Lm. Bùi Quang Tuấn, CSsR.

CHÚA NHẬT XXXII  THƯỜNG NIÊN.  12-11-2000 : NGHÈO TIỀN NHƯNG GIÀU TÌNH.

CHÚA NHẬT XXXIII  THƯỜNG NIÊN.   19-11-2000 :  TẬN THẾ.

CHÚA NHẬT XXXIV  THƯỜNG NIÊN.   26-11-2000 :  ÐỨC GIÊSU LÀ VUA Ư ?. 

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG.   03-12-2000 :   CHÚA CHỜ TÔI HAY TÔI ÐỢI CHÚA. 

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG.  10-12-2000 :  SÁM HỐI LÀ TÁI SINH.

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG.  17-12-2000 :  THIÊN ÐÀNG LÀ THẾ ÐÓ.

Back to Top Back to Top


Chúa Nhật XXXII Quanh Năm

12-11-2000 1 V 17:10-16; Dt 9:24-28; Mc 12:38-44

NGHÈO TIỀN NHƯNG GIÀU TÌNH

 

Tại một phố nhỏ bên Châu Âu, vào một mùa đông nọ, sau khi nghe nhà trường thông báo sẽ lạc quyên tiền bạc và phẩm vật để làm quà giáng sinh cho những trẻ em nghèo trong vùng, một em bé 13 tuổi đã dành dụm trong suốt 1 tháng được 15 đồng và em quyết định đón xe đến trường để trao tặng số tiền đó.

Một trận bão tuyết bất ngờ đổ xuống khiến lưu thông bị bế tắc, xe cộ không thể di chuyển. Cậu bé đã đi bộ đến trường, băng qua những cánh đồng ngập tuyết trắng xoá.

Ông hiệu trưởng vô cùng kinh ngạc trước tấm lòng quảng đại và hy sinh của cậu bé, nhưng ông còn ngạc nhiên bội phần khi biết em thiếu niên trước mặt ông lại có tên trong danh sách những trẻ em nghèo mà nhà trường sẽ tặng quà giáng sinh năm đó.

Ðúng là nghèo tiền nhưng giàu tình. Nghèo đến nỗi được nhà trường ghi nhận, cho vào danh sách những người cần được giúp đỡ. Nhưng tình thương liên đới và trách nhiệm san sẻ đã làm cho tâm hồn cậu bé nhà nghèo trở thành "viên ngọc quý".

Thánh Kinh cũng có ghi nhận một câu chuyện tương tự: Chúa Giêsu cùng các môn đệ đang ở trong đền thờ, gần khu vực có đặt 13 thùng tiền. Dân chúng và khách hành hương khắp nơi thường đến đây dâng cúng cho công việc tu bổ hay đóng góp vào vấn đề nhang khói, hương hoả của đền thánh. Trong các mùa lễ Vượt qua, số người dâng cúng rất đông nên thường có các tư tế đền thờ ngồi gần các thùng tiền để ghi nhận số tiền người ta dâng. Thỉnh thoảng họ xướng to danh xưng của một vài nhân vật đã bỏ vào thùng những khoản tiền lớn.

Việc xướng danh và tiếng va loảng xoảng liên tục của các đồng tiền kích thích những người giàu có hăng hái mở rộng hầu bao dâng cúng đền thờ. Chúa Giêsu ngồi quan sát và chứng kiến nhiều người giàu bỏ tiền vào hòm. Ngài im lặng!

Bỗng xuất hiện một bà goá nghèo. Bà đến bên hòm tiền. Lặng lẽ bỏ vào đó hai trinh. Số tiền quá nhỏ. Không đáng kể. Tiếng va chạm của hai đồng bạc vang lên khô khan, cụt ngủn. Chẳng ai để ý. Chẳng ai thèm hỏi thăm hay xướng danh của bà. Nhưng Ðức Giêsu lên tiếng. Ngài gọi các môn đệ đến và tuyên bố: "Bà goá nghèo kia đã bỏ vào nhiều nhất."

Trong xã hội Do thái, đàn bà goá phần lớn là thành phần nghèo khổ đáng thương. Họ chẳng có tài sản. Của cải người chồng để lại đều thuộc về trưởng nam. Chính Phaolô cũng đã có lần kêu gọi các cộng đoàn tiên khởi nâng đỡ, trợ giúp các bà quả phụ (1 Tim 5:3-16). Theo lẽ thường các quả phụ nghèo không buộc phải dâng cúng. Nhưng thái độ và việc làm của bà goá nghèo nơi đền thờ đã được Chúa Giêsu ghi nhận. Không phải vì bà "nghèo" và "goá" mà không đáng trọng bằng người giàu có. Không phải bà bỏ ít tiền mà lòng đạo của bà thua kém người ta. Không phải vì chẳng được xướng danh mà công nghiệp của bà không được ghi trên trời. Trái lại hai đồng trinh bé nhỏ của bà đã được Thiên Chúa đón nhận với lời chúc lành: "Bà đã bỏ nhiều nhất." Bởi vì bà đã bỏ vào thùng tiền chính sự sống của mình. Bà đã dâng cho Thiên Chúa tặng phẩm quí nhất của con người là sự sống: "Tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà nầy lấy túng thiếu mà bỏ vào mọi sự mình có để nuôi sống" (Mc 12:44).

Tin tưởng là trao ban. Nhưng nếu trao ban nhiều thứ mà chưa trao ban sự sống thì vẫn chưa có gì đáng kể. Phải chăng đây chính là điều mà Chúa Giêsu, qua hành vi của bà goá nghèo, báo trước về việc Người sắp làm: dâng hiến chính mạng sống mình cho phúc lộc con người.

Thư gởi tín hữu Do thái đã xác nhận điều này: Các thượng tế dâng tiến lễ tế hàng năm, với máu không phải của mình; việc làm đó không xoá được tội lỗi người ta; nhưng Ðức Giêsu, Người đã dâng hiến chính máu mình, đã tế lễ chính thân xác mình để hủy diệt tội lỗi. Và như thế sự trao dâng của Ðức Giêsu có giá trị ngàn đời.

Chỉ khi dâng hiến những gì đụng chạm đến sự sống còn của cuộc đời, tôi mới trao ban đúng nghĩa. Thế nên, khi dám trao ban ngay cả sự nghèo túng của mình như người đàn bà goá, của lễ tôi dâng mới có giá trị trường tồn không phai. Ðừng nghĩ tôi không có gì để cho. Ðừng tự nhủ khi nào có thời giờ, tôi mới cộng tác với cộng đoàn xứ đạo, khi nào dư giả tài chánh lúc đó mới trợ giúp trao ban, khi nào sức khoẻ phong phú mới dấn thân phục vụ. Thế ra tôi chỉ biết dâng những của dư thừa chứ không dám dâng cả sự túng thiếu. Tôi chỉ sát tế chiên bò, dâng máu lừa dê, chứ chẳng dám dâng hiến chính mạng sống cuộc đời của mình. Phải chăng giữa tôi và người đàn bà goá nghèo vẫn còn cả một khoảng trời xa cách.

Lắm khi việc dâng hiến của tôi không thanh thản và siêu thoát. Vẫn còn thấp thoáng đâu đó một mưu đồ trục lợi, một ý tưởng khoe khoang, hay một khát khao danh vọng. Phải chăng "chất ký lục và biệt phái" vẫn còn tồn đọng trong hồn tôi?

Lời Chúa đã phán: "Ta chuộng lòng nhân nghĩa hơn là của lễ toàn thiêu." Lễ toàn thiêu của tôi có được khứng nhận là vì tình yêu đang thiêu đốt tâm hồn. Cha sở Gioan Maria Vianney thường tâm sự: "Cái gì đẹp nhất, tôi đều dành cho việc phục vụ và thờ phượng Chúa." Ðiều đáng nói không phải vì ngài đã dành của cải người ta tặng để mở cô nhi viện, để sắm sửa áo lễ hào quang thật đẹp, nhưng là vì ngài đã dâng hiến tặng phẩm quí giá nhất cuộc đời. Ðó là cuộc sống của chính ngài, với thời gian, sức lực, tài năng, học thức (dù rất giới hạn)... tất cả cho tình yêu Thiên Chúa và ơn cứu rỗi các linh hồn.

Ðể trở thành người Kitô hữu chân chính, chúng ta cũng được mời gọi sống đời dâng hiến như vậy.

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật XXXIII Quanh Năm

19-11-2000 
Ðn 12:1-3; Dt 10:11-14:18; Mc 13:24-32

TẬN THẾ

 

"Về Ngày ấy hay giờ ấy, thì chẳng ai biết được, cả thiên thần trên trời, cả Con nữa, trừ phi là Cha" (Mc 13:32).

Trong những ngày tháng cuối cùng của năm 1999, đi giúp cho giáo dân đó đây, tôi cứ được nghe những câu hỏi có cùng một nội dung: "Tận thế sẽ xảy ra trong năm 2000 chăng?"

Trước những câu hỏi đó, tôi tự nhủ: ngày tận thế hay năm tháng cuối cùng của nhân loại, không ai biết được. Ngay Chúa Giêsu ngày xưa cũng phán: "Về ngày giờ đó thì các thiên thần trên trời và cả Con cũng không biết được." Thêm một suy tư khác: thường đi đâu mà đi một mình, lẻ loi đơn độc, thì mới buồn, mới sợ. Ra đi mà để lại vợ chồng con cái, hay những người thân yêu, mới là đau khổ vì bị chia ly. Nếu như có tận thế, mọi người cùng đi chung với nhau thì đáng lẽ ta phải vui chứ cần gì phải lo.

Cho nên, lắm khi mình cứ "lo bò trắng răng." Ðiều đáng lo thì lại không để ý, còn chuyện không đáng quan tâm thì lại cứ ngay ngáy, sống chết với nó.

Thiết tưởng điều đáng lưu ý nhất hiện nay không phải là ngày cánh chung của thế giới, nhưng là ngày cuối cùng của mỗi người trên cõi đời này. Ðó chính là ngày tận thế của mỗi người. Ðây là điều chắc chắn hơn bất cứ một lời tiên đoán nào.

Thánh Augustino đã từng nói: Một đứa bé sinh ra, sau này nó giàu hay nó nghèo, khoẻ mạnh hay đau yếu, chết non hay chết già, chẳng ai biết được. Chỉ có một điều chắc nhất là nó sẽ chết. Dù sang hay hèn, vua chúa hay bần dân, đàn ông hay đàn bà, xấu hay đẹp, rồi cũng phải chết thôi.

Thánh Anphongsô cũng xác quyết: "Không biết ta có sống trên thế gian được 100 năm như lòng ước nguyện không. Nếu được thì cũng sẽ có một ngày, ngày đó sẽ có một giờ, giờ đó sẽ có một phút, phút đó sẽ có một giây. Ðó là giây phút cuối cùng của đời ta". Và từ lời xác quyết này thánh nhân đã nhắc nhở người ta hãy nhớ đến các bậc tiền nhân, dù họ có quyền cao chức trọng, tài giỏi thông thái, vợ đẹp con khôn đến đâu thì giờ đây cũng chỉ là nắm tro bụi trong lòng đất, trên đó được ghi dấu bởi một tấm bia mà thôi.

Cho nên thật là phù phiếm biết bao khi chỉ biết quan tâm đến sự sống ngắn ngủi của đời này mà quên mất rằng mình còn có một cuộc sống đời đời kiếp kiếp mai sau, cuộc sống bắt đầu ngay lúc chết. Dại dột biết bao khi chỉ nhắm đến cái có cùng mà quên đi cái vô cùng. Chỉ tìm cái tương đối mà quên đi cái tuyệt đối.

Nếu chỉ biết vui chơi hưởng thụ hôm nay mà đánh mất tương lai cuộc đời, nếu chỉ nhìn đến những công danh, thế lực, tiền tài, quyền lợi của hôm nay mà quên đi hay không lo gì cho kiếp sống đời đời mai sau thì quả ta là những kẻ khờ dại vô cùng.

Trong Thánh Kinh cũng có kể câu chuyện một phú ông kia, gặp năm may mắn được mùa, lúa thóc tràn trề. Ông suy tính làm cách nào để có thể cất giữ được thóc lúa. Thế rồi sau nhiều hôm suy nghĩ ông quyết định phá các kho cũ, xây một kho mới, to lớn hơn để chứa thóc. Khi hoàn tất công việc, ông ung dung sung sướng nói với lòng mình: "Hồn ta ơi, hãy ăn đi, uống đi, nghỉ ngơi đi, vì từ nay của cải đã dư tràn cho nhiều năm." Nhưng Chúa phán với người ấy rằng: "Ðồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi linh hồn của ngươi, vậy tất cả những thứ kia sẽ về tay ai đây?" (x. Lc 12:16-21).

Do đó, chớ gì ta biết tỉnh thức. Thức tỉnh lại giữa những lo toan, khao khát, kiếm tìm để hỏi lòng mình "tôi đang làm gì và tôi đang tìm gì?" Có thể với sự chủ quan tôi nghĩ mình đang làm việc này công kia cho Chúa đấy, nhưng lại chẳng phải là công việc của Chúa. Có thể tôi đang tìm tự do, danh dự, quyền lợi, vật chất, tình cảm, nghề nghiệp..., nhưng thử hỏi tôi có tìm kiếm Chúa không? Có Chúa trong những gì tôi đang có không?

Nếu mục tiêu của mọi sự tôi trăn trở kiếm tìm là một thứ gì đó rất hay, rất có lý, nhưng không phải là Chúa, thì tôi quả là một kẻ khờ dại vô cùng.

Nếu tìm mọi sự mà không tìm Chúa thì đời vẫn mãi thiếu vắng khát khao. Bởi như lời Thánh Augustinô nói: Tôi đã đi tìm nhiều thứ nhưng "Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn."

Và rồi nếu không cảm nhận Chúa là lẽ sống, niềm vui và nguồn hy vọng duy nhất của đời, thì thật đáng lo biết bao. Vì như thế ngày tận thế của đời tôi đã xảy ra rồi—tôi đang chết và tôi đã chết.

Còn nếu như có Chúa trong mọi tâm tư, ước muốn, kiếm tìm, và cuộc sống của tôi, thì ngại ngùng gì mà không hát vang lời Ca Vịnh:

"Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không còn sợ chi ai.
Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không lo thiếu gì."

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật XXXIV Quanh Năm - Lễ Chúa Kitô Vua

26-11-2000 
Ðn 7:13-14; Kh 1:5-8; Ga 18:33b-37

ÐỨC GIÊSU LÀ VUA Ư?

 

img src="js/jsking2.jpg" align=left hspace=35>"Chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho chân lý. Phàm ai thuộc về chân lý thì nghe được tiếng tôi" (Gn 18:37).

Không ít người khi mới tìm hiểu về Kitô giáo, hoặc có dịp đọc qua một vài trang sách Phúc Âm, đã vội đưa ra vài nhận xét về Ðức Giêsu như sau: Ngài không phải là một chính trị gia xuất chúng và cũng chẳng phải là một thương gia đại tài. Bởi vì những lời Ngài nói, những điều Ngài hứa hẹn không giống với các chính khách hay các nhà buôn thời nay tí nào. Thay vì lôi kéo quần chúng bằng những lời mời gọi hấp dẫn, có tính chất quyến rũ thị hiếu của người ta, để họ sẵn sàng đi theo ủng hộ, thì Ðức Giêsu lại nói, "Ai muốn theo Ta, hãy chối bỏ chính mình, hãy vác thập giá mình mà theo" (Mt 16:24). Ðã vậy rồi khi có người đi theo, Ngài lại phán thêm những câu mà mới nghe qua thật "chói tai". Chẳng hạn như, "Ai không từ bỏ cha mẹ, anh em, vợ con và ngay cả mạng sống mình thì không xứng đáng làm môn đệ của Ta" (Lc 14:26); hoặc "Ta không đến để đem bình an, nhưng là gươm giáo" (Mt 10:34).

Thật là khác lạ! Thay vì hứa hẹn một cuộc sống sung túc nhẹ nhàng thoải mái, êm ấm bình an, thay vì cứ hoá bánh ra thật nhiều và hoá thường xuyên để nuôi dân chúng, và như thế thì làm gì mà họ chẳng theo, thậm chí còn ủng hộ, bỏ phiếu bầu mình làm thủ lãnh, chứ đàng này Ngài lại dạy phải chịu đau khổ, phải từ bỏ chính mình, phải nhân nhượng kẻ thù, hay nói cách khác là phải chịu mất mát thiệt thòi. Thế thì làm sao mà lôi kéo dân chúng được!

Khi suy luận như thế, tất nhiên sẽ có không ít người tin tưởng mình sẽ nắm chắc phần thắng khi đánh cuộc rằng nếu Ðức Giêsu mà ra tranh cử thế nào cũng bị loại ngay từ vòng đầu thôi. Nhất là khi họ thấy thân xác của Ngài bị đóng đinh thê thảm trên thập giá, kết thúc cuộc đời không một chút oai phong vinh quang, thì chẳng mấy ai dám khẳng định Ðức Giêsu là Ðấng Thiên Sai, là Vua dân Do thái, hay là Chúa của muôn dân. Có chăng chỉ là một sự nhạo báng!

Ấy thế mà kẻ bị đóng đinh ô nhục trên thập giá giữa những tên trộm cướp, người đã từng bị nhạo báng là vua, là Mêsia kia, lại thật sự là Ðức Kitô, Vua của muôn muôn tỉ tâm hồn.

Sẽ có người ngạc nhiên nêu vấn đề: Tại sao nghịch lý thế? Do đâu mà một tử tội lại được người ta bước theo đông đảo như vậy? Phải chăng vì người đó chính là chân lý--phải chăng vì người đó đã đến để giải thoát nhân loại bằng chân lý, và nay lại dám hiến mình chịu chết cho chân lý?

Nhưng "chân lý là gì"? Câu hỏi không cần câu trả lời của Philatô lại là đề tài suy tư của nhiều thế hệ. Chân lý đó chính là Thiên Chúa yêu thương con người. Bất cứ ai tin nhận chân lý này sẽ tìm thấy cho mình một sức sống phong phú, một niềm vui linh thiêng tràn đầy, nhất là sẽ múc được hồng ân cứu thoát, dù rằng người đó có đang quằn quại trong nỗi đau của thân xác như người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu.

Từ chỗ tin nhận và bênh vựïc sự vô tội của Ðức Kitô, anh trộm lành đã khám phá ra vương quyền và thiên tính của Ngài. Kết quả, anh đã lên tiếng khẩn cầu: "Khi nào về Nước, xin Ngài nhớ đến tôi" (Lc 23:42).

Lạ quá! Làm sao trước một thân xác rã rời với đinh sắt, máu me thế kia mà anh ta có thể cất lên được lời kêu nài như thể là lời thỉnh cầu trước một quốc vương? Làm sao trước hình hài của một kẻ đang chịu đau khổ chẳng thua kém gì anh ta thế kia mà anh lại đem lòng thần phục như đối với một vị vua uy quyền như vậy? Câu trả lời sẽ là: Ðức Kitô gặp anh và anh đã tin phục Ngài. Chính sự tin phục cùng tin nhận này mà ơn cứu độ, phần thưởng của sự sống linh thiêng được trao ban cho anh ngay trong ngày đó.

Ðã có rất nhiều người gặp Ðức Giêsu, nhưng không phải tất cả đều nhận ra Ngài là Chân Lý, là Vua của tâm hồn, là Chúa của yêu thương. Philatô đã gặp Ðức Giêsu đấy chứ, nhưng lòng ham mê quyền hành đã che khuất chân lý; những người luật sĩ biệt phái đã thấy Ðức Giêsu đấy chứ, nhưng những ghen tương đố kị, những mưu cầu ảnh hưởng cá nhân đã làm lu mờ khuôn mặt của chân lý; rất nhiều người trong đám đông dân chúng Do thái về dự lễ Vượt qua ngày xưa đã thấy Ðức Giêsu đấy chứ, nhưng chỉ vì thích hùa theo tính bạo động của đám đông, bất chấp chuyện đúng sai, bất chấp kẻ vô tội là Giêsu hay là Baraba. Thế nên, cuối cùng Chân Lý đã bị họ đóng đinh.

Trong tuần cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội muốn đặc biệt nhắc nhở với mọi người tín hữu về gương mặt của Chúa Giêsu Vua, gương mặt của chân lý yêu thương con người--chân lý duy nhất mang lại hạnh phúc và niềm vui tâm hồn. Thử hỏi chân lý yêu thương đó có ngự trị tâm hồn của tôi chưa? Tôi đã dám bước trên những gì là quyền hành, dù đó là quyền hành của một người cha, người chồng, hay người chủ, tôi có dám vượt thoát những gì là ghen tương đố kị, lợi ích riêng tư, tôi có can đảm chế ngự những bạo động của dục tình hay nóng giận để làm cho hình ảnh của chân lý yêu thương là Vua Giêsu được bừng sáng hơn trong gia đình và cộng đoàn tôi không?

Xét lại chính mình nhân ngày cuối năm phụng vụ để xác định thái độ tin phục và suy tôn cần có đối với Vua Giêsu, hầu sự bình an và niềm hạnh phúc thiên đàng mà Ngài đã tặng ban cho người trộm lành xưa, cũng chiếm ngự tâm hồn, gia đình, và cộng đoàn chúng ta.

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật I Mùa Vọng

03-12-2000 
Gr 33:14-16; 1 Tx 3:12-4:2; Lc 21:25-28,34-36

CHÚA CHỜ TÔI HAY TÔI ÐỢI CHÚA

 

Từ trần gian con ngước trông lên Chúa ơi,
Cầu xin hãy mưa Ðấng Thiên Sai, Chúa ơi, nghe lời van thiết tha!
Ngày và đêm con vẫn van xin Chúa thương
Người ban ơn cứu rỗi yêu đương bốn phương, cho đoàn con ngóng chờ.

Lời nguyện cầu thiết tha nhắc tôi một năm phụng vụ mới đã tới. Một mùa Vọng nữa đã về. Giữa cái se lạnh của ngày lập đông lại có những giây phút hân hoan đợi chờ. Ngày Lễ Giáng Sinh sắp đến. Không gian như hơi giao động giữa từng cơn gió, nhưng vẫn ấm biết bao khi nghe văng vẳng bài thánh ca mừng Chúa ra đời. Không hiểu sao trong tất cả các mùa phụng vụ, tôi thích nhất mùa Vọng.

Nhưng hình như vẫn còn một thứ trái nghịch nào đó trong nỗi chờ đợi mà nay đã thành quen thuộc trong nếp sống đạo của mình: thay vì hướng đến một sự gì sẽ xảy ra trong tương lai, tôi lại chỉ ngóng về một biến cố đã qua. Thành ra vọng mà không phải chờ. Sống mùa Vọng mà chỉ như một cuộc tưởng niệm quá khứ.

Thế nên Lời Chúa trong ngày đầu tiên của năm phụng vụ mới đã hướng tôi về với ý nghĩa căn bản của mùa Vọng: kỷ niệm ngày Chúa đã đến để hướng lòng về ngày Chúa lại đến.

Nói một cách khác, nói đến mùa Vọng là nói đến sự chờ đợi và thái độ chờ đợi hoặc tích cực hoặc tiêu cực. Người chờ đợi tiêu cực luôn ở trong trạng thái thụ động. Như một người chờ đợi xe bus, chỉ biết đứng trông, chờ mong chiếc xe ghé trạm. Trong khi đó, người có thái độ chờ đợi tích cực sẽ như gia chủ, bận rộn sắp xếp, sửa sang phòng ốc, chuẩn bị đón tiếp quan khách ghé thăm.

Bước vào mùa Vọng với thái độ trông chờ tích cực chính là lối đường mà Hội Thánh mời gọi. Dù rằng đất trời rung chuyển, dù cho thiên hạ âu lo, người Kitô hữu vẫn hãy "đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi đã gần đến"(Lc 21:28). Người tin Chúa Giêsu Cứu Thế không thể nào lại sợ hãi khi Ngài trở lại trong vinh quang. Họ cũng không thể xếp xó công việc, ngồi đó ngóng trông mà lơ là bác ái.

Tín hữu thành Thessalônica đã một lần rơi vào cảnh ngộ đó. Họ cứ tưởng Chúa gần đến lắm rồi. Và hậu quả là ăn không ngồi rồi, chểnh mảng công việc, tội lỗi nảy sinh. Thánh Phaolô đã phải lên tiếng răn bảo: càng trông chờ Chúa anh em càng phải "tràn đầy lòng thương yêu nhau... để lòng anh em được bền vững trên đường thánh thiện, không có gì đáng trách trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Ðức Giêsu Kitô ngự đến cùng với tất cả các Thánh"(1 Thes 3:12-13).

Thế ra sống tinh thần trông đợi Ðấng Cứu Thế không gì tích cực và ý nghĩa hơn việc tỏ bày đức ái.

Không có đợi chờ chân thành nào lại không hàm ẩn một cân lượng của yêu thương nhung nhớ. Vì có yêu mới nhớ, có thương mới chờ. Thế nên khi cất lên lời ca "Ngày và đêm con vẫn van xin Chúa thương. Người ban ơn cứu rỗi yêu đương bốn phương, cho đoàn con ngóng chờ" đã như một lời khẳng định chỉ có Thiên Chúa Tình Yêu mới lấp đầy mọi khát vọng yêu thương của con người. Lời khẩn cầu chờ mong Chúa đến và nỗ lực thương yêu đã như đan quyện vào nhau mà làm nên bản sắc độc đáo của mùa Vọng.

Tôi cứ lầm tưởng mình đang đợi Chúa đến, nhưng đúng hơn, Ngài đang chờ tôi về. Chúa đã đến cách đây 2000 năm. Bước chân Ngài vẫn trải khắp trong từng phút giây và nơi mọi ngóc ngách của đời tôi. Ngài chờ đợi tôi như người cha trông mong đứa con hoang trở về trong vòng tay thân ái. Tình yêu nơi Ngài đã làm nên nỗi nhớ. Nhớ day dứt người con xa vắng mù khơi. Càng nhớ lại càng mong. Và nỗi mong đã khiến Ngài không ngừng tìm đến với nhân loại.

Chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh phải là thời điểm nhắc tôi về một Tình Yêu đã đến, đang đến và sẽ đến. Tình yêu đó không ngớt mời gọi, chờ đợi ngày tôi trở về để "se chữ đồng" và để "kết nghĩa đất trời yêu thương."

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật II Mùa Vọng

10-12-2000
Br 5:1-9; Pl 1:4-6,8-11; Lc 3:1-6

SÁM HỐI LÀ TÁI SINH

 

"Con đường gồ ghề hãy san cho bằng. Và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa" (Lc 3: 5-6).

Nhập đề bản văn Sứ Vụ Rao Giảng của Ðức Giêsu bằng dòng chữ "Ðời hoàng đế Tibêriô năm thứ mười lăm, Phongxiô Philatô làm toàn quyền xứ Giuđêa, Hêrôđê làm thủ hiến xứ Galilêa, còn em là Philiphê làm thủ hiến xứ Ituria và Tracônitêđê, Lysania làm thủ hiến xứ Abilêna, Anna và Caipha làm thượng tế, có lời Chúa kêu gọi Gioan, con Giacaria, trong hoang địa...,", Thánh sử Luca đã long trọng giới thiệu vai trò lịch sử của Ðức Kitô qua việc trình bày khung cảnh đạo đời lúc bấy giờ:

Tibêriô là vị hoàng đế thứ hai sau Augustô, cai trị đế quốc Rôma từ năm14 trước công nguyên đến năm 37 sau công nguyên. Thế nên, năm thứ 15 triều đại Tibêriô, tức vào khoảng năm 28, 29 sau công nguyên, Gioan đã nhận được "sư vụ lệnh" để ra đi rao giảng thống hối, dọn đường cho Ðức Kitô ngự đến.

Các tài liệu lịch sử ghi chép rằng vào năm thứ 4 trước Chúa giáng sinh, sau khi Hêrôđê đại đế qua đời, vùng đất Palestine đã bị phân chia thành bốn khu vực khác nhau. Hêrôđê Antipas lên kế vị Hêrôđê Ðại đế, cai trị vùng Galilê và Pêrê. Cuộc đời Chúa Giêsu đã trải qua trong thời của vua Hêrôđê này.

Hêrôđê Philipphê, hay còn gọi là Xêdarê Philipphê, cai trị vùng Ituria và Tracônitêđê. Riêng Archêlô thì trấn giữ vùng Giuđêa, Samaria và Êđom. Archêlô là một ông vua tham tàn bạo ngược. Rất nhiều lần dân Do thái dâng kiến nghị lên hoàng đế Tibêriô, xin truất phế Archêlô. Về sau, vì không chịu nỗi những vụ bạo loạn liên tiếp xảy ra tại vùng đất Giuđêa, nên hoàng đế buộc lòng phải đưa Philatô về làm quan toàn quyền. Vị này đã trấn nhiệm vùng đất Palestine từ năm 25 đến 37.

Ðó là về phần đời, riêng phần đạo, Thánh Luca cho biết có đến hai thượng tế trong khoảng thời kỳ rao giảng của Chúa Giêsu: Anna và Caipha. Ðây là một sự lạ thường trong lịch sử Dân Chúa. Ðúng ra, Anna tuy không còn làm thượng tế nữa, nhưng vẫn tạo không ít ảnh hưởng trên Caipha là con rể của ông ta. Thế nên dù Caipha đang nắm quyền thượng tế, Anna vẫn là cựu thượng tế lộng quyền. Ðó cũng là lý do tại sao Thánh sử Gioan ghi nhận: "Người ta điệu Chúa Giêsu đến cùng Anna trước hết, vì ông là nhạc phụ của Caipha, vị thượng tế năm ấy"(Gn 18:13).

Khi trình bày những chi tiết lịch sử trên đây, chắc hẳn Thánh Luca không chỉ xác quyết Chúa Giêsu là con người của lịch sử, nhưng còn khẳng định Ngài chính là vị Hoàng Ðế và Thượng Tế phải đến để tái lập trật tự thiêng liêng và mang lại ân phúc cho mọi người. Ngài sẽ là Ðấng "lấp mọi hố sâu, bạt mọi núi đồi, làm ngay thẳng mọi con đường cong queo, và lấp bằng những lối đi gồ ghề."

Như thế qua hình ảnh Gioan Tiền hô, Thánh Luca muốn trình bày sám hối như là mở ngỏ tâm hồn cho Ðấng Cứu Thế bước vào, là nhìn nhận tình cảnh bất toàn của mình, là ý thức chỉ có Ðức Kitô mới có sức mạnh biến đổi.

Ðời tôi có ơn giải thoát, có nguồn bình an, có niềm hạnh phúc hay không còn tuỳ thuộc nơi thái độ sám hối và để cho Lời Chúa chiếm ngự tâm hồn. Có sám hối mới có tái sinh và mới sống an bình.

Cách đây đã lâu, vào một buổi chiều trước lễ Giáng sinh, tại một khu rừng thuộc vùng Núi Ðen, nước Ðức, một bọn cướp đang chia nhau của cải vừa cướp được. Vật dụng cuối cùng còn sót lại, không ai thèm lấy, là cuốn Kinh Thánh bọc da màu đen.

Một tên cướp lên tiếng pha trò bằng cách đề nghị mở Thánh Kinh ra đọc hầu cả bọn sẽ ăn năn sám hối mà bỏ đường gian ác. Những tiếng cười vang lên nắc nẻ như vừa tìm thấy một trò vui lý thú. Tên cướp cầm cuốn Thánh Kinh mở đại một trang rồi đọc to lên theo kiểu các nhà giảng đạo, không quên pha thêm vài câu bông đùa làm cả bọn cười lăn.

Bỗng dưng tên cầm đầu im bặt, khuôn mặt trở nên đăm chiêu nghiêm nghị. Dường như hắn đang suy tính điều chi. Có lẽ hắn đang tính đến một kế hoạch sâu độc và tàn ác nào đó. Cả bọn nghĩ thầm như vậy.

Nhưng không. Ðúng ra câu Kinh Thánh hắn vừa nghe "Con đường gồ ghề hãy san cho bằng, và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa" gợi lại trong trí hắn một kỷ niệm êm đềm cách đây 30 năm. Ngày đó trước hôm hắn bỏ nhà ra đi, như thường lệ trong giờ kinh tối, bố hắn đã đọc cho cả nhà nghe một đoạn Kinh Thánh và dâng lời cầu nguyện xin Chúa ban cho gia đình được ơn cứu độ.

Hắn không ngờ, sau 30 năm, giữa chốn rừng già âm u, đoạn Lời Chúa mà hắn được nghe trước hôm bỏ nhà trốn đi, lại vang lên rõ ràng từng chữ, từng lời. Những hình ảnh của quá khứ thân thương bên cha mẹ, bên anh chị em, bên bàn thờ Chúa, lần lượt hiện về trong trí. Hắn dằn cuốn Kinh Thánh từ tay tên cướp, đi tìm một nơi thanh vắng, và ngồi đó vừa đọc vừa sám hối đời mình.

Chuyện gì đã xảy ra sau đó cho băng cướp tại Núi Ðen kia, không ai biết. Chỉ biết rằng sau mùa Noel năm đó, không khí lo sợ bất an đã biến đi trên những con lộ và xóm làng quanh vùng Núi Ðen.

Phải chăng người ta "đã được thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa" như lời Thánh Luca tiên báo (Lc 3:6)?

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật III Mùa Vọng

17-12-2000 
Xp 3:14-18a; Pl 4:4-7; Lc 3:10-18

THIÊN ÐÀNG LÀ THẾ ÐÓ!

 

"Mừng vui lên Sion, này đây Chúa ngươi đến rồi.
Mừng vui lên Sion, Ngài khấng nghe lời ngươi đó.
Ngài dẫn đưa ngươi, qua những hố sâu, qua núi đồi,
Về nơi an vui, nơi suối mát trong đẹp tươi."

Ðó là lời reo ca thoát thai từ niềm tin son sắt của tiên tri Sôphônia trong cảnh tang tóc khổ đau của kiếp lưu đày biệt xứ.

Số là vào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, vùng đất Do thái bị áp lực và sâu xé bởi đoàn quân viễn chinh Assyria hùng mạnh ở phía Bắc và vương quốc Aicập rộng lớn ớ phía Nam. Ngoài ra còn phải đương đầu với tệ nạn cướp bóc, sách nhiễu của các nước lân bang. Triều đình Do thái bị phân năm sẻ bảy. Người thì muốn cấu kết với Assyria để tránh tai hoạ, kẻ thì đòi liên minh với người Assur để chống giặc phương Bắc. Tình trạng rối rắm, bất ổn, chia rẽ, lo sợ đã làm đất nước nhỏ bé Giuđa rơi vào hoàn cảnh khốn đốn, kiệt quệ chưa từng thấy. Rốt cuộc Giêrusalem bị dày xéo, đền thờ rơi vào tay giặc, và dân cư phải đi lưu đày. Kiếp nô lệ cho đế quốc Assur bắt đầu.

Vào khoảng năm 609 trước Thiên Chúa giáng sinh, đế quốc Assur bắt đầu suy yếu. Tin tưởng ngày Giavê ra tay cứu thoát, thấy trước thời kỳ khôi phục quốc gia Giuđa, Sôphônia đã phấn chấn tâm hồn người dân lưu đày bằng lời reo vui: "Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi nhà Israen hãy vui mừng! Vì Chúa đã cất án phạt trên ngươi. Ðịch thù của ngươi, Ngài bắt phải tháo lui. Vua Israen là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn phải sợ khổ cực nữa" (Soph 3:14-15).

Ðây là niềm vui lớn lao cho toàn dân. Vui vì được Giavê giải thoát. Vui vì Chúa đến ở với dân Người. Chính Thánh Phaolô cũng đã nhắc đến niềm vui cứu độ này cho cộng đoàn tiên khởi Philip: "Anh em hãy vui mừng lên... vì Chúa đã gần bên"(Phi 4: 4-5). Ðây chính là chủ đề của Chúa nhật thứ 3 mùa Vọng. Màu tím trong phụng vụ được thay bằng màu hồng. Qua đó, Giáo hội kêu mời dân Chúa hãy đổi mới thái độ sống, hãy hân hoan vui mừng, hãy hát lên, vì khổ đau kinh hoàng sẽ qua đi và bình an của trời cao đang ngự đến.

Hãy đổi mới thái độ sống cũng chính là câu trả lời của Thánh Gioan Tiền hô khi dân chúng đến hỏi "Chúng tôi phải làm gì?"

Theo Thánh Gioan, để đón chào Sứ giả Bình an, để tiếp nhận Hạnh phúc của trời cao, thì "ai có hai áo, hãy cho người không có, ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy... Ðừng đòi gì quá mức ấn định... Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai." Phải chăng vị ngôn sứ đã muốn làm nổi bật chân lý: Hãy thương người để gặp được Chúa.

Khi hết lòng tu chỉnh thái độ sống của mình đối với anh chị em chung quanh, khi cố gắng thực thi công bình, bác ái, yêu thương và san sẻ, khi quyết tâm thay đổi tính khí xung giận hận thù, là tôi đang chân thành mở ngỏ đón mừng Ðấng Cứu Thế ngự đến, là khơi dòng cho nguồn bình an tuôn tràn đến người thiện tâm, và làm cho thiên đàng thật sự chớm nở nơi trần thế.

Người Nhật thường kể cho nhau nghe câu chuyện về một hiệp sĩ Samurai hung bạo, cộc cằn không ai bằng. Một hôm chàng ta đến gặp một vị thiền sư và nói:

- Xin hãy chỉ cho tôi biết thiên đàng là gì và hoả ngục là gì?

Vị thiền sư đưa mắt nhìn con người thô bạo từ đầu đến chân rồi thất vọng trả lời:

- Dạy cho ngươi biết thế nào là thiên đàng và thế nào là hoả ngục ư? Ta không thể dạy cho ngươi bất cứ điều gì cả. Vì ngươi là một kẻ hung bạo, thô lỗ. Ngươi là nỗi tủi nhục cho hàng ngũ hiệp sĩ Samurai. Hãy cút khỏi mặt ta. Ta không chịu được ngươi nữa.

Nghe những lời sỉ vả ấy, chàng hiệp sĩ nổi nóng, liền rút gươm định chém đầu vị thiền sư. Nhưng vị này giơ tay ngăn lại và nói:

- Hoả ngục là thế đó!

Chợt nhận ra đây là bài học thực tiễn của nhà tu hành, chàng hiệp sĩ vội dừng tay. Sự hối hận bỗng đâu dâng tràn tâm hồn, chàng ta hiểu ra rằng vị thiền sư muốn hy sinh cả mạng sống để dạy cho mình bài học về hoả ngục. Thế rồi chàng từ từ hạ gươm xuống, cho vào bao, đoạn đến quì gối trước mặt vị thiền sư với tất cả sự thành tâm sám hối. Vừa nâng chàng dậy, vị thiền sư vừa nhìn sâu vào đôi mắt của chàng và nói:

- Thiên đàng là thế đó!

Thiên đàng đã bắt đầu hiện hữu nơi cõi thế. Ðấng Cứu Thế đã đến trần gian. Một Hài Nhi đã sinh ra đời. Nhưng, nếu không biết thành tâm sám hối, đổi mới thái độ, làm sao người ta có thể cảm thấu được hạnh phúc thiên đàng là gì, Chúa Hài đồng là ai, hay niềm vui cứu độ là chi. Phải chăng vì bao lâu nay tính nóng nảy, giận hờn, ích kỷ, và nhất là vì thiếu hành vi sám hối mà người ta đã gây ra không biết bao nhiêu quang cảnh tan nát, lưu đày, hoả ngục cho chính mình và cho tha nhân?

Nhưng nếu biết sống an hoà với mọi người, biết chia sẻ cứu giúp những ai bần cùng khốn khó, biết chế ngự thói xấu tật hư, biết hướng lòng lên với trời cao bằng kinh nguyện và lời tri ân, thì như lời Thánh Phaolô đoan quyết, "bình an của Thiên Chúa sẽ gìn giữ lòng trí của anh em trong Ðức Giêsu Kitô" (Phi 4:7).

Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Back to Top Back to Top


   Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com