VIỆT NAM GIÁO SỬ Lm Phan Phát Huồn, CSsR PHẦN THỨ TƯ NHỮNG
NĂM KIẾN THIẾT CHƯƠNG BA MƯƠI Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Từ 1888 Ðến 1933 VI. Các nhà Cách mạng Công giáo Việt Nam (1) Như chúng ta thấy, tinh thần yêu nước và lòng mong muốn dành lại độc lập cho đất nước đã lôi cuốn toàn dân vào một cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp, trong đó có các giáo dân và các linh mục mặc dù các vị này biết là có Cộng sản len lỏi vào phong trào ái quốc. Trên phương diện tông giáo, một Mai Lão Bạng (2), một Lưu Yên Ðơn (3), một Trần Hữu Thạnh (4), đã làm rạng danh cho những người giáo dân ái quốc chống thực dân. Nhưng những người đáng nói là ba vị linh mục đặc biệt được mệnh danh là "Bộ Ba Côn Ðảo": Nguyễn Văn Tường, Ðậu Quang Lĩnh và Nguyễn Thần Ðồng (5). Trong khi các ngài đang hoạt động thì bị bại lộ, mật thám Tây đã đến nhà các cha để khám xét đồ lễ, sách vở, kiểm soát các văn phòng, tịch thu tang chứng. lập biên bản và giải vào nhà lao thành phố Vinh. Sau mấy tuần lễ giam cứu điều tra, đánh đập, đối xử tàn tệ, các ông được lệnh đầy đi Côn Ðảo".
1. Mai Lão Bạng (6) Nhà Cách Mạng Duy Tân Giáo Ðồ Hội (7) Người họ đạo Cầu Rầm, thuộc làng Yên Vinh (Làng Vang), tổng Yên Trường, Phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Cụ đã cùng cụ Phan Bội Châu và các linh mục ở xứ Mộ Vịnh, thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ An, Linh mục Chung ở Quảng Bình xây dựng tổ chức "Duy Tân Giáo Ðồ Hội" là một đoàn thể cách mạng tập hợp những người Công giáo dưới lá cờ phong trào Ðông Du và Duy Tân đương thời. Năm 1905, cụ cũng xuất dương qua Nhật Bản. Ðể có danh chính ngôn thuận, Việt Nam Quang Phục Hội thành lập chính phủ lâm thời hải ngoại, do cụ Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể làm chủ tịch. Ðang lúc hoạt động tại Trung Hoa cụ bị bắt cùng với cụ Phan Bội Châu. Ra khỏi tù cụ đi công cán tại Thái Lan. Tại đây có một số giáo dân khá đông, đã sang Thái Lan từ trước, nên gia đình khá giả như ở những giáo khu: Ban Noong Xéng đối diện với bên kia Thakhet (Lào thuộc Pháp), giáo khu Ban Thà thuộc phủ Oubonne, giáo khu Bantha-He thuộc phủ Sakhonnakhonne. Cụ về Thái Lan với trọng trách đưa số giáo dân này gia nhập hàng ngũ cách mạng, đồng thời cũng để kêu gọi họ đóng góp tài chánh cho cách mạng nữa. Cụ hoạt động chưa được bao lâu, thì mật thám Pháp ở Thái Lan đánh được hơi, nên khi đi tới tỉnh Parnam-pho thì bị mật thám bắt giải về nước. Cụ bị lên án 15 năm đầy đi Côn Ðảo. Cho mãi tới năm 1933 Cụ mới được mãn án trở về quê nhà tại Vinh (thị xã Nghệ An).
2. Linh Mục Nguyễn Văn Tường "Linh mục Nguyễn Văn Tường sinh quán tại làng Văn Trường, huyện Quỳnh Lưu. Ông là người thông nho, "Lý sự" đuợc giao trọng trách về khế ước ruộng đất, chuyên môn đi Tòa, đi Tỉnh lo các vấn đề kiện tụng của Nhà Chung." Linh mục Nguyễn Văn Tường chỉ sống tại Côn Ðảo một thời gian rất ngắn: Một phần bị Pháp thực dân tra tấn, một phần vì yếu sức, và không chịu phong thổ nên đã chết tại đó, không hiểu vào thời gian nào. (8)
3. Linh Mục Nguyễn Thần Ðồng Linh Mục Nguyễn Thần Ðồng sinh năm 1867 trong một gia đình công giáo tại làng Nhân Hòa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thụ phong Linh mục năm 1903, qua một thời gian phụ tá, ông được Ðức Cha Pineau Trị bổ nhiệm chánh xứ nhà thờ Chánh Tòa Xã Ðoài. Suốt 8 năm công tác mục vụ ở đó, ông còn hoạt động cho phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục. Cụ Phan Bội Châu coi ông là một đồng chí quan trọng của phong trào. Nhưng hoạt động bị tiết lộ, thực dân bắt ông cùng với cha Ðậu Quang Lĩnh, người Hà Tĩnh và cha Nguyễn Văn Tường. Chúng áp giải về Vinh, tra hỏi về mọi hình thức. Thế rồi năm 1909, thực dân kết án ông chín năm biệt xứ, chúng dẫn ngài và hai cha vào Sàigòn để cho đi an trí. Sau một thời gian bị giam ở khám lớn ở Sàigòn, các ông phải đầy ra Côn Ðảo. Về sau nhờ sự can thiệp của Ðức Cha Sài gòn, ông được giảm án xuống ba năm (9). Hết hạn ấy, thực dân đem ông về thả bơ vơ giữa đô thị Sàigòn. Giám Mục Sàigòn nhận và giao ông cho cha tổng bí thư Tòa Giám Mục là cha Nguyễn Bá Tòng (thời ấy chưa làm Giám mục). Cha Nguyễn Bá Tòng mến phục ông giúp đỡ mọi phương tiện và đem ông phụ lục với cha tại xứ Tân Ðịnh để rao giảng Phúc Âm. Ở đây ông luôn luôn tỏ ra là một linh mục đạo đức, yêu mến chiên lành và tích cực trong việc mở nước Chúa. Thực dân đặt trinh thám rình mò theo dõi từng ngôn ngữ và hành vi của ông nên mộng ông khó thực hiện. Ông giúp việc tông đồ tại Giáo Phận Sàigòn suốt 32 năm và đã lần lượt ở các sở Mặt Bắc, Mỹ Tho, Kinh Ðiền, Rạch Lộn, Phước Khánh, Kim Ngọc và sau hết về hưu trí tại Phước Khánh. Ðến năm 1944 ông về quê hương Nhân Hòa (Vinh) và mất tại đây, ngày 26-12-1944.
4. Linh Mục Ðậu Quang Lĩnh (10) Linh mục Ðậu Quang Lĩnh người làng Yên Phú, huyện Ðức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Hồi còn là học sinh Tiểu Chủng Viện ngài đã nổi tiếng thông minh, giỏi Pháp văn, La văn và Hán ngữ. Năm 1908 ông được thụ phong Linh mục và được Ðức Cha Trị gọi về văn phòng Giám Mục để phiên dịch những cuốn sách Hán văn hoặc Pháp văn ra quốc ngữ. Ông cũng tham gia vào phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục. Công cuộc của ông không tránh được những cặp mắt cú vọ của mật thám thực dân, ông bị bắt ngay ở Tòa Giám Mục khi ông còn dịch cuốn sách hạnh các thánh. Thực dân Pháp không ngần ngại đày ông đi Côn Ðảo. Sau lúc rời Côn Ðảo ông bị bắt buộc phải sống trong giáo phận Sàigòn để xa hẳn những đồng chí xưa kia. Ông được Ðức Cha giáo phận Sàigòn cử làm phó xứ Cái Mơn, sau lên chánh xứ và nhờ tài đức lỗi lạc cuối cùng lên chức cha Quản Hạt, đồng thời làm Giám Ðốc một tu viện trên hai trăm nữ tu. Cuộc đời ông đã hoàn toàn hiến dâng cho Chúa và Tổ Quốc. Hiện (1995) xác ông còn nằm ở Cái Mơn, Vĩnh Long (11).
5. Linh Mục Lê Sương Huệ Ngoài "Bộ Ba Linh Mục Côn Ðảo" không thể bỏ qua một vị linh mục thứ bốn, theo gương các vị tiền bối, từng xả thân vì đại cuộc, góp sức đẩy mạnh công cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân phong kiến, chống một lượt vừa Pháp vừa Nhật trong vùng đất khu tư Thanh Nghệ Tĩnh Bình. Ðó là Linh mục Lê Sương Huệ sinh năm 1888, tại làng Cây Khế, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Hoạt động của ông bắt đầu từ năm 1942 trước tiên là tổ chức và lãnh đạo phong trào chống thực dân, đòi độc lập cho nước nhà khởi xướng ở các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình. Thực dân Pháp đã đàn áp tất cả các phong trào giải phóng. Một ngày trong tháng 6.1944 vào hồi 10 giờ đêm, hai mật thám Nghệ An và Hà Tĩnh đã tới nhà xứ Lập Thạch gọi cửa ông, giả dạng mời ông đi kẻ liệt để chụp bắt ông và dẫn đi luôn. Ông bị giam ở nhà lao Nghệ An và Hà Tĩnh đến tháng 9-1944 thì bị đày vào Trà Khê (Phú Yên). Tháng 3-1945, nhân cuộc đảo chánh Nhật, cha Lê Sương Huệ được phóng thích, nhưng sau khi nghiên cứu kỹ càng về tình hình, thấy rõ dã tâm phỉnh phờ của phát xít Nhật, ngài đã tổ chức và lãnh đạo phong trào chống phát xít Nhật trong bốn tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình. Ðến tháng 8-1945 cha Lê Sương Huệ đứng ra lập ngay đảng Bình Dân Công Giáo. Trong thời kỳ này cha Lê Sương Huệ đã góp phần rất nhiều trong việc thành lập và xây dựng Liên Ðoàn Công Giáo Ðịa Phận Vinh và là linh hồn của lớp cán bộ tiền phong. Hoạt động trong nước chưa đủ, cha Lê Sương Huệ còn gởi nhiều thanh niên đi du học ngoại quốc để đào tạo thêm cán bộ. Công cuộc đang dở dang thì một hôm trên đường từ Sàigòn đi Vĩnh Long, cha Lê Sương Huệ đã bị phục kích và bị sát hại, để lại nhiều luyến tiếc cho những người cách mạng quốc gia. Cha Lê Sương Huệ mãi mãi là linh hồn của cách mạng nhân dân Nghệ Tĩnh Bình từ năm 1942 đến 1948 (12).
VII.- CÔNG ÐỒNG KẺ SẶT (Miền Bắc KỲ) 1900 Ðứng trước những trở ngại do chính phủ thực dân Pháp, cũng như những người quốc gia quá khích gây nên, những nhà Cách Mạng Công giáo Việt Nam đã cho mọi người hiểu rằng: Ðức Tin của người Công Giáo đã giúp họ luôn luôn trung thành với Chúa và Tổ Quốc. Tuy nhiên các Công Ðồng trong thời gian này thường do các Thừa sai Pháp và Espanha điều động đã không đả động đến vấn đề Cách Mạng. Công đồng chỉ chú tâm đến việc củng cố nội bộ qua việc tổ chức các công đồng mà trong thời cấm đạo không tiện tổ chức. Công đồng miền Bắc Kỳ thứ nhất được triệu tập tại Kẻ Sặt, khai mạc ngày 11 tháng 2, 1900. Các nghị phụ chính gồm 7 giám mục: Jose Terres Hiến, OP, (địa phận Ðông) chủ tọa (13). Công đồng diễn tiến trong ba kỳ hội, kéo dài một tháng. Ðây là công đồng quan trọng, các thừa sai Pháp và Espanha đã tiến tới một đường lối hợp tác cho công cuộc truyền giáo trong các giáo phận xứ Bắc (từ sông Gianh trở ra) ở một tình thế mới. Một quy chế được ban hành sau đó, chia làm bốn phần: Phần I (7 đoạn) nhắc đến trách nhiệm và nghĩa vụ của đấng bậc làm thầy: Giám mục, thừa sai, linh mục bản quốc và thầy giảng. Nói về tổ chức nhà Ðức Chúa Lời, nhà trường, vấn đề mọi của làm của chung, và về đời sống tu trì. Phần II (2 đoạn) bàn về tài sản thuộc Giáo Hội: Quản trị, tiêu dùng, sổ sách. Phần III (7 đoạn) về việc ban phát các Bí tích: Siêng năng và theo sách các phép Rôma và sách Công đồng Tứ Xuyên (Trung Hoa). Phần IV (9 đoạn) nói về việc coi sóc bổn đạo: Về luật tham dự Thánh Lễ và kiêng việc xác, kiêng thịt và ăn chay, cùng tổ chức trùm trưởng họ, trường dậy kinh bổn. Công đồng cũng nhấn mạnh việc nhận bổn đạo mới, tra hỏi và tránh bỏ điều mê tín dị đoan, về thời gian thử thách. Cuối cùng Công đồng bàn về việc tổ chức cô nhi viện và bệnh viện (14).
Công đồng Kẻ Sở Năm 1912 là năm Công đồng Bắc Kỳ lần thứ hai được triệu tập tại Kẻ Sở, dưới quyền chủ tọa của Ðức Cha Gendreau Ðông, MEP, địa phận Tây, niên trưởng hàng giám mục xứ Bắc. Công đồng khai mạc ngày 10-11-1912 kéo dài đến ngày 24 cùng tháng, được diễn tiến trong ba phiên họp khoáng đại (15). Công đồng kết thúc, một quy chế gồm các công vụ và sắc lệnh (Acta et Decreta) được ban hành. Còn có sắc Tòa Thánh về việc giải tội cho nữ tu (3.2.1913). Những bản mẫu "interpellatio" (hồi vấn) dành cho các dự tòng đã có vợ nay xin theo đạo và cưới vợ khác, những chỉ thị về việc bác bỏ những dị đoan và những gì có màu dị đoan (16).
Chú thích: 1. Viết theo Cao Vĩnh Phan: Lịch Sử Giáo Phận Vinh. trg. 404-414. 2. Nguyễn Huyền Anh: Danh Nhân Tự Ðiển. trg. 143. 3. Duy Tân Giáo Ðồ (Roneo). Ðông Tùng 33-42 4. Duy Tân Giáo Ðồ (Roneo). Ðông Tùng 33-42. 5. Theo nhiều vị linh mục nói ba vị này bị bắt khoảng năm 1908 1909 cuối đời đức Cha Trị (1886-1909) 6. Trích trong Duy Tân Giáo Ðồ Hội, Ðông Tùng, (Roneo) trg. 28. 7. Hoạt động của hội rất đơn giản: a. Tổ chức các hội buôn hay các công sở công nghệ để làm kinh tài cho phong trào. b. Tuyên truyền giải thích cho các giáo sĩ, giáo dân gột rửa kỳ thị, thành kiến với những gười làm cách mạng chống Pháp. c. Phải ý thức cho được đại nghĩa "hòa hợp dân tộc" để xây khối đại đoàn kết toàn dân phục vụ cách mạng, phụng sự Tổ quốc. d. Vận động các nhà phú hữu trong công giáo đóng góp tài chính nuôi dưỡng phong trào. e. Vận động thanh niên anh tuấn người công giáo du học Nhật Bản. 8. Có người nghe Linh mục Nguyễn Thần Ðồng nói lại cho biết thì cha Tường bị chết trênTàu và bị vất xác xuống biển khi chiếc Tàu đang tiến về Côn Ðảo. Xem: Cao Vĩnh Phan: Lịch Sử Giáo Phận Vinh. trg. 407-408. 9. Như vậy ta có thể biết rõ được rằng năm bị đầy 1909, năm thả về đất liền Sàigòn là 1912, ở lại làm việc ở Sàigòn 32 năm hồi hương năm 1944 và cùng năm đó người qua đời. 10. Luyện Thép số 4, trg. 14, số ra ngày 16.9.1956. 1 1. Cao Vĩnh Phan: Lịch Sử Giáo Phận Vinh. trg. 411-412.12. Cao Vĩnh Phan: Lịch Sử Giáo Phận Vinh. trg. 412-414. 13. Louis Pineau Trị Mep (Nam) Pierre Gendreau Ðông Mep (Tây) Paul Ramond Lộc Mep (Ðoài), Maximo Fernandez Ðịnh Op (Trung Maximiano Velasco, Khâm Op và Alexandre Marcou Thành Mep. 14. Viết theo Bùi Ðức Sinh: Dòng Ðaminh Tại Việt Nam. Tập II trg. 58-59. - Acta et Decreta Primae Regionalis Synodi Tunquinensis habitae A.D. 1900 Kẻ Sở 1905. 15. Tham dự công đồng gồm có 4 giám mục: Ramond Lộc Mep địa phận Ðoài), Velasco Khâm Op (Trung), và hai bề trên địa phận Agrall Ðoài Mep quyền đại diện Tông Tòa địa phận Nam và Bareille Sơn Mep đại diện đức cha Marcou Thành địa phận Thanh. Các vị sau đây cũng được mời đến tham dự và giúp việc công đồng: Ðức cha Bigolet Bính Mep giám mục phó địa phận Tây; năm cha chính: Gispert An Op Ðông, Schilickklin Linh Mep (Tây), Hue Hương Mep (Ðoài) và 5 thừa sai: Chevènement Nghi (Thanh) Serra Thiều .P (Trung), Daleine Tân Mep (Nam), Ðiền Hạnh Op (Ðông) và Gordaliza Phúc Op (Bắc)
- Acta et Decreta Primae Regionalis Synodi Tunquinensis habitae in pago Kẻ Sở D 1912 3 Sở 1914 trg 12. (còn tiếp) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |