VIỆT NAM GIÁO SỬ Lm Phan Phát Huồn, CSsR PHẦN THỨ TƯ NHỮNG NĂM KIẾN
THIẾT CHƯƠNG BA MƯƠI Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Từ 1888 Ðến 1933
VIII.- Cuộc Kinh Lý của Khâm Sai Tòa Thánh (1922-1923) Trước khi ban hành Thông điệp "Rerum Ecclesiae" (18.2.1926) nói lên hướng đi của Vatican muốn có những giám mục địa phương với một hàng giáo sĩ có trình độ, Giáo Hoàng Piô XI cử Ðức Cha Henri Lécroart dòng Tên, giám mục Thiên Tân (Tientsin) Trung Hoa, làm Khâm sai Tòa Thánh đi quan sát tình hình các giáo phận ở Ðông Dương, đặc biệt về cách tổ chức các chủng viện và chương trình học vấn (1). Ðức Khâm sai đã đến Hải Phòng ngày 2.11.1922 và tuần tự kinh lý Giáo Phận Hải Phòng, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Tại Lạng Sơn ngài đã đặt viên đá đầu tiên cho ngôi nhà thờ chính tòa. Ngôi nhà thờ này bị Việt Cộng phá bình địa năm 1979 lúc quân đội nhân dân Trung Hoa rút khỏi nơi đây. Ðầu năm 1923, Ðức Cha tiếp tục đi kinh lý tại Nam Ðịnh, Bùi Chu, Phát Diệm, Vinh. Tháng 3.1923, ngài đi kinh lý Bà Rịa, Cap St Jacques (Vũng Tàu) rồi đi thăm Chủng viện thánh Giuse tại Penang. Tiếp theo là Thái Lan, Cần Thơ rồi Sàigòn. Tại Sàigòn, Ðức Khâm Sai Tòa Thánh đã họp các Giám Mục của Ðàng Trong, và cuộc họp ấy bế mạc ngày 15.6.1923. Nhờ cuộc kinh lý này, Tòa Thánh qua vị Khâm Sai của mình đã biết rõ tình hình tông giáo, chính trị, văn hóa của Giáo Hội VN, một Giáo Hội đã có những tổ chức rất đặc biệt như Nhà Thầy, Nhà Mụ, có từ thế kỷ XVII. (2)
Về văn hóa Chương trình học vấn của các chủng sinh chỉ đủ giúp họ làm "cụ phó" (phụ tá), nhưng đạo đức và vâng lời bề trên. Do đấy mà có cuộc sống cách biệt "cố Tây" và "cụ Ta". Các "cố Tây" hay "cha (dòng) Tây" thì ở nhà trên ăn cơm tây, còn "cụ Ta" thì ở nhà dưới, ngồi chiếu. Trong các giáo phận thuộc dòng Ðaminh, mỗi khi đón tiếp một vị thừa sai dòng mới đến tại sở chính, các người Nhà Ðức Chúa Trời, từ cha già đến cậu bé giúp lễ lên hôn chân vị thừa sai đó. Ðức Khâm Sai Tòa thánh Lécroart sau khi đi thăm các giáo phận xứ Bắc, trở lại Phát Diệm hồi tháng 3.1923. Tại đây, Ðức Khâm sai hội các giám mục miền Bắc duyệt lại tình hình, đặc biệt quan tâm đến tổ chức các chủng viện đào tạo hàng giáo sĩ Việt Nam. Tòa Thánh muốn hàng giáo sĩ địa phương phải có nhiều tiến bộ về chương trình học như các chủng viện ở châu Âu, để tiến tới trưởng thành và thay thế các nhà truyền giáo từ nước ngoài đến (3). Ðiều mà các thừa sai Pháp cũng như Espanha không nghĩ đến hay không muốn nghĩ đến, đến nỗi Ðức Cha Marcou Thành giáo phận Phát Diệm đã đuợc Thánh Bộ truyền bá Ðức Tin hỏi: "Người Việt Nam khả năng thế nào? Ðã 300 năm rồi mà chưa có ai làm được giám mục (4). Ðức cha Thành bấy giờ là một trong hai giám mục rất tận tình với hàng giáo sĩ Việt Nam, vị thứ hai là đức cha Allys Lý Giáo phận Huế. Theo tinh thần của Hội nghị Giám mục tại Phát Diệm, các học sinh trước khi được vào chủng viện phải qua hai năm Trường Thử nhiều giáo phận gọi là Trường Bảy. Tiểu chủng viện (trước đây gọi là trường Latinh) bắt đầu từ lớp sáu đến lớp nhất, theo chương trình của Nha Học chính. Chủng sinh học La văn và những môn cần thiết để lên đại chủng viện (không gọi là trường lý đoán nữa). Từ đây không còn cấm học Pháp văn, không cấm thi bằng cấp, mà còn khuyến khích hoặc bắt buộc. Sau cuộc kinh lý của Ðức Khâm sai Lécroart (1922-1923), Ðức Thánh Cha thúc các giám mục cho người sang học ở Rôma (5). Các giám mục vâng nghe. Trong thập niên 1930 giáo phận nào cũng có từ 1 đến 3 chủng sinh được gởi đi; Giáo phận Hà Nội có 5 thầy, đông hơn cả. Nhưng kết quả không đạt như ý. Tuy nhiên phần đông đã đậu cử nhân, tiến sĩ, có những vị 2, 3 bằng tiến sĩ trở về dậy chủng viện, một số lên chức giám mục, tổng giám mục sau này. (6) Ðối với hàng giáo sĩ Việt Nam bấy giờ các đức giám mục hầu như chỉ quan tâm đến sự thánh thiện, việc đào tạo nghiêng về đời sống đạo đức hơn là trí thức. Các Ðức cha thường nhắc lại những lời trong sách Selva của Thánh Anphong: Cha xứ tầm thường thì giáo dân tội lỗi, cha xứ tội lỗi, nghĩa là bỏ xưng tội, bỏ suy gẫm, bỏ thăm viếng kẻ liệt, lười biếng ngồi tòa hòa giải, thì than ôi!... (7) Kết quả sau vụ kinh lý của Ðức Cha Lecroart S.J. đã có những quyết định cụ thể như sau: - Phải thăng tiến các linh mục bản xứ, không được đối xử với họ như những linh mục hạng nhì (8). - Phải cải tổ các tiểu chủng viện và đại chủng viện, gởi chủng sinh đi học tại Rôma. - Lập Tòa Khâm sứ Vatican tại Ðông Dương 1925. Những quyết định trên đây của Khâm Sai chẳng qua là sự áp dụng đường lối được Ðức Benedictô XV phác họa trong Thông điệp Maximum Illud công bố ngày 30-11-1919. Thông điệp mà các thừa sai ở Việt Nam lúc bấy giờ không mấy quan tâm đến hoặc cố ý phớt lờ đi vì nó đụng chạm đến quyền lợi của các ông, tuy nhiên cũng có một số thừa sai ủng hộ Thông Ðiệp này.
IX.- Thiết Lập Tòa Khâm Sứ tại Ðông Dương (1925) Việt Nam đã có liên lạc với Vatican từ đời nhà Lê, Trịnh Tráng đã gởi bức thư cho Giáo Tông Urbanô VIII. Ðó là bức quốc thư đầu tiên của chính phủ Việt Nam với Toà Thánh Vatican (9). Nhưng mãi đến năm 1925 Ðức Piô XI mới lập Tòa Khâm Sứ tại Ðông Dương mà chính yếu là tại Việt Nam. Vị Khâm sứ đầu tiên là giám mục Costantino Ayuti quốc tịch Italia. Ông sinh ở Seeze, gần Roma năm 1876, theo học tại trường Apollinaire và đỗ tiến sĩ về triết học, thần học, luật học cả đạo lẫn đời.Ngày 25.5.1925 ông được bổ nhiệm làm Khâm sứ Ðông Dương (10). Ðức Hồng Y Van Rossum đã tấn phong Giám Mục cho người ở trường Tấn Giáo (11). Người tạm đặt bàn giấy ở Hà Nội. Hồi ấy có một quan thượng thư Công giáo, ông Nguyễn Hữu Bài (12) trình với người về việc xây cất Tòa Khâm sứ ở Huế, người chấp thuận ý kiến ấy. Nhờ thế gần Nhà thờ Chính tòa Phủ Cam trong một thời gian ngắn đã mọc lên một ngôi nhà đồ sộ làm trụ sở của Khâm Sứ Tòa Thánh ở Ðông Dương (13). Nhận thấy hàng giáo sĩ Ðông Dương cần có một cơ quan ngôn luận, ông đã quyết định cho xuất bản một tờ nguyệt san, mang tên Sacerdos Indosinensis. Tờ báo được trao cho thừa sai Cadière Cả thực hiện và làm chủ nhiệm. Số đầu tiên phát hành nhằm ngày lễ kính Thánh Giuse năm 1927. Ðức Khâm Sứ Ayuti đã đưa ra sáng kiến tổ chức Ðại hội Thánh Thể 3 năm 1 lần (luân phiên các giáo phận). Ban đầu ở cấp giáo phận, dần dần lên cấp miền, rồi toàn quốc. Giáo phận Phát Diệm đi tiên phong tổ chức đại hội vào tháng 4.1928. Chính Ðức Giám Mục Ajuti không ở tại trụ sở mới vì người mất trước lúc khánh thành trụ sở. Người tấn phong Giám Mục cho cha Valentino Hergott (Nam Vang) sau đó vài hôm người đến Ðàlạt không may ở đây người phải bệnh thương hàn; lúc về Saigon cơn bệnh quá trầm trọng không sao chữa được. Người mất ngày 18.7.1928 giữa sự nhớ tiếc của giáo sĩ và giáo dân Việt Nam. Năm 1929 Rôma gởi một giáo sĩ dòng Phan Sinh thuộc quốc tịch Pháp, Ðức Giám Mục Dreyer. Những công việc người đã làm ở Amiens, Roma, Paris và Maroc cho chúng ta biết người là một giáo sĩ có khả năng. Ngoài việc lập Tòa Khâm sứ ở Huế, Hội Thánh còn lập nên nhiều giáo phận mới. Giáo phận Hải Phòng lập năm 1879, Bắc Ninh năm 1883, Phát Diệm năm 1901, Lạng Sơn năm 1913, Thanh Hoá và Kontum năm 1932. Cuối năm 1932 Hội Thánh tại Việt Nam có 13 giáo phận, tất cả các giáo phận ấy đều do các Giám Mục ngoại quốc cai quản. Nhưng từ năm 1933 chúng ta sẽ thấy Hội Thánh bắt đầu trao quyền cai quản giáo phận cho hàng giáo sĩ Việt Nam vì vậy năm 1933 là một năm mở cho Hội Thánh ở Việt Nam một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên ghi đến muôn đời tên tuổi của Ðức Cha Nguyễn Bá Tòng, vị Giám mục tiên khởi Việt Nam.
Chú thích: 1. Viết theo Bùi Ðức Sinh: Dòng Ðaminh Tại Việt Nam. Tập II trg. 65 và tiếp. 2. Nhà Thầy hay Nhà Ðức Chúa Trời (nhà chung) gồm các thầy, các chú, các cậu (giúp lễ) và bõ ngại sống cộng đoàn dưới quyền cha xứ. Nhưng nguồn gốc và chủ yếu là những thanh niên, những người đã học trong tiểu chủng viện (mà khả năng không theo kịp) hoặc xuất thân từ trường Kẻ giảng. Khi ra trường đức giám mục phát bài sai đi thực tập, làm việc giúp hàng giáo sĩ, dậy giáo dân tân tòng, dạy trường sơ học nhà xứ, vv. Sau thời gian thực tập có kết quả, và vượt qua những cuộc khảo hạch về những môn đã học trong nhà trường, đức giám mục sẽ cấp cho bằng "Thầy Giảng". Nhà mụ là nhà gồm các trinh nữ đạo đức giúp truyền giáo, đứng đầu là một "Bà mụ", tên xưa kia dành cho người đàn bà phúc hậu, chuyên chăm việc bác ái, giúp bà mụ có bà phó. Ngoài ra còn có "chị ả" coi sóc đồ lễ, nhà nguyện xướng kinh, đọc sách và dạy những chị mới vào đời tu, "chị cai" chăm lo việc làm ăn. Còn các chị em khác đem hàng quà ra chợ bán, hoặc đi bán thuốc. Từ thập niên 1920, nhà mụ được cải tên là nhà phước, bà bề trện chung các nhà cùng một giáo phận gọi là bà mẹ, ở nhà chính còn có bà bề trên gọi là bà Nhất còn có bà phó gọi là bà Nhì. Chị giữ việc gọi là bà tổng quản lý, các chị em khác gọi là chị Phước hay dì Phước (nếu có tuổi hơn). 3. Theo tập hồi ký chép tay Souvenirs d’un ancien (trg715) của cố Poncet Thảo, giáo sư sử học Ðại chủng viện Thượng kiệm (Phát Diệm) thì Cha Truxler bí thư của đức Khâm sai quan sát khắp nơi, tiếp xúc nhiều người, kiểm tra thư viện. Ðức Khâm sai tỏ ra không mấy hài lòng về ba đại chủng viện Trung Linh, Ba Ðông, Ðạo Ngạn của ba giáo phận Dòng Ðaminh. Thư viện nghèo nàn, chủng sinh không nói được tiếng Pháp, tiếng Latinh thì bập bẹ. Ðức Khâm sai cũng không mấy cảm tình với chủng viện Kẻ Sở (Hànội), tuy thư viện có khá hơn, nhưng chủng sinh không nói được tiếng Pháp, tiếng Latinh thì câu được câu không. Chủng viện Thượng Kiệm (Phát Diệm): thư viện khá hơn cả. chủng sinh nói tiếng Pháp, hiểu được bài giảng của Ðức Khâm sai bằng Latinh và viết đuợc đại ý cũng bằng Latinh. 4. Ðã 300 năm mà chưa có giám mục, lý do vì các thừa sai thiếu thiện chí và ngăn cản vấn đề này. Xem: Cha Giuse Phước và vấn đề Giám mục bản xứ. Chương Tám, số IV. trg. 229. 5. Chủng viện ở đầu thế kỷ XX còn tổ chức theo lề lối và trình độ xưa: Trường Latinh và trường Lý đoán. Trường Latinh (6 năm) ngoài việc học La văn, còn học phép cách vật (triết) và nhiều môn khác như sử địa, phép lịch sự, thánh nhạc, quốc văn, Hán tự v.v... Trường Lý Ðoán (4 năm) dạy thần học tín lý và luân lý, chữ đỏ (phụng vụ), đời sống (trọn lành) của các đấng làm thầy, v.v... Trong thời gian chủng viện, cấm đọc tiểu thuyết, cấm học Pháp văn, cấm hút thuốc (lào), các thầy Lý đoán (đại chủng sinh) không được nằm võng, không được uống trà Tàu trong phòng riêng, chỉ có ngày giải trí được một ấm trà Tàu uống chung với nhau. Ra khỏi phòng là phải mặc quần áo dài, kể cả giờ tập thể dục và đấu bóng tròn. Các chủng sinh hàng ngày đọc đủ một tràng 150 kinh mân côi (bằng Lavăn). Trước Thánh Lễ năm chục và suy gẫm nửa giờ, trước bữa ăn trưa năm chục và nghe đọc sách thiêng liêng, trước khi đi ngủ năm chục, xét mình và suy gẫm nửa giờ. Xưng tội rước lễ hàng tuần, sau chỉ dụ 20.12.1905 của Ðức Piô X rước lễ hàng ngày. 6. Ðức cha Marcou Thành từ Roma về, ông quyết gởi chủng sinh qua Roma học. Ðức Cha Thành hỏi 3 Ðức cha giáo phận Dòng Ðaminh thì cả ba đều im lặng - hỏi Ðức cha Eloy Bắc (Vinh), Ðức cha từ chối - trong khi đó, lúc được hỏi thì các Ðức cha Hànội, Huế, Qui Nhơn. Saigon, Hưng Hóa đều đồng ý gởi chủng sinh đi học. Bùi đức Sinh. Op. Cit. Quyển II trg. 72. 7. Ðạo Ðức Chân Huấn, do cố Pierre Marie Cadro (quen gọi là cố Lương) dịch từ cuốn Selva của thánh An Phong, Kẻ Sở 1887 (538 trg.). Ghi chú Bùi đức Sinh trong ibidem trg 72. 8. Thomas P. Neill: History of the Catholic Church. p. 589: Native priests are not to be considered as "auxiliaries of the Foreign Missionary: They are to be of equal rank and they are destined one day to be rulers of their dioceses." 9. Xem Chương Bốn, số II. 2. trg. 105. 10. Acta Apostolicae Sedis trg 29 công bố tông thư Ex Officio Supremo thành lập Tòa Khâm sứ Ðông Dương đặt tại VN. 11. NKÐP, tháng 8/1928. 12. Một quan đại thần của nhà Nguyễn thanh liêm và khí tiết. Năm 1913 Toàn quyền Pháp Mahé đòi quật mả Tự Ðức lấy vàng, ông phản đối cũng như ông Ngô Ðình Khả phản đối Pháp truất phế và đày vua Thành Thái do đó mà bia miệng đã được dựng lên giữa dân chúng từ lúc bấy giờ: "Ðày vua không Khả. Ðào mả không Bài". Xem: -Tài liệu học hỏi: Chuẩn Bị Phong Thánh. trg. 68. -Lãng Nhân: Những Trận Ðánh Pháp. trg. 126 (1). 13. Ðồ án do Lm. Brébion Op. (còn tiếp) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |