|
THƯ MỤC VỤ
CỦA HỘI ÐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
GỬI TOÀN THỂ DÂN CHÚA
Khoá họp
Thường niên từ 02-07/10/2000
Kính gửi: Các Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh,
và toàn thể Anh chị em Giáo dân
Anh chị em thân mến,
1. Một lần nữa các Giám Mục chúng tôi họp nhau tại
Hà Nội, để cùng nhìn lại đời sống của Hội Thánh
tại Việt Nam trong năm qua, và suy nghĩ về những triển
vọng đang mở ra trước mắt khi bước vào thiên niên
kỷ mới.
Trước hết, chúng tôi xin gửi tới anh chị em lời chào
thân ái: "Nguyện xin ân sủng Ðức Giêsu Kitô Chúa
chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của
Chúa Thánh Thần ở cùng anh chị em" (Sách Lễ Rôma).
Cuộc họp lần này diễn ra vào những tháng cuối của
Năm Thánh 2000, cũng là dịp kỷ niệm 40 năm thành lập
hàng Giáo phẩm Việt Nam (24/11/1960), và kỷ niệm 20 năm
Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam họp toàn thể lần đầu
tiên (24/4 - 1/5/1980), còn là dịp kỷ niệm Tông Huấn
"Giáo Hội tại Á Châu" của Ðức Gioan Phaolô II
công bố được một năm (6/11/1999).
Việc thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam là bằng chứng
Giáo Hội Việt Nam đã trưởng thành, đã sống và đang
sống đức tin với lòng xác tín và lãnh trách nhiệm
loan báo Tin Mừng cứu rỗi cho đồng bào của mình.
Việc mừng hai mươi năm Hội đồng Giám mục toàn quốc
ra thư chung năm 1980 với đường hướng mục vụ "sống
Phúc Âm giữa lòng dân tộc" thúc đẩy chúng ta
sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng theo cung cáchViệt
Nam.
2. Lại nữa, để hoà nhịp với các cộng đoàn Giáo
Hội tại Á Châu đang phấn khởi vui mừng trước đà
tiến mới, chúng tôi mời gọi toàn thể Dân Chúa ở
Việt Nam cùng với chúng tôi học tập sâu rộng Tông
Huấn "Giáo Hội tại Á Châu", để nhờ đó
thêm nghị lực và phấn khởi mà sống làm chứng và
loan báo Tin Mừng cho mọi giới đồng bào thân yêu của
chúng ta.
Thật là phấn khởi vô cùng khi nghe lời của Ðức Gioan
Phaolô II mở đầu Tông Huấn: "Giáo Hội tại Á
Châu ca lên những lời ngợi khen Thiên Chúa cứu độ"
(Tv 68, 20), vì Người đã chọn 'đất Á Châu' để khởi
đầu kế hoạch cứu độ loài người" (Tông Huấn
Giáo Hội tại Á Châu GA, số 1). Chính tại Á Châu,
Thiên Chúa đã mạc khải và hoàn thành ý muốn cứu
độ của Người.
Ðến thời viên mãn (x. Gl 4,4), Thiên Chúa đã sai Con
Một của Người là Ðức Giêsu Kitô Ðấng Cứu Thế
đến trần gian làm một người Á Châu. Người đã sinh
ra, đã sống, đã chết và sống lại tại Thánh Ðịa,
một miền đất nhỏ bé của miền Tây Á Châu. Thánh
địa đã trở thành mảnh đất của Lời Hứa và Niềm
Hy Vọng cho toàn thể nhân loại (x. GA, s.1). Thế nhưng cho
tới nay nhiều người Á Châu vẫn chưa nhận biết Tin
Mừng để trở thành Kitô hữu.
SỐNG, LÀM CHỨNG VÀ LOAN BÁO TIN MỪNG TRONG CUỘC SỐNG
KITÔ HỮU.
3. Kitô hữu là người đã đón nhận Tin Mừng Ðức
Giêsu Kitô Con Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ trần gian, đã
nghe những lời Chúa dạy và đem ra thực hành (x. Lc
6,47), lãnh sứ mạng làm chứng về Người cho đến tận
cùng trái đất (x. Cv 1,8). Sống, làm chứng và loan báo
Tin Mừng là ba khía cạnh không thể tách rời: Quả thật,
làm chứng và loan báo Tin Mừng sao được nếu chính
chúng ta đã không sống và không có kinh nghiệm về
cuộc sống đó.
I. Sống Tin Mừng:
Tin Mừng có khả năng đổi mới cách nghĩ, cách làm,
cách sống của chúng ta. Tin Mừng làm cho chúng ta nên con
cái thật của Chúa, nên anh em với tha nhân, và nên
đồng bạn với thế giới thụ tạo. Ðón nhận Tin Mừng
chính là đón nhận Chúa Kitô và Thánh Thần của
Người, Ðấng dẫn dắt chúng ta sống tốt địa vị làm con
Thiên Chúa theo gương Chúa Kitô (x. Rm 8,9-10). Thánh Phaolô
đã diễn giải cuộc đổi mới đó như sau: "Anh em
hãy giết chết những gì thuộc hạ giới trong con người
của anh em: ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn
xấu xa", đồng thời "hãy có những tâm tình như
chính Ðức Kitô" (Pl 2,5), đó là "lòng thương
cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà, nhẫn nại. Hãy chịu
đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau" (Cl 3,13). Và trên
hết mọi sự "anh em phải có lòng bác ái: đó là
mối dây liên kết tuyệt hảo" (c.14). Tất cả những
điều đó là "hoa trái của Chúa Thánh Thần" (Gl
5,22).
II. Làm chứng và loan báo Tin Mừng:
4. Tin Mừng là quà Thiên Chúa tặng cho mọi người (x. Lc
2,10), nên ai nhận được Tin Mừng cũng có nghĩa vụ loan
truyền cho người khác. Công Ðồng Vaticanô II khẳng định:
"Tự bản tính, Hội Thánh lữ hành phải loan báo Tin
Mừng, vì chính Hội Thánh bắt nguồn từ sứ mạng của
Chúa Con và Chúa Thánh Thần, theo ý định của Chúa
Cha" (TG 2). Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu
cũng quả quyết: "Không thể nào có công bố Tin
Mừng thực sự, nếu các Kitô hữu không đồng thời
lấy đời sống mình làm chứng, đi đôi với sứ điệp
mà mình rao giảng ." (số 3).
Làm chứng là cách thế đầu tiên, cũng có thể là
cách duy nhất để loan báo Tin Mừng (x. Sứ Vụ Ðấng
Cứu Ðộ, số 31), song việc trực tiếp loan báo Tin
Mừng bằng lời nói vẫn là đòi hỏi của bản chất Tin
Mừng, như các Tông Ðồ đã tuyên bố: "Phần chúng
tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi
không thể nào không nói ra" (Cv 4,20). Thế nhưng
thường khi nhiều người trong chúng ta không còn cảm
thấy nỗi thúc bách này nữa. Tại sao?
5. Thứ nhất: có khi chúng ta chưa thật sự cảm nghiệm
Chúa Kitô là lẽ sống của chúng ta, nên chúng ta
thờ ơ. Vậy chúng ta phải cầu nguyện, đọc và suy niệm
Lời Chúa để cảm nghiệm được Chúa Kitô "là
Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống" (Ga 14,6).
Thứ hai: có khi chúng ta nhát đảm không dám nói
với người khác về Chúa Kitô. Hãy nhớ Lời Chúa
căn dặn: "phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt
thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy
trước mặt Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời. Còn ai chối
Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối
người ấy trước mặt Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời"
(Mt 10,32-33).
Thứ ba: có khi chúng ta không thấy nghĩa vụ phải loan
báo Tin Mừng, vì chưa có được tinh thần của thánh
Phaolô: "Ðối với tôi, rao giảng Tin Mừng là một
sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm" (1 Cr 9,16),
hơn nữa vì lãng quên lệnh Chúa truyền: "Hãy đi
khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi
loài thụ tạo" (Mc 16, 15).
Thứ bốn: có khi chúng ta không biết phải nói như
thế nào. Ðó là vì chúng ta chưa dám trả lời câu
Chúa Giêsu hỏi: "còn anh em, anh em nói Thầy là ai?"
(Lc 9,20). Vậy hãy để cho Chúa Giêsu thật sự sống trong
cuộc đời chúng ta.
III. Làm thế nào để sống, làm chứng và loan báo Tin
Mừng:
Dựa theo những đề nghị của Tông Huấn "Giáo Hội
tại Á Châu" (s.22, 45-46), chúng tôi đề ra 6 điểm sau
đây:
6. Phổ biến Thánh Kinh và huấn luyện các tín hữu
biết đọc, suy niệm và cầu nguyện theo Lời Chúa.
Thời gian qua, các tín hữu đã tỏ ra lòng khao khát
được học hỏi Thánh Kinh để biết cách đọc, suy niệm
và cầu nguyện theo Lời Chúa. Tông Huấn nhận định:
"việc đào taọ về Thánh Kinh phải được coi là
một phương thế quan trọng trong nỗ lực giáo dục dân
chúng trong đức tin và trang bị cho họ thi hành công tác
loan báo Tin Mừng" (GA, s.21).
7. Canh tân chương trình đào tạo linh mục và tu sĩ.
Muốn có chuyển biến mạnh mẽ trong Hội Thánh Việt Nam,
phải bắt đầu bằng việc canh tân chương trình đào tạo
linh mục và tu sĩ. Thượng Hội Ðồng khuyến khích các
nhà đào tạo linh mục "tìm cách hiểu biết sâu xa
các yếu tố làm nên linh đạo và kinh nguyện thích hợp
với tâm hồn người Á Châu, cũng như tham gia sâu xa
hơn vào công cuộc tìm kiếm một cuộc sống triển nở
hơn của các dân tộc Á Châu" (GA, s.22).
Ðối với việc đào tạo tu sĩ, Thượng Hội Ðồng cũng
tuyên bố: "linh đạo và lối sống của họ phải làm
sao tỏ ra nhạy cảm với di sản văn hoá và tôn giáo
của những người cùng chung sống với họ và đang
được họ phục vụ, luôn giả thiết rằng phải có sự
phân định đâu là điều phù hợp với Tin Mừng, đâu
là điều không phù hợp" (GA, số 22). Tông Huấn
vạch rõ ba đặc điểm giúp đời tu trở nên chứng tá
tại Châu Á: Tìm kiếm Chúa, sống tinh thần hiệp thông
huynh đệ và phục vụ người khác (GA, s.44).
8. Ðào tạo giáo dân.
Giáo Hội là Dân Thiên Chúa. Trong Giáo Hội, giáo
dân chiếm tỷ lệ rất lớn. Giám mục, linh mục, tu sĩ
là để phục vụ cộng đoàn Dân Chúa. Thượng Hội
Ðồng rất quan tâm "làm sao cho Giáo Hội trở thành
một Giáo Hội tham gia, trong đó không ai cảm thấy mình bị
loại trừ" (GA, s.45). Mọi thành phần trong Giáo Hội
đều có trách nhiệm xây dựng cộng đoàn.
Tông Huấn đã nhấn mạnh: "Hơn ai hết, họ chính là
những người được mời gọi biến đổi xã hội, cộng
tác với các giám mục, linh mục và tu sĩ, bằng cách
đưa "tinh thần của Ðức Kitô" vào trong não
trạng, tập quán, luật lệ và cơ chế của thế giới mà
trong đó họ đang sống" (GA, s.22).
9. Củng cố gia đình như Hội Thánh tại gia.
Ðối với người Việt Nam, gia đình vẫn là rường cột
của xã hội và của Giáo Hội. Gia đình phải là một
Giáo Hội thu nhỏ "nghĩa là nơi lấy Sự Thật của Tin
Mừng làm qui luật sống và làm quà tặng cho cộng đoàn
rộng lớn hơn. Gia đình không phải chỉ là đối tượng
cho Giáo Hội chăm sóc về mục vụ, mà còn là một trong
những tác nhân đắc dụng nhất trong công cuộc loan báo
Tin Mừng" (GA, số 46). Tông Huấn đề ra những phương
thế thực hiện: gia đình tham gia tích cực vào các sinh
hoạt của giáo xứ, lãnh nhận các bí tích, nhất là bí
tích Thánh Thể và bí tích Hoà Giải, dấn thân phục vụ
các gia đình khác... Bậc cha mẹ phải cố gắng biến
những giây phút cả gia đình quy tụ bên nhau thành cơ
hội để cầu nguyện, đọc và suy niệm Sách Thánh.
10. Xây dựng giáo xứ thành một cộng đồng sống,
làm chứng và loan báo Tin Mừng.
Giáo xứ là đơn vị chủ yếu cho mọi sinh hoạt cộng
đoàn. Ðể trở thành một cộng đoàn sống động và
làm chứng cho Tin Mừng, mọi sinh hoạt của giáo xứ
phải bắt nguồn từ việc cầu nguyện, lắng nghe và suy
gẫm Lời Chúa.
Các đoàn thể phải là nơi học hỏi, chia sẻ và sống
Lời Chúa, không nên dừng lại ở các sinh hoạt hình
thức bên ngoài.
Cử hành phụng vụ lấy Lời Chúa làm nền tảng, là
dịp để đi sâu vào Giáo huấn của Chúa và dẫn tới
hoán cải đời sống.
Các lễ hội của giáo xứ phải là dịp để sống đạo
đức, bác ái, hiệp nhất, vui tươi, chứ đừng trở
thành những dịp tranh đua không lành mạnh.
Việc giảng dạy giáo lý phải chú trọng vào đời sống
chứ không chỉ để truyền đạt kiến thức.
11. Dấn thân phục vụ trong xã hội.
Vì Chúa Giêsu đồng hoá mình với những ai nghèo đói,
tật nguyền, bị gạt ra ngoài lề xã hội (x. Mt 25,31-46),
chúng ta hãy dấn thân phục vụ cách thiết thực những
người khốn khổ bần cùng. Họ là những trẻ em nghèo
hiếu học cần trợ giúp để có thể tiếp tục học;
những phụ nữ bị ngược đãi trong gia đình hay bị lạm
dụng ngoài xã hội cần được tôn trọng nhân phẩm;
những người cao tuổi bị bỏ rơi cần được chăm sóc
và ủi an; những đồng bào dân tộc thiểu số cần
được đối xử công bằng và được giúp đỡ để
thăng tiến trong mọi lĩnh vực; những người bỏ nông
thôn ra thành thị bị bóc lột sức lao động cần được
bênh vực và che chở; các nạn nhân của tệ nạn xã
hội cần được thông cảm và được giúp đỡ trở
về cuộc sống bình thường; những nạn nhân thiên tai
cần có ngay miếng cơm manh áo để vượt qua cơn thử
thách, như hiện nay các nạn nhân lũ lụt tại đồng
bằng sông Cửu Long, phải được chúng ta quảng đại
cứu trợ. Phục vụ họ như thế không phải chỉ là đòi
hỏi tự nhiên của tình người, mà còn là món nợ
của lòng bác ái Kitô giáo (x. Rm13,8) vì mỗi lần làm
như thế là chúng ta làm cho chính Chúa Giêsu vậy (x. Mt
25,40).
Anh chị em thân mến,
12. Trên đây là những điều thiết thực và cấp bách
mà chúng tôi muốn đề nghị với anh chị em để làm cho
Hội Thánh Việt Nam có thể bước vào thiên niên kỷ
thứ ba với một bộ mặt mới và một khí thế mới.
Ước mong sao từ năm 2000 này, tất cả chúng ta và mỗi
cộng đoàn giáo xứ đã có những chương trình hành
động cụ thể nhằm canh tân và thực hiện những điều
chúng tôi đề ra cho anh chị em trong dịp này.
Nguyện xin Thiên Chúa làm cho anh chị em trở nên những
người và những cộng đoàn sống, làm chứng và loan
báo Tin Mừng. Xin Ðức Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse và các
Thánh Tử Ðạo Việt Nam cầu bầu cho tất cả chúng ta.
Thân ái chào anh chị em
Các Giám mục của anh chị em trong Chúa Kitô
Hà Nội, ngày 7 tháng 10 năm 2000
TM/ HỘI ÐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
CHỦ TỊCH
Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng
Nicôla HUỲNH VĂN NGHI Bartôlômêô NGUYỄN SƠN LÂM
GM. Ðệ Nhất Phó Chủ Tịch Giám Mục Tổng Thư Ký
Ký Thay
Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com
|