì cả thì tôi có nên tiếp tục việc chia sẻ trao ban không? Câu hỏi này khiến tôi phải tự vấn: tôi phục vụ, nhưng phục vụ ai? Tôi trao ban Tin Mừng Nước Trời, nhưng thực chất là để theo gương Ðức Kitô hay để tìm tư lợi? Khi nói về một tinh thần phục vụ đúng nghĩa, một vị linh mục đã kể lại dụ ngôn "Nén Bạc" với những hình ảnh mới lạ: Nước Trời thì cũng giống như hai anh em nhà kia được Chúa mời gọi từ bỏ tất cả để hiến thân phục vụ nhân loại. Người anh đã đáp trả tiếng gọi một cách quảng đại, mặc dầu anh ta đau đớn khổ sở lắm khi phải từ giã gia đình và cả người yêu. Anh đi đến một phương rất xa, gia nhập một dòng tu, và ở đó anh lao mình vào các công việc phục vụ cho những người cùng khốn. Khi cơn bách hại nổi lên, anh bị bắt, bị hành hạ, và bị thiêu sống. Sau khi chết, ra trước toà Chúa, anh đã được nghe những lời ngọt ngào: "Tốt lắm hỡi đầy tớ thiện hảo và trung tín. Con đã dâng tất cả tài năng sức lực để phục vụ. Nay ta thưởng cho con 10 thành. Hãy vào mà hưởng hoan lạc với chủ con." Riêng người em, anh ta quên mất tiếng gọi, và đi cưới một người con gái anh yêu. Anh ta hưởng được một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Công việc phát đạt, anh trở nên giàu có và nổi tiếng. Ðôi khi anh ta cũng bố thí giúp đỡ người nghèo. Ðến lúc chết, trước toà Chúa, Ngài đã nói với anh rằng: "Hỡi người đầy tớ tốt lành, ngươi đã dâng cho ta một phần tài năng sức lực và những gì ngươi có. Nhưng ta cũng thưởng cho người 10 thành. Hãy vào mà hưởng phúc lộc với chủ ngươi." Trước lời phán quyết đó, người anh cả ngạc nhiên quá sức. Anh ta vui mừng khi thấy người em cũng được thưởng giống y như mình. Thế rồi anh đã đến thưa với Chúa: "Lạy Chúa, thật là hạnh phúc! Xin Chúa hãy biết cho rằng nếu như con được trở lại thế gian để bắt đầu lại một cuộc đời khác thì con cũng sẽ làm tất cả những gì con đã từng làm cho Chúa." Nếu vì ghen tị, ích kỷ, nếu chỉ biết nghĩ đến tư lợi hay tranh giành quyền này chức kia, chắc hẳn người anh đã không nếm được niềm vui và hạnh phúc thiên đàng. Nhưng đây, đời phục vụ và mục tiêu dấn thân của anh chính là với Chúa và vì Chúa trong tha nhân. Niềm vui của anh là niềm vui của kẻ khác, khi mà họ cũng được chung hưởng phần thưởng như mình. Nếu không phải vì Ðức Kitô hay vì Tin Mừng Nước Trời chắc hẳn anh đã chẳng theo Chúa đến đời thứ hai. Chỉ với yêu thương, và là thứ yêu thương trên căn bản vị tha, người ta mới tìm thấy hạnh phúc đích thực. Chỉ những ai chân thành phục vụ Ðức Kitô, "uống chén Ngài đã uống, và chịu phép rửa Ngài đã chịu," người đó mới cảm nếm được hạnh phúc và bình an. Mẹ Têrêsa Calcutta đã từng nói: "Hoa trái của phục vụ là bình an. Tất cả chúng ta phải ra công làm việc cho bình an, cho an bình trên khắp thế giới và nơi mọi tâm hồn." Chúa Nhật XXX Thường Niên 29-10-2000 XIN MỞ MẮT CON
"Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?" Người mù đáp lại: "Lạy Thầy, xin cho tôi thấy được." Ðây là mẩu đối thoại người ta nghe được cách đây gần 2000 năm trên con đường ngang qua Giêricô về Giêrusalem. Số là một hôm kia, đang khi Chúa Giêsu đi ngang qua thành phố Giêricô nằm cách kinh đô Giêrusalem 15 dặm về hướng Ðông Bắc thì có nhiều người hành hương tiến đến cùng đi với Ngài lên đền thờ để dự lễ Vượt qua. Theo như luật định, tất cả mọi con trai Do thái từ 12 tuổi trở lên và đang cư trú trong khu vực cách thành Giêrusalem 15 dặm đều phải về Giêrusalem để dự đại lễ Vượt qua. Trong những trường hợp bất khả kháng, không thể về đền thờ, người ta thường có thói quen sắp hàng dài trên các đường phố để cầu chúc vạn sự may lành cho các khách hành hương. Thế nên không lạ gì trên trục lộ chính ngang qua Giêricô lúc bấy giờ đã có rất đông người tu tập trong những ngày cận lễ. Rồi khi có vị kinh sư nổi tiếng nào đi hành hương ngang qua thành, tất sẽ có nhiều đồ đệ và đám đông hiếu kỳ vây quanh để lắng nghe các lời giáo huấn của vị đó. Ðây là một lối thuyết giáo "lưu động" thông dụng nhất của người Do thái thời bấy giờ. Thế nên không lạ gì khi đám đông khách hành hương kéo theo vây quanh Ðức Giêsu, người đang được dân chúng khắp nơi ngưỡng mộ về hành vi, thái độ và lời giảng dạy rất khác biệt với hàng tư tế, luật sĩ, và ký lục trong dân. Ngày đó, tại cổng thành phía bắc có người khất thực mù tên Bartimê. Anh ta chỉ biết ngồi một nơi và trông chờ khách qua đường dủ lòng thương xót. Càng đông người qua lại thì niềm hy vọng kiếm đủ miếng cơm manh áo càng dâng cao. Một hôm anh chợt nghe có nhiều tiếng chân rộn rịp khác thường. Dò hỏi xem đoàn người nào đang đi tới. Lòng khấp khởi trông chờ. Trong tiếng ồn ào của đám đông, anh nghe loáng thoáng câu trả lời, và rồi biết được có Ðức Giêsu người Nazaret đang tiến về Ðền thánh Giêrusalem. Anh liền cất tiếng hô to: "Giêsu Con Vua Ðavit, xin thương xót tôi." Vì muốn tiếng hô của mình át đi những tiếng động xung quanh và kéo sự chú ý của Ðức Giêsu, anh đã làm cho đoàn người đang lắng nghe lời Ngài giảng dạy phải bực mình. Ðúng là tên phá rối! Họ quát mắng bảo hắn câm miệng lại. Nhưng anh mù càng la to hơn. Và Ðức Giêsu đã nghe tiếng anh ta. Ngài cho gọi Bartimê đến. Anh liền "vất áo choàng," "nhảy chồm dậy," và "đến cùng Ðức Giêsu." Sự đáp trả của anh mù thật nhanh nhẹïn và dứt khoát: cả chiếc áo choàng vừa dùng để che thân, giữ ấm, vừa làm tấm mền, manh chiếu lúc cần nghỉ ngơi, thế mà anh vẫn vất đi vì nó làm vướng víu bước chân đến cùng Giêsu. Niềm vui sướng dâng trào làm vỡ tung cõi lòng và bật ra qua cử chỉ: anh nhảy chồm lên, tiến lại với Chúa. Ngài lên tiếng hỏi anh: "Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi." Anh liền nói: "Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy." Kết quả, anh được như ý nguyện. Chắc chắn điều anh được thấy trước tiên sau khi đôi mắt bừng mở chính là con người Ðức Giêsu. Anh xin sáng mắt để nhìn rõ Ðức Kitô và ra đi với Ngài. Kinh Thánh ghi nhận: "Anh thấy được, và theo Ngài lên đường." Nếu xin điều này thứ kia mà không xin cho được sáng mắt—đôi mắt tâm hồn—thì còn thiếu sót nhiều lắm. Sáng mắt để thấy được Ðức Giêsu như chân lý và giá trị tuyệt đối của cuộc đời mà lại không có thái độ can đảm "vất áo choàng," "nhảy chồm lên," và "đi theo Ngài," thì làm sao có thể thấy được "sự sống đời đời"—một sự sống phong phú viên mãn mà ngay chàng thanh niên giàu có cũng không ngừng khát mong. "Lạy Ngài, xin cho tôi được thấy... Anh thấy được và theo Ngài lên đường." Ðây cũng chính là nỗi niềm khát khao ánh sáng chân lý và thái độ đáp trả dứt khoát của một linh hồn: John Henry Newman của Anh quốc. Mặc dầu được sinh ra và lớn lên trong môi trường Anh giáo, được thụ phong linh mục Anh giáo khi mới 23 tuổi, trở thành người lãnh đạo được dân chúng mến mộ trong giáo hội và xã hội Anh quốc, thế mà, Newman vẫn cứ hoài khắc khoải cầu xin: "Lạy Chúa, xin cho tôi được thấy." Thế rồi ngày 25 tháng 9 năm 1843, Newman đã "vất bỏ áo choàng" và "nhảy chồm lên" với bài giảng từ giã Anh giáo. Henry Newman đã xin gia nhập Công giáo. Cả nước rúng động. Từ giới trí thức cho đến hạng thường dân đều ngỡ ngàng, sửng sốt. Nhiều người phẫn nộ như muốn quát bảo Newman im đi. Sau này, trong một bài viết, Newman đã tâm sự: "Có nhiều người ghét tôi. Tôi phải chấp nhận cả những lời nguyền rủa tệ hại nhất của họ. Tôi đã làm thất vọng tất cả những ai tôi yêu mến, lung lạc tất cả những ai tôi dạy dỗ và giúp đỡ." Newman đã chấp nhận hy sinh tất cả để chỉ mong một điều: được thấy dù phải trả một giá rất đắt. Lạy Chúa, con đã được Ngài mở cho đôi mắt. Con đã thấy Ngài là giá trị tuyệt đối của cuộc đời. Con đã biết Ngài là chân lý duy nhất giải thoát con người. Thế nhưng sao con vẫn ngại ngùng bước theo Chúa. Phải chăng vì hồn con cứ bị vướng mắc bởi tiếng to tiếng nhỏ của người ta, bởi những tấm áo choàng vinh quang giả trá. Cũng có thể vì con sợ: sợ theo Chúa lên Giêrusalem, nơi thánh giá, đinh sắt, gai nhọn đang chờ, sợ mất mát những an toàn con đang có, sợ đương đầu với đám đông hỗn loạn, và con sợ nhiều thứ... Xin tặng cho con Thần Khí can đảm, xin ban cho con niềm tin sắt son để con dám chấp nhận trả giá cuộc đời, và để được Chúa là Ánh Sáng ngàn đời không phai. Chúa Nhật XXXI Thường Niên 05-11-2000 TIÊN KÍNH CHÚA, HẬU ÁI NHÂN
Dân Do thái, qua Môisen, được Thiên Chúa trao cho 10 điều răn để tuân giữ, hầu được chúc phúc và tồn tại lâu dài (Tl 6:2-6). Trải qua nhiều thế hệ, 10 điều luật của Giavê được các vị lãnh đạo chú giải và thêm thắt thành 613 luật điều khác nhau. Trong số 613 điều này có 248 luật khuyên phải làm và 365 luật cấm không được làm. Mặc dầu được chia làm hai khoản với số 365 tượng trưng cho số ngày trong năm và 248 tượng trưng cho 10 thế hệ của con người (mỗi thế hệ khoảng chừng 25 năm), dân Do thái vẫn gặp trở ngại vì không biết giới luật nào là quan trọng hơn cả. Các trường phái Rabi luôn có hai khuynh hướng đối nghịch nhau: một bên thì muốn quảng diễn và nới rộng luật lệ thành hàng trăm hàng ngàn, một bên lại muốn thu gọn thành một bản tóm lược hay một câu đơn giản nhưng bao gồm tất cả. Nhà chú giải Kinh Thánh William Barclay đã phân tích và ghi nhận việc Vua Ðavit đã rút gọn 613 điều luật thành 11 điều: Lạy Giavê, ai sẽ được ngụ nơi nhà Chúa? Ai sẽ định cư trên núi thánh của Ngài? Ðó là người
Ðến thời Tiên tri Isaia 11 điều trên được rút ngắn, chỉ còn lại 6: Người đi trong đàng nhân nghĩa Kẻ ấy sẽ được ở trên chốn cao vời, có lũy đá làm nơi trú ẩn. Bánh ăn sẽ được luôn cung cấp, nước uống chẳng lo thiếu bao giờ (Is 33:15). Nhưng, dường như 6 điều vẫn còn dài. Nên chi Tiên tri Mica đã cô đọng lại trong 3 điều: Ngài đã mặc khải cho ngươi, hỡi con người, cái gì là tốt lành. Và Giavê đòi ngươi làm gì nếu không phải là: Thi hành công lý Ba đòi hỏi này là toát yếu "độc thần luân lý" của ba tiên tri lớn thuộc thế kỷ thứ 8. Ðó là công lý nơi Tiên tri Amos (Am 5), nhân nghĩa nơi Tiên tri Hosê (Hs 6), và tôn kính khiêm tốn nơi Tiên tri Isaia (Is 2). Nhưng rồi trong sách Tiên tri Isaia, ba điều toát yếu trên lại được thu gọn trong hai điều: Ðây là lời Giavê phán: Cuối cùng Tiên tri Habacuc đã tóm kết tất cả các điều luật trong một câu đơn giản: Người công chính, bởi tín trung sẽ được sống (Ha 2:4). Tất cả mọi cố gắng thu gọn 613 điều luật dường như vẫn không làm thoả mãn các kinh sư luật sĩ của các trường phái Do thái giáo. Thế nên câu hỏi điều răn nào là căn bản và thiết yếu vẫn là đề tài tranh luận và học hỏi giữa các nhà chuyên luật. Do đó, việc một luật sĩ đến hỏi thử Chúa Giêsu "Ðiều răn nào quan trọng nhất?" không thuần túy là một sự gài bẫy để biến Chúa thành đối tượng cho các bè phái phản đối hay khinh chê, nhưng chắc hẳn đây là một câu hỏi chân thành, muốn tìm xem sống điều căn bản nào là làm đẹp lòng Thiên Chúa nhất. Câu trả lời của Chúa Giêsu, nghe thoáng qua, dường như không có gì mới lạ. Tất cả đều được rút ra từ Cựu Ước. Câu trả lời gồm hai phần: phần đầu trích từ sách Ðệ Nhị Luật: "Hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi"(Ðnl 6:5), phần hai trích từ sách Lêvi: "Ngươi sẽ không báo oán, không cừu thù với con cái dân ngươi, nhưng ngươi sẽ yêu mến đồng loại ngươi như chính mình"(Lv 19:18). Ðiều mới lạ là từ trước đến nay chưa có ai, ngoài Ðức Giêsu, đã nối kết hai điều răn trên thành một. Ðối với Ngài, tôn giáo phải là mến Chúa và yêu người. Ðây là một cuộc cách mạng lề luật: đặt ngang hàng sự kính mến Thiên Chúa và thương yêu anh em. Con đường duy nhất người ta có thể minh chứng lòng kính mến Thiên Chúa là việc họ thương yêu kẻ khác. Bởi vì: "Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, thì nó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng nó không trông thấy"(1 Ga 4:20). Ðức Giêsu đã tóm kết tất cả 613 điều luật của dân Do thái vào trong một chữ duy nhất: Mến Yêu. Ngài không chỉ khuyên bảo con người hãy biết sống yêu mến, nhưng còn mạc khải dung mạo Thiên Chúa chính là Mến Yêu: "Thiên Chúa là tình yêu. Ai lưu lại trong tình yêu là lưu lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa lưu lại trong người ấy"(1 Ga 4:16). Ðạo Công giáo thường được gọi là đạo Thiên Chúa hay đạo yêu thương, nhiều người ngoại giáo hay nói như thế. Yêu thương là sự sống nền tảng của con người. Sống mà không yêu là như chết mà biết thở. Ai cũng cần yêu và được yêu. Người sống yêu là người thuộc về Thiên Chúa, "được chúc phúc và tồn tại lâu bền." Người sống yêu là người đang làm chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa cuộc đời. Trái lại, kẻ sống trong hận thù, bất công, ly dị, phá thai, lường gạt, ích kỷ, gian dối, kiêu căng... là những phản chứng của yêu thương. Người luật sĩ, khi nghe câu trả lời của Ðức Giêsu, đã thốt lên kinh ngạc: "Thưa Thầy, đúng lắm..." Và Chúa nói với ông ta: "Ngươi không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu." Không còn xa, tức là gần. Gần thôi chứ chưa phải là ở trong. Thế ra, biết được giới răn quan trọng nhất vẫn chưa là yếu tố quyết định để được ở trong Nước Chúa. Còn phải sống giới răn đó nữa. Mang danh là kẻ có đạo, là người Công giáo thôi, chưa đủ. Người ta còn phải thực thi bác ái yêu thương để thực sự được sống trong an bình và hạnh phúc của Nước Trời.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |