TRONG DÒNG ÐỜI

Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

HAI CHIẾC SỌ - MỘT MỐI TÌNH

 

Cha Thánh Anphong, Tổ Phụ Dòng Chúa Cứu Thế, thường nói rằng hai vật dụng mỗi gia đình Công Giáo cần có trong nhà để được nhắc nhở họ về các chân lý đời đời. Ðó là Tượng Chịu Nạn và Tượng Sọ Người. Tượng Chịu Nạn là dấu chỉ để mọi người ghi nhớ Tình Yêu vô biên Thiên Chúa dành cho nhân loại cũng như ác quả của tội lỗi. Và Tượng Sọ Người nhắc mỗi người nhớ rằng họ sẽ phải chết và chịu phán xét để đời đời hưởng hạnh phúc trên Thiên Ðàng hay đời đời trầm luân trong Hỏa Ngục, tùy việc họ chấp nhận hay khước từ Tình Yêu Thập Tự.

Vì vậy, một trong những điều đáng nhớ nhất đối với tôi trong cuộc Hành Hương Năm Thánh tại Giáo Ðô Rôma hồi đầu năm nay là việc tôi được ngắm nhìn hai chiếc sọ người!!!

Chiếc sọ người thứ nhất tôi chẳng những được ngắm nhìn mà còn được tận tay đụng tới là chiếc sọ của Thầy Vito Curzio (1706-1745). Thầy là trợ sĩ đầu tiên của Dòng Chúa Cứu Thế. Sau ngày thành lập dòng ít lâu, tất cả những thành viên đầu tiên của dòng đều lìa bỏ Cha Thánh Anphong, thày là người duy nhất trung thành ở lại trong dòng với Cha Thánh. Chiếc sọ của thày được giữ tại nhà đầu tiên của Dòng Chúa Cứu Thế ở Pagani (Ý), cũng là nơi hiện giữ hài cốt Cha Thánh Anphong. Khi bàn tay tôi đụng vào chiếc sọ mát lạnh của thày, tôi thầm cầu nguyện xin thày cầu cùng Chúa cho tôi biết noi gương thày, sống như một sĩ tử đích thực của Dòng Chúa Cứu Thế và bền đỗ đến cùng trong dòng thánh. Từ hôm ấy, ngày 25-01-2000, mỗi ngày tôi vẫn cầu nguyện với thày và các thánh trong dòng theo ước nguyện trên.

Chiếc sọ người thứ hai tôi được chiêm ngắm là chiếc sọ của Thày Giảng Anrê Phú Yên (1625-1644), vị tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam. Tôi được chiêm ngắm chiếc sọ của vị anh hùng tử đạo này tại Nhà Mẹ của Dòng Tên, vào ngày 03-02-2000, cùng với anh chị em tham dự tuần tĩnh huấn dành cho linh mục và tu sĩ Việt Nam tại Rôma, sau khi được tin thày sẽ được Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II phong chân phúc vào ngày 05-03-2000.

Khi đọc hạnh tích Thày Anrê trong tác phẩm Dòng Máu Anh Hùng của Cha Vũ Thành, tôi nhận thấy Thiên Chúa đã ban tặng thày những ân sủng thật lạ lùng, để thày xứng danh là vị anh hùng tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam.

Như bổn mạng của thày là Thánh Anrê Tông Ðồ, một trong bốn tông đồ đầu tiên của Chúa Giêsu và cũng là người giới thiệu người anh em của ngài là Thánh Phêrô cho Chúa Giêsu, Thày Anrê Phú Yên cũng là người Kitô hữu Việt Nam đầu tiên được hy sinh tính mạng để làm chứng cho Chúa Kitô và hiên ngang hãnh diện giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người dân Việt.

Như Thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi của Hội Thánh Hoàn Vũ, trước khi chịu ném đá chết đã thốt lên: "Này tôi thấy các tầng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa" (Cv 7:56), Thày Anrê trước khi bị giết vì đức tin Công Giáo cũng đầy tin yêu nói với mọi người: "Tôi tưởng như cửa Thiên Ðàng đã mở ra cho tôi, tôi thấy Chúa Giêsu đang đứng trước cửa đó để đón nhận tôi, bao nhiêu thánh tử đạo giơ cho tôi xem mũ triều thiên và cành thiên tuế".

Và như Thánh Stêphanô đã đầy lòng mến yêu phó thác gọi tên Giêsu trước lúc lìa trần: "Lạy Chúa Giêsu, xin chịu lấy hồn tôi" (Cv 7:59), Thày Anrê cũng không ngớt kêu tên cực trọng Giêsu và Maria trước khi chết. Hơn nữa, Cha Ðắc Lộ còn làm chứng là vẫn còn nghe tên Giêsu phát ra từ cuống họng thày liền sau khi thày bị chặt đầu. Tác giả Dòng Máu Anh Hùng nhận xét: "Thánh Danh Giêsu không thể phát ra đàng miệng thày nữa, thì lại phát ra từ trái tim thày, ngay đang lúc thôi đập để tỏ rằng trái tim này dầu có chết cũng còn giữ mãi Thánh Danh kia, và khi không thể dùng miệng lưỡi mà ca ngợi tên cực trọng Giêsu được nữa thì thày dùng chính vết thương mình mà ca ngợi Thiên Chúa".

Nếu khi ngắm nhìn chiếc sọ Thày Vitô, tôi ao ước có được tấm lòng trung thành kiên vững của thày trong ơn gọi tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, thì khi ngắm nhìn chiếc sọ của Thày Anrê, tôi khao khát có được tình yêu nồng nhiệt của thày dành cho Chúa Giêsu. Dù hai vị đã có hai cuộc sống và hai cái chết khác nhau, nhưng cả hai chỉ có một lẽ sống, một mối tình. Ðó là sống và chết vì tình yêu duy nhất và tuyệt đối dành cho Chúa Giêsu!

Lẽ sống đó, tình yêu đó đã được Thày Anrê trân trọng trao lại cho mọi người với những lời trăn trối thật chân tình thiết tha sau:

"Hỡi anh chị em, đối với Chúa Giêsu rất yêu dấu, chúng ta hãy lấy tình yêu mà đáp lại tình yêu. Chúa đã chịu chết và đau khổ vì chúng ta, chúng ta hãy lấy sự sống mà đáp lại sự sống".

Thật sung sướng như được ôn lại những lời nhắn nhủ quý giá trên của Thày Anrê, khi tôi được cùng anh em trong dòng đọc Kinh Dọn Mình Chết Lành mỗi lúc đêm về như sau:

"Lạy Chúa con, con biết thật con sẽ chết. Có khi con chỉ còn sống được ít phút nữa mà thôi. Có khi đêm nay con vào giường nằm nghỉ, mà sáng mai chẳng còn chỗi dậy nữa. Cho nên Chúa dặn bảo con, dọn mình vào giường ngủ như là vào mồ chết vậy.

"Lạy Chúa con, con biết thật đến giờ lâm chung, con sẽ ước ao, chớ gì khi sống, con chẳng có phạm tội, lại hết lòng kính mến Chúa luôn, lại vì Chúa mà con thương yêu người ta như mình con vậy. Con ước ao sống và chết trong sự kính sợ Chúa. Ôi Chúa con, con xin phó dâng linh hồn con cho Chúa. Vì Chúa đã mua nó giá rất cao, xin Chúa chớ để nó ra vô phước, mà chẳng nhờ đặng Máu Thánh Chúa đã đổ ra mà cứu chuộc nó.

"Lạy Thánh Thiên Thần hộ thủ, lạy Thánh Bổn Mạng con, lạy Các Thánh Nam Nữ trên Nước Thiên Ðàng, xin hãy thỉnh cầu cho con được sống trong sự kính sợ Chúa, chết trong sự yêu mến Chúa, và làm tôi Chúa ở đời này, hầu ngày sau được hưởng cùng Chúa trên Thiên Ðàng. Amen.

"Giêsu-Maria-Giuse, con xin dâng lòng con, trí khôn con, và sự sống con trong tay Ba Ðấng.

"Giêsu-Maria-Giuse, xin giúp con trong giờ hấp hối lâm chung.

"Giêsu-Maria-Giuse, xin cho con được chết bình an trong tay Ba Ðấng".

Giêsu, Chúa con ơi, con cảm ơn Chúa thật nhiều, đã cho con được chiêm ngắm hai chiếc sọ của Thày Vitô và Thày Anrê, các chứng nhân đức tin của Chúa, để được các ngài dạy con biết sống và chết cho tình yêu Chúa. Con cũng cảm ơn Chúa cho con được cùng anh em con đọc lời kinh tha thiết trên đây hàng đêm. Xin Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse và các thánh, giúp con luôn sống và chết vì say yêu Chúa, như Chúa đã sống và chết vì yêu con. Amen.

(Oct 17-18, 2000)

_______________________________________________________________

NHẬN MÌNH HÈN YẾU

Có nhiều định nghĩa về các thánh. Nhưng định nghĩa "các thánh là những người tội lỗi biết cố gắng hối cải vươn lên không ngừng" là định nghĩa tôi thích hơn cả. Vì vậy, trong hạnh tích các vị tử đạo Việt Nam đã được Giáo Hội tôn phong hiển thánh, tôi thích nhất là hạnh tích của ba vị thánh binh sĩ: Augustinô Phạm Viết Huy (1794-1839), Nicôla Bùi Ðức Thể (1792-1839) và Ðaminh Ðinh Ðạt (1803-1839).

Quan tổng trấn Nam Ðịnh bấy giờ là Trịnh Quang Khanh theo lệnh Vua Minh Mệnh đã thề tiêu diệt đạo Công Giáo. Ông đã thực hành ý định này một cách dữ tợn hơn tất cả các quan chức khác trong lịch sử bách đạo tại Việt Nam.

Năm 1838, có chừng 500 binh sĩ Công Giáo tại Nam Ðịnh. Trịnh Quang Khanh cho điệu tất cả đến hầu tòa. Trước khi hầu tòa, ông cho họ ăn uống no say. Khi các ông bị điệu đến, quan tổng trấn chễm chệ ngồi xử án cùng với các chức sắc dân sự và quân sự. Quan cho hàng ngàn lính võ trang bao vây những người lính Công Giáo và cho họ thấy các lý hình với đủ mọi hình cụ tra tấn dữ tợn để đe dọa các ông. Nhiều cây thập giá cũng được quan truyền đặt sẵn để lính Công Giáo bước qua tỏ dấu bỏ đạo. Sau khi hứa hẹn những lợi lộc lính Công Giáo sẽ được hưởng nếu họ bỏ đạo và đe dọa những hình phạt họ phải chịu nếu tiếp tục giữ đạo, quan truyền cho họ phải lần lượt bước qua thập giá.

Sau lệnh truyền của quan tổng trấn, phần lớn binh lính Công Giáo đã vâng lời quan chối đạo qua việc tự nguyện bước qua thập giá, một số khác bị quân lính dùng sức lôi họ qua thập giá rồi kể như họ đã bỏ đạo, và một số khác dùng tiền hối lộ để khỏi bị lôi qua thập giá cũng được quan kể như đã bỏ đạo.

Cuối cùng, chỉ còn 15 người không chịu để lính kéo qua thập giá và nhất định tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô. Họ liền bị đánh đập, tra tấn, đeo gông và tống giam vào ngục. Sau đó, quan bắt bạn bè và vợ con các ông đến để khuyên các ông bỏ đạo. Sau những đợt tra tấn và dụ dỗ này, sáu ông nữa đã bỏ đạo. Thêm một đợt tra tấn nữa, chỉ còn năm ông xưng đạo. Và lại thêm một đợt tra tấn dã man nữa, cuối cùng chỉ còn ba ông Augustinô Huy, Nicôla Thể và Ðaminh Ðinh Ðạt vẫn bất khuất xưng đạo.

Dù bị tra tấn thật dã man và bị quan chức cùng thân nhân dụ dỗ đủ cách, ba ông vẫn kiên trung với đức tin Công Giáo. Các ông còn gia tăng cầu nguyện và ăn chay bốn ngày Thứ Hai, Thứ Tư, Thứ Sáu và Thứ Bảy mỗi tuần để xin ơn bền đỗ. Các ông cũng xin những tín hữu đến thăm viếng thêm lời cầu nguyện cho các ông với những lời chân thành: "Xin các ông các bà cầu cho chúng tôi để chúng tôi bền vững vì chúng tôi rất yếu đuối".

Ðây cũng là lúc để các ông có dịp cải đổi đời sống một cách triệt để. Ông Huy lúc trước có hai vợ. Nay ông đã dốc lòng thống hối, xưng thú tội lỗi và quyết bỏ vợ hai để giữ luật nhất phu nhất phụ của Chúa.

Tháng 10 năm 1838, Trịnh Quang Khanh đưa ba ông ra ngoài thành cho xỉ vả 21 ngày liên tiếp rồi lại tống giam và tra tấn đủ cách. Nhưng các ông vẫn một lòng trung kiên. Sau đó, quan lại bắt anh em, họ hàng và người làng vào khuyên dụ các ông bỏ đạo. Thấy không có kết quả, quan truyền đánh đòn một thân hữu của các ông. Quá thương hại người thân vì mình mà phải chịu đòn, các ông đã bằng lòng quá khóa. Quan mừng rỡ thưởng mỗi ông 10 quan tiền rồi tha cho về.

Sau khi chối đạo, các ông cảm thấy bị cắn rứt lương tâm vì đã để tình cảm chi phối và làm gương mù, nên hết lòng thống hối. Các ông đã đi xưng tội và quyết tâm chuộc lại lỗi lầm bằng cách lên tỉnh gặp quan Trịnh Quang Khanh trả lại các quan tiền đã nhận và tuyên xưng đạo thánh. Quan giận dữ chửi rủa các ông, cho đánh đòn rồi đuổi về. Các ông buồn bã trở về nhưng lòng vẫn không yên. Các ông không còn ao ước sự gì khác mà chỉ khao khát được chết vì đạo để chuộc lại lỗi lầm và tuyên xưng niềm tin và tình yêu dành cho Chúa Kitô. Vì vậy, các ông càng gia tăng cầu nguyện, ăn chay hãm mình và làm các việc lành phúc đức để được phúc tử đạo.

Các ông bàn với nhau: "Nếu quan thượng không cho chúng ta chết vì đạo, thì chúng ta sẽ vào kinh tâu xin nhà vua cho chúng ta chết vì đạo, để sửa lại gương mù gương xấu chúng ta đã làm".

Ðể chắc chắn rằng quyết định vào kinh xưng đạo đẹp ý Chúa, các ông đã bàn hỏi với Cha Tuyên. Cha cặn kẽ hỏi các ông lý do bỏ đạo thì các ông trả lời:

"Quả thực trong lòng chúng con bỏ đạo chỉ vì thương cha mẹ, anh em, và huynh thứ trong làng. Chúng con tin rằng nếu chúng con không bước qua thập giá, thì quan thượng cũng bắt tất cả phải bước qua thập giá. Nếu họ vì sợ mà ưng thuận, chúng con lại không phải chịu trách nhiệm về tội của họ sao? Chúng con đã sai lầm, và chúng con đã bước qua thập giá. Sau khi quá khóa, chúng con cảm thấy hối hận nên đã xưng đạo lại trước mặt quan tổng trấn. Nhưng chỉ có quan tỉnh biết, còn triều đình và nhà vua thì không hay biết gì cả. Chính vì thế chúng con muốn đến gặp nhà vua, và xưng đạo công khai trước mặt người. Như thế mọi người sẽ biết chúng con bước qua thập giá vì sự yếu đuối của chúng con, chứ không phải chúng con muốn nghe lời nhà vua mà chối bỏ đạo".

Cha Tuyên viết thư hỏi ý kiến Ðức Cha Marti và trình bày sự việc. Trong thư, Cha cũng nói đến những lời trong thư của Cha Jimeno (sau này làm giám mục) như sau: "Thày vui mừng lắm vì ba ông binh lính đã xưng đạo tại tỉnh, lại nghe cả ba ông toan vào đền vua để xưng đạo cách rõ rệt hơn nữa. Ðược như vậy, thày rất vui mừng, và tin rằng Ðức Chúa Trời sẽ giúp cùng ban sức cho họ được thắng trận, xứng đáng lãnh phần thưởng vô cùng mà Ðức Chúa Trời đã dành cho những kẻ chịu khổ vì đạo".

Thấy các ông nhất định đi chịu chết vì đạo, Cha Tuyên khuyên bảo các ông phải cậy trông ơn Chúa và ăn ở khiêm nhường. Sau đó, hai ông Huy và Thể về nhà từ giã vợ con, xưng tội chịu lễ để dọn mình rồi lên kinh. Ông Ðạt lên tỉnh thi hành công vụ nhưng cũng xin hai ông cho cùng một ý.

Ðầu tháng 03-1839, năm Minh Mệnh thứ 20, hai ông Huy và Thể vào kinh tìm mọi cách trình bày cho nhà vua hay biết tự sự: "Chúng tôi quá khóa tại tỉnh Nam Ðịnh, vì quan Trịnh Quang Khanh ép chúng tôi quá, chẳng phải vì thật lòng muốn bỏ đạo". Cuối cùng, nhà vua biết được và truyền các quan đem ra 10 nén vàng, một tượng thánh giá và một thanh gươm rồi nói: "Mặc ý các ngươi chọn. Nếu bước qua thập giá thì sẽ được thưởng 10 nén vàng, còn nếu không sẽ bị thanh gươm chặt ngang lưng làm hai rồi bỏ xác xuống biển". Các ông xin chịu chết ngay. Vua biết được giận lắm, truyền đem hai tờ giấy cho các ông ký tên vào. Một tờ chứa đầy những lời xỉ báng Chúa Kitô và đạo thánh Người, còn tờ kia là án các ông sẽ phải chết như thế nào. Hai ông đã ký vào án tử của chính mình, quyết không chịu xúc phạm đến Chúa Kitô và đạo thánh Chúa.

Thế là ước nguyện phúc tử đạo của hai ông Huy và Thể đã thành sự. Ngày 12-06-1839, hai ông bị điệu ra cửa bể là Cửa Thuận để chịu xử tử. Trước khi xử, quan còn khuyên hai ông quá khóa, nhưng hai ông vẫn nhất định không chịu. Lý hình đã chặt ngang lưng hai ông như đã ghi trong án. Sau đó chúng chặt đầu rồi bổ làm tư và quăng xác hai ông xuống biển.

Ông Ðạt hay tin hai ông Huy và Thể đã được phúc tử đạo thì mừng lắm và chuẩn bị dọn mình. Khi bị lính giải lên tỉnh, ông được quan bảo rằng: "Thằng Huy, thằng Thể đã phải bổ làm tư, rồi bỏ xuống bể cho tôm cá ăn, mày có quá khóa không?" Ông đáp: "Hai anh con đã được phúc trọng, xin quan lớn bổ con làm tám. Còn sự quá khóa thì con không chịu". Và ông đã bị xử giảo ngày 18-07-1839 tại Nam Ðịnh (Theo Dòng Máu Anh Hùng của Lm. Vũ Thành).

Cả ba vị tử đạo này đã được Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tuyên phong hiển thánh ngày 19-06-1988.

Hạnh tích trên của ba thánh Augustinô Huy, Nicôla Thể và Ðaminh Ðạt đã chứa đựng nhiều bài học vô cùng quý giá cho đời sống đức tin Kitô hữu hôm nay.

Trước hết, các ngài đã nên thánh, được phúc tử đạo, vì các ngài đã thực sự khao khát phúc trọng ấy. Các ngài đã xứng đáng nghe lời chúc phúc của Chúa Kitô: "Phúc cho những kẻ đói khát công chính vì họ sẽ được no đầy" (Mt 5:6).

Thứ đến, các ngài không dám cậy dựa vào sức mình nhưng tuyệt đối cậy trông ở ơn Chúa trợ giúp, qua việc chuyên cần cầu nguyện, lần chuỗi mân côi, hy sinh hãm mình, thực thi bác ái, xin người khác thêm lời cầu nguyện, năng xưng tội và chịu lễ, bàn hỏi và vâng nghe sự hướng dẫn của các chủ chăn. Lời Chúa Kitô luôn vang vọng trong tâm hồn các ngài: "Ngoài Ta, các ngươi không thể làm gì" (Ga 15:5) và "Ai xin sẽ được" (Lc 11:9).

Ðiều đặc biệt nhất ở đây là các ngài không hèn nhát bào chữa cho tội lỗi hay thất bại của mình. Dù có lần chối đạo vì thương thân nhân, không muốn cho họbị liên lụy, nhưng các ngài vẫn biết đó là một sự sai lầm. Hơn ai hết, các ngài đã hiểu rõ cái giá phải trả để trở nên môn đệ đích thực của Chúa Kitô, như Chúa Kitô đã tuyên bố dứt khoát: "Còn ai chối Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng chối kẻ ấy trước mặt Cha Ta, Ðấng ngự trên trời" (Mt 10:33) và "Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta ắt không xứng với Ta. Kẻ yêu con trai con gái hơn Ta ắt không xứng với Ta. Kẻ không vác lấy khổ giá mình mà theo Ta, ắt không xứng với Ta. Kẻ cố tìm mạng sống mình, thì sẽ mất; còn kẻ đành mất sự sống mình vì Ta, thì sẽ gặp lại" (Mt 10:37-39). Chính vì biết nhận mình hèn yếu tội lỗi, thành tâm thống hối, cậy vào lòng thương xót vô biên và ân sủng vạn năng của Chúa để đầy hy vọng chỗi dậy vươn lên, các ngài đã được Chúa thương chấp nhận và cho gia nhập hàng ngũ công dân Nước Trời.

Ðiểm cuối này là một luồng ánh sáng phá tan bóng đêm lầm lạc của các lạc thuyết trong thần học luân lý hôm nay: thuyết tương đối (relativism), thuyết tùy cảnh huống (situation ethics), thuyết chủ quan (subjectivism), thuyết chạy theo đám đông hay thuyết cứu cánh biện minh cho phương tiện. Chính vì chỉ lo tìm cớ chữa mình, người ta đã trở nên mù tối và cứng lòng trước sự ghê tởm của tội lỗi, để tiếp tục sống trong tội và không chịu hối cải.

Bao người vì lười biếng hay xem thường việc phụng thờ Chúa đã bỏ việc tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật hay việc đọc kinh cầu nguyện sớm tối, rồi họ phân bua là họ bận rộn quá nhiều việc. Có những người phạm tội tiền dâm hậu thú, ly dị và tái hôn, ngừa thai nhân tạo và triệt sản, hay gian lận trợ cấp xã hội dù đã có thể tự lực cánh sinh, rồi họ tự trấn an rằng bây giờ ai cũng làm vậy cả! Nhiều người ép con gái chửa hoang phá thai, rồi họ bảo rằng phải làm thế để bảo vệ danh dự gia đình! Có người làm nghề cho thuê mướn và phổ biến phim ảnh hay sách báo khiêu dâm, rồi họ bảo đó là tôn trọng tự do thưởng thức văn hóa và tự do diễn tả quan niệm! Có những chính trị gia nhận mình là tín hữu Công Giáo nhưng lại ủng hộ "quyền phá thai của phụ nữ" và cho đó là tôn trọng chính đáng sự "tách biệt giữa tôn giáo và chính trị"!

Trước mặt Chúa, mọi người đều là tội nhân với bao yếu đuối, tội lỗi và khuyết điểm khác nhau. Nhưng sự khác nhau chính ở đây không phải là sự khác biệt về số tội hay thứ tội đã phạm. Ðiều khác nhau căn bản có tính cách quyết định số phận đời đời của mỗi người đó là thái độ của người ấy đối với tội đã phạm.

Về điểm này, thì người ta được chia thành hai loại:

những người có lòng thống hối, nhìn nhận tội lỗi của mình, nài xin Chúa thương xót thứ tha và cậy trông vào sức mạnh của ơn Chúa để nỗ lực vươn lên, cải thiện đời sống.

những người không chịu thống hối, không nhìn nhận thực trạng tội lỗi của mình, phủ nhận sự thực về việc phán xét và thưởng phạt đời đời, chối bỏ trách nhiệm hành động của mình qua việc đổ thừa cho hoàn cảnh, ảnh hưởng của gia đình hay xã hội, để tiếp tục sống trong tội.

Ước gì khi chiêm ngắm gương các thánh tử đạo Việt Nam, nhất là Thánh Augustinô

Huy, Thánh Nicôla Thể và Thánh Ðaminh Ðạt, tôi biết cậy vào lời bầu cử của Mẹ Maria là Nữ Vương Các Thánh Tử Ðạo cũng như lời bầu cử của các ngài, để được ơn biết noi gương các ngài, nhận mình hèn yếu và chọn trở thành "những người tội lỗi biết cố gắng hối cải vươn lên không ngừng".

(Oct 18, 2000)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com