MÁU ÐÀO TRUNG HOA Thế Hùng
Như thế, cuối cùng thì người Công Giáo tại quốc gia có dân số đông nhất thế giới đã có được các thánh tử đạo của riêng họ mặc dầu các ngài được ghi vào danh sách các thánh tử đạo có trễ hơn so với các nước Phi Luật Tân, Hàn Quốc và Việt Nam. Thật ra, khi nhìn lại dòng lịch sử, người ta biết rằng Kitô giáo đã đến Trung Hoa sớm hơn nhiều so với các nước kia.
Khởi Ðầu Chứng Tích Kitô Giáo Từ các chứng từ lịch sử, người ta biết rằng Kitô giáo đã được truyền đến Trung Hoa khi một vị tu sĩ tên là Alopen thuộc bè phái Nestôriô từ Syria đến Trường An, kinh đô nhà Ðường lúc bấy giờ vào năm 635 giảng dạy về Kitô giáo với tên gọi là "Minh Ðạo". (Lạc thuyết Nestôriô vào thế kỷ thứ 5 cho rằng Ðức Kitô chỉ là một con người được tiền định mặc lấy thiên tính và Ðức Maria chỉ là mẹ của con người mang tên Giêsu chứ không phải là Mẹ Thiên Chúa. Lạc thuyết này đã bị Giáo Hội lên án ở Công đồng Êphêsô, sau đó đã biến khỏi Âu châu và lan truyền sang các nước châu Á). Ngay cả Hoàng đế nhà Ðường sau khi ra lệnh điều tra, thấy giáo thuyết mới này hữu ích cho nên vào năm 638 đã ra sắc chỉ công nhận "Minh Ðạo" là cần thiết cho đời sống người dân. Chính nhà vua đã cho xây một tu viện và đây là tu viện Kitô giáo đầu tiên ở Trung Hoa và hoạt động trên hai thế kỷ cho đến khi có sự ganh tị với sự thành công của Phật giáo từ phía những người theo Khổng giáo và Lão giáo khiến nhà vua ra một sắc chỉ vào năm 845 cấm truyền bá các tôn giáo ngoại quốc. Hậu quả là các cộng đoàn Nestôriô đã di chuyển sang Trung Á mặc dầu khi Marco Polo người Ý đến Trung Hoa vào cuối thế kỷ 13 đã cho biết còn tìm thấy các cộng đoàn Nestôriô sống rải rác trong nước này.
Dòng Phanxicô Ðến Trung Hoa Vào giữa thế kỷ 13, Trung Hoa có cơ hội đón nhận đạo Công Giáo khi Ðức Thánh Cha Innocent IV và Vua Lui IX của Pháp gửi vài đoàn thừa sai Phanxicô và Ðaminh đến đây, bấy giờ do người Mông Cổ cai trị lập nên nhà Nguyên. Nhưng công việc truyền giáo thật sự được bắt đầu với Cha Giovanni da Motecorvino dòng Phanxicô vào năm 1294 khi ngài đặt chân đến Kambalik (Bắc Kinh ngày nay). Năm 1307, Ðức Giáo Hoàng Clêmentê V đặt ngài làm Tổng Giám mục Bắc Kinh và Giáo Chủ miền Viễn Ðông. Khoảng đầu thế kỷ 14, có khoảng 30.000 người Công Giáo tại Trung Hoa. Công việc truyền giáo của Ðức Cha Motecorvino và các tu sĩ Dòng Phanxicô đạt được nhiều thành quả tốt đẹp với hàng ngàn người được rửa tội, trong đó có một hoàng tử Mông Cổ sau khi trở lại đạo giúp xây ngôi nhà thờ Công Giáo đầu tiên tại Trung Hoa. Các cha Phanxicô cũng đã dịch Kinh Thánh ra tiếng Mông Cổ. Tuy nhiên, với việc nhà Minh lên cai trị vào năm 1368, Kitô hữu một lần nữa bị áp bức.
Matteo Ricci Và Cuộc Truyền Giáo Của Dòng Tên Không nản lòng, nhiều vị thừa sai thuộc Dòng Tên, Ða Minh, Phanxicô, và Augustinô đã cố tìm cách trở lại Trung Hoa nhưng không được triều đình nhà Minh chấp nhận. Mãi cho đến năm 1583, hai linh mục Dòng Tên người Ý là Matteo Ricci và Michele Ruggiero mới được phép lưu ngụ tại Zhaoquing, tỉnh Quảng Ðông. Ðể có thể trình bày đức tin Công Giáo theo một cách thức có thể chấp nhận được với não trạng người bản xứ, hai ngài đã học hỏi kỹ lưỡng ngôn ngữ và văn hoá Trung Hoa, sống như tu sĩ Phật Giáo và Nho sĩ. Ngoài ra kiến thức uyên bác của các ngài trong những lãnh vực khoa học tự nhiên, toán học, địa lý và thiên văn cũng đã khiến quan quyền và học giả Trung Hoa khâm phục đến nỗi hai ngài được triều đình nhà Minh mời về Bắc Kinh. Tại đây, Cha Ricci được nhà vua tin tưởng bổ nhiệm làm quan Ðài Khâm thiên giám (đài thiên văn) và giúp sửa chữa lại lịch để việc đồng áng của người dân được tổ chức dễ dàng. Ngoài ra, Cha Ricci cũng có công soạn cuốn giáo lý Công Giáo đầu tiên bằng tiếng Hoa và chữ Thiên Chủ do ngài đặt ra để nói về Ðức Chúa Trời vẫn còn được sử dụng trong phụng vụ Công Giáo Trung Hoa hiện nay. Vào năm 1700 Giáo hội Công Giáo tại Trung Hoa gia tăng mạnh mẽ lên đến khoảng 300.000 giáo hữu. Với việc nhà Mãn Thanh thay thế nhà Minh lên cầm quyền ở Trung Hoa, Giáo hội Công Giáo ở Trung Hoa cũng trải qua nhiều phen sóng gió. Trong thời kỳ này, người được phúc tử đạo đầu tiên là Cha Francisco Fernandez de Capillas, dòng Ða Minh. Năm 1648, ngài bị chặt đầu khi lần chuỗi mân côi với những giáo hữu khác. Nhờ kiến thức uyên bác về văn hoá và khoa học của các vị thừa sai, đặc biệt là của các cha dòng Tên, hoàng đế Khang Hy (1654-1772) của Mãn triều đã cho phép các thừa sai tự do truyền đạo. Tuy nhiên, sự dễ dãi này của nhà vua không kéo dài khi xảy ra vấn đề liên quan đến "nghi lễ Trung Hoa". Sự khác biệt về cách nhìn truyền giáo giữa giáo sĩ dòng Tên chủ trương chấp nhận một số tập tục của Trung Hoa như thờ cúng tổ tiên, và giáo sĩ dòng Phanxicô và Ðaminh xem các việc này như là mê tín dị đoan, cuối cùng đã dẫn đến sự kiện các Ðức Giáo Hoàng ra những tông sắc cấm đoán lễ nghi thờ cúng tổ tiên trong các năm 1704, 1710, 1715, 1742. (Nghi lễ tôn kính tổ tiên sau cùng được Toà Thánh chấp nhận khi Ðức Giáo Hoàng Piô XII ban Huấn dụ Plane Compertum vào ngày 08.12.1939). Hậu quả là các nhà thừa sai ngoại quốc bị trục xuất, những thánh đường bị triệt hạ, giáo dân bị bách hại. Cuối cùng, việc dòng Tên bị Toà Thánh cấm chỉ hoạt động vào năm 1773 đã làm suy yếu thêm công cuộc truyền giáo tại Trung Hoa. Thời kỳ từ 1796-1820 chứng kiến Giáo hội Công Giáo Trung Hoa trải qua những đợt bách hại gay gắt. Thánh linh mục Augustinô Tchao đã tử đạo trong giai đoạn này. Trong thời gian từ 1800 đến 1850, số người Công Giáo sút giảm chỉ còn khoảng từ 200.000 đến 250.000 mà thôi. Hàng giáo sĩ cũng giảm sút với chỉ độ 40 thừa sai châu Âu và 80 linh mục người Trung Hoa.
Trong Cơn Sóng Gió
Ðiều gây khó xử cho Kitô hữu là chính những chính khách của các cường quốc Tây phương mượn cớ bảo vệ Kitô hữu để kiếm lợi kinh tế cho họ mà thôi. Như trường hợp nước Pháp và nước Anh đã lợi dụng việc Cha Augustine Chapdelaine, dòng Thừa sai Paris, (đồng thời là một trong 120 vị tử đạo được tôn phong hiển thánh vừa qua), bị quan quyền Trung Hoa giết hại vào năm 1856 để tuyên chiến với triều đình Mãn Thanh nhằm đạt mục đích kinh tế. Cuối cùng, Trung Hoa phải nhượng bộ ký thêm một hiệp ước vào năm 1862 cho phép mở thêm những thương cảng mới và thương nhân ngoại quốc tự do lưu chuyển hàng hoá trong nước. Về mặt tôn giáo, hiệp ước cho phép mọi Kitô hữu được tự do hành đạo và các nhà thừa sai được phép di chuyển tự do trong nước Trung Hoa. Trong khi một mặt, những điều khoản trong hiệp ước tạo điều kiện dễ dàng cho các nhà thừa sai, nhưng mặt khác, điều đó khiến Kitô hữu tại Trung Hoa bị nhiều đồng bào của họ thù ghét xem là "ngoại quốc" hay "đầy tớ cho đế quốc". Thật ra, trong khi thương gia và chính khách Tây phương sống trong những khu vực cách biệt (nơi chó và người Trung Hoa không được phép), các nhà thừa sai Công Giáo và Tin Lành đã đi khắp xứ, san sẻ cuộc sống của những người nghèo và nông dân, mở trường học, cô nhi viện, bệnh xá, dạy kỹ thuật trồng trọt,.
Toà Thánh Trong Thế Tiến Thoái Lưỡng Nan Thực ra, Toà Thánh đã nhận thức tính chất nghiêm trọng của vai trò bảo hộ tự do tôn giáo mà nước Pháp tự gán cho mình ở Trung Hoa. Trong hạ bán thế kỷ 19, có những cuộc bách hại các Kitô hữu tại Trung Hoa. Vì thế, vào năm 1885 Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã thử lập quan hệ ngoại giao trực tiếp với hoàng đế nhằm thuyết phục triều đình Mãn Thanh phải phân biệt giữa sự hiện diện của các nhà thừa sai ở Trung Hoa và các cường quốc Tây phương xâm lăng nhằm mục đích kinh tế. Nhằm tránh đụng chạm với chính quyền Pháp, một phái bộ ngoại giao Toà Thánh được cử đi một cách bí mật. Ngày 06.02.1885, Cha Francesco Giulianelli khởi hành từ Rôma mang theo một lá thư riêng của Ðức Lêô XIII cho hoàng đế Trung Hoa. Ðến Bắc Kinh ngày 2 tháng 4, Cha Giulianelli giải thích sứ mạng của mình cho Ðại diện tông toà là Ðức Cha Tagliabue và kiếm cách gặp hoàng đế mà không cho người Pháp biết. Qua sự trung gian của ông Leart, người Ái Nhĩ Lan, và là viên trưởng quan thuế của triều đình, Cha Giulianelli đã yết kiến hoàng đế vào ngày 8 tháng 4. Ðề nghị trong lá thư của Ðức Lêô XIII được đánh giá cao, và năm sau 1886, Trung Hoa chính thức yêu cầu mở quan hệ ngoại giao với Toà Thánh. Nhưng do sự chống đối kịch liệt của chính phủ Pháp, mọi cố gắng thương thảo giữa Toà Thánh và Trung Hoa gặp thất bại. Chính phủ Pháp còn đe doạ hủy bỏ liên lạc ngoại giao giữa ToàThánh và nước Pháp. Ðức Lêô XIII nhằm tránh cho Giáo hội tại Pháp khỏi bị tổn thất đã phải đình hoãn vô hạn định việc gửi một vị sứ thần đến Trung Hoa.
Nghĩa Hoà Ðoàn Và Cuộc Bách Hại Kitô Hữu Mặc dầu 120 vị tân tử đạo được Ðức Gioan Phaolô tôn phong ngày Chúa nhật 01.10 vừa qua đã chết tại Trung Hoa trong khoảng thời gian từ 1648 đến 1930, nhưng đa số (86 người) bị giết hại vào năm 1900. Con số này nói lên tính chất tàn bạo của cuộc bách hại Kitô hữu nói chung và người Công Giáo nói riêng tại Trung Hoa vào đầu thế kỷ 20. Số là vào năm 1898, một phong trào nổi lên ở Trung Hoa lấy tên là Nghĩa Hoà Ðoàn (Boxer Rebellion), bắt nguồn từ những hội kín chuyên giảng dạy về việc phục hồi danh dự Trung Hoa và trục xuất người ngoại quốc về nước. Ðược sự hậu thuẫn của Từ Hi Thái hậu, quân Nghĩa Hoà Ðoàn mà con số có thể lên đến 140.000 bắt đầu tấn công các cơ sở của Tây phương trong nhiều vùng khác nhau. Hội này xác định 3 loại kẻ thù: người ngoại quốc tại Trung Hoa; Kitô hữu, kể cả Kitô hữu bản xứ; thương nhân Trung Hoa buôn bán với ngoại quốc. Riêng về việc đối xử với Kitô hữu, chương trình hành động của họ như được ghi trong cẩm nang làphải đưa ra toà vàsau khi điều tra, nếu đúng là Kitô hữu thì bắt hoặc phải chối đạo hoặc chịu chém đầu; nếu Kitô hữu nào bỏ đạo thì được sửa sai và đưa ra toà lần nữa để quyết định số phận. Ðứng trước những cuộc tấn công dã man của Nghĩa Hoà Ðoàn với sự tiếp tay của quan quân triều đình, tại một số nơi Kitô hữu đã tổ chức làng mạc thành những công sự nhằm bảo vệ bản thân. Nhưng với sức người có hạn, các Kitô hữu cuối cùng đã đành phải bỏ mình. Ðó là trường hợp của một làng Kitô hữu ở Shujahe bị nã đại bác vào hai ngày 18 và 19 tháng 7 để rồi cuối cùng hai linh mục và 3.000 Kitô hữu, trong đó có 1.700 phụ nữ và 500 trẻ em bị thảm sát ngay trong nhà thờ. Ðã có nhiều tấm gương tử đạo anh dũng điển hình cho giai đoạn bi thương này của Giáo hội Trung Hoa, chẳng hạn như trường hợp của bé gái Anna Vương, 14 tuổi.
Gương Tử Ðạo Anna Vương Anna Vương sinh năm 1886 trong một gia đình Công giáo ở Majiazhuang, vùng Weixian thuộc miền nam tỉnh Hồ Bắc. Mẹ của Vương chết khi em mới được 5 tuổi. Khi còn nhỏ, em tỏ ra là một người có cá tính mạnh mẽ. Vào ngày 21.07.1900, một nhóm quân Nghĩa Hoà Ðoàn đến vùng em ở. Họ bắt một nhóm Kitô hữu và cảnh cáo: "Chính phủ đã cấm theo đạo tây phương. Nếu tên nào chối đạo sẽ được trả tự do. Nếu không sẽ bị giết". Mẹ kế của Anna quyết định bỏ đạo và giục Anna cũng làm như thế. Nhưng Anna từ chối và lớn tiếng kêu: "Tôi tin vào Chúa. Tôi là một Kitô hữu. Tôi không muốn chối Chúa. Chúa Giêsu cứu tôi!" Anna và một số Kitô hữu cầu nguyện thâu đêm. Sáng hôm sau, quân Nghĩa Hoà Ðoàn đem các Kitô hữu nào không chịu bỏ đạo ra pháp trường. Ra pháp trường, Anna nhìn một cảnh xử tử một em bé 9 tuổi tên là Anrê Vương Tianquing. Khi những người lương muốn cứu em nhỏ, mẹ em Anrê bình thản nói: "Tôi là một Kitô hữu, con tôi là một Kitô hữu. Các ông phải giết cả hai chúng tôi." Bé Anrê can đảm quỳ xuống; em nhìn mẹ mỉm cười. Rồi một nhát rìu của lý hình giáng xuống đầu em. Có 5 phụ nữ cùng bị giết với con cái của mình kể cả một em bé 10 tháng tuổi: một tên lý hình nắm một chân em, cắt em làm đôi và ném xuống chân người mẹ đã chết. Ðến lượt Anna, em quỳ xuống cầu nguyện to tiếng, mắt ngước lên trời. Một tên trong bọn hỏi: "Mày hãy bỏ đạo thì được sống". Nhưng Anna không một câu trả lời. Bị hỏi vặn, Anna đáp: "Tôi là một Kitô hữu. Tôi thà chết hơn là bỏ đạo". Tên này độc ác chặt lìa cánh tay phải của em và lặp lại câu hỏi có bỏ đạo hay không. Bị đánh tiếp tục, Anna nói: "Cửa thiên đàng đã mở ra rồi" và em thầm thì danh Chúa Giêsu 3 lần và cuối đầu. Tên thổ phỉ gian ác liền giáng chặt đầu em.
Bảy Nữ Tu Dòng Phan Sinh Thừa Sai Ðức Mẹ Một trường hợp khác là cái chết anh dũng của 7 nữ tu dòng Phan Sinh Thừa Sai Ðức Mẹ (FMM). Năm 1898, Ðức Cha Francesco Fogolla dòng Phan Sinh, giám mục phụ tá ở tỉnh Shanxi đến Rôma và yêu cầu các nữ tu thừa sai đến làm việc trong giáo phận ngài. Tại Rôma, ngài đã gặp Mẹ Bề trên cũng là đấng sáng lập Dòng Maria della Passione. Mẹ Bề trên liền gửi bảy nữ tu trẻ là Anna Driek (từ Hoà Lan), Clelia Nanetti và Maria-Assunta Giuliani (Ý), Giovanna M. Kerguin, Irma Grivot và Anne Moreau (Pháp) và Poal Jeuris (Bỉ). Ðến nhiệm sở tại Trung Hoa ngày 04.05.1899, các sơ đã mau chóng mở một cô nhi viện và một bệnh xá. Khi có cuộc nổi dậy của Nghĩa Hoà Ðoàn, Kitô hữu tại Shanxi bị cô lập. Ngày 29.06.1900 viên tổng đốc tỉnh Shanxi ra lệnh các trẻ mồ côi do các sơ chăm sóc phải được giao cho chùa. Một tuần sau, y mời tất cả các thừa sai ngoại quốc lên thủ phủ với cớ là để bảo vệ tính mạng họ. Ngày 09.07.1900, viên quan đích thân cùng với một nhóm vũ trang dẫn tù nhân ra ngoài phố và bắt đầu cuộc thảm sát. Các sơ ôm nhau và hát các ca vịnh ngợi ca Thiên Chúa và đưa đầu ra để chặt. Trong số các nạn nhân của đợt giết hại dã man này còn có 2 giám mục, 3 tu sĩ, 5 chủng sinh và 9 giáo dân Trung Hoa. Chính viên tổng đốc đã tự tay giết chết 2 giám mục, móc tim và ruột của các ngài để làm gương cho các ông quan khác và sau đó đem quăng ra cửa thành làm thức ăn cho chó và diều hâu. Mặc dầu cuộc bách hại dã man do Nghĩa Hoà Ðoàn
khởi xướng kéo dài chỉ vài tháng, số người bị
giết vì đạo Chúa đã lên đến khoảng hơn 30.000 người,
trong đó kể cả 6 giám mục, 39 thừa sai Âu châu, 7
thừa sai Trung Hoa, 9 tu sĩ Âu châu. Hầu như tất cả nhà
thờ và trung tâm từ thiện bị phá hủy; đó là chưa
nói đến thiệt hại về nhà cửa của giáo hữu cũng
như sản nghiệp, mùa màng. Hàng ngàn phụ nữ trở
thành goá bụa và nhiều trẻ em lâm phải cảnh mồ côi.
Giòng Máu Tử Ðạo: Sức Sống Ðức Tin Kỳ lạ thay, sau cuộc bách hại dã man của Nghĩa Hoà Ðoàn, hoạt động truyền giáo và sức sống Giáo hội Công Giáo Trung Hoa lại mãnh liệt hơn bao giờ hết. Cho đến năm 1948, một năm trước khi cộng sản nắm chính quyền, có 2.676 linh mục bản xứ, 3.015 linh mục ngoại quốc, 924 đại chủng sinh Trung Hoa và 2.705 chủng sinh ở tiểu chủng viện. Về nữ tu thừa sai cũng gia tăng không kém, từ 10 lên đến 58 cộng đoàn với tất cả là 6.927 nữ tu. Dân số Công Giáo cũng tăng từ 750.000 lên đến gần 4 triệu. Mặc dầu danh sách 120 thánh tử đạo Trung Hoa đưa ra vị tử đạo gần đây nhất chết vào năm 1930, Giáo hội Công Giáo Trung Hoa thực sự vẫn còn tiếp tục chịu đau khổ để làm chứng cho Ðức Kitô xuyên suốt thế kỷ 20. Một vài trường hợp điển hình:
Kết Luận Trong Thông điệp "Ngàn Năm Thứ Ba Ðang Ðến" để chuẩn bị cho việc đón mừng Ðại Năm Thánh 2000, Ðức Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng: "Vào cuối đệ nhị thiên niên kỷ, Hội Thánh một lần nữa trở thành Hội Thánh của các vị tử đạo. Những cuộc bách hại các tín hữu - linh mục, tu sĩ, và giáo dân - đã gieo mầm tử đạo ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Chứng tá của họ không được phép rơi vào quên lãng." Cùng với hàng triệu triệu người Công Giáo năm châu đã đổ máu đào ra để làm chứng cho Ðức Kitô trong suốt thế kỷ 20, sự kiện 30.000 tín hữu Trung Hoa hy sinh mạng sống mình vào năm 1900, trong số đó 86 được tôn phong hiển thánh, đã góp phần làm tươi thắm thêm những trang sử của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ và vực dậy niềm hy vọng của cả nhân loại như bị chôn vùi trong bóng đêm sự dữ của thù ghét và bách hại. Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, người Công Giáo vững lòng làm chứng cho Ðức Kitô và tình yêu cứu độ của Ngài dành cho nhân loại bởi được hiệp thông trong tinh thần với những người môn đệ trung kiên nhất của Ngài, các vị tử đạo, trong đó có các vị tử đạo Trung Hoa. (Tài liệu của Cơ quan Truyền thông Fides thuộc Bộ Truyền Giáo, "The Catholic Martyrs of the Twentieth Century" của Robert Royal, Nguyệt san "30 Jours" Février 1997) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |