DÒNG CHÚA CỨU THẾ VIỆT NAM
75 NĂM LỊCH SỬ

Lm. Lê Huy Bảng, C.Ss.R.

Theo "An Phong Gia Ðình Biên Ký Tập" (Chroniques de la Famille Alphonsienne của Tỉnh Dòng Sainte Anne de Beaupré, Canada), thì ngày Sinh nhật của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam là ngày 30/11/1925, ngày các đấng Thừa sai tiên khởi đặt chân lên đất Việt Nam.

Năm 1923, Ðức Thánh Cha Piô XI đặc phái Ðức Cha Henri Lecroart SJ, Giám Mục Ðịa phận Tcheli Ðông Nam Trung Hoa, làm Khâm sai kinh lược ba kỳ Bắc Trung Nam của Việt Nam thời ấy. Trong bản phúc trình gửi về Tòa Thánh, Ðức Cha Lecroart đặc biệt nêu lên sự cần thiết thành lập một dòng tu linh mục thừa sai chuyên giảng cấm phòng cho hàng đạo đức và tu sĩ, và giảng đại phúc cho các họ đạo.

Ngày 20/6/1924, đại hội toàn bộ Thánh bộ Truyền giáo thịnh tình cứu xét bản phúc trình của Ðức Cha Lecroart và trao trọn quyền cho Ðức Hồng Y Chủ Tịch Thánh bộ là Ðức Hồng Y Van Rossum (người Belgium) thuộc DCCT, để sớm liên lạc và vận động với Bề trên Tổng quyền DCCT là Cha Patrick Murray (người Ireland) cho phép lập dòng tại Việt Nam.

Ngày 9/11/1924, ngày kỷ niệm lập dòng, Ðức Hồng Y Chủ Tịch Thánh Bộ Truyền giáo gửi đến Cha Tổng quyền DCCT một lá thư thỉnh ý đề nghị. Và muốn ảnh hưởng sự lựa chọn của Cha Tổng quyền, Ngài ghi chú: "Nếu tôi không lầm, thì đây là một công tác tốt đẹp cho Tỉnh Dòng Thánh Anna de Beaupré (Canada) đang khát vọng tông đồ các Xứ Truyền giáo!"

Quả nhiên, ngày 19/11/1924, Cha Tổng quyền đã hân hoan trao tặng việc lập DCCT/VN cho Tỉnh Dòng Thánh Anna Beaupré. Cha Giám Tỉnh là Cha Thomas Pintal và toàn thể Tỉnh dòng reo mừng và biết ơn đón nhận danh dự tham gia công cuộc truyền giáo vùng Ðông Nam Á (Thư luân lưu 12/12/1924). Sau một năm liên lạc thư từ với Ðức Cha Lý (Mgr ALLYS) đang cai quản Ðịa phận Huế (Bình Trị Thiên), Cha Giám tỉnh, trong thư luân lưu 3/9/1925, đã công bố danh sách quí vị Thừa sai tiên phong: ba cha và hai thầy. Các cha Hubert Cousineau, Eugene Larouche, Edmond Dionne và các thầy Barnabé Và Éloi chia làm hai nhóm. Nhóm đầu gồm hai Cha Cousineau, Larouche, và Thầy Barnabé. Sau một tháng vượt biển qua ngã Nhật bản, ba đấng đã đặt chân lên đất Thần kinh, đầu mùa mưa, 30/11/1925. Qua năm sau (1926) nhóm hai: Cha Dionne và Thầy Éloi lên đường. Cùng một thời gian, cũng một hành trình.

Huế đã được chọn làm nôi sinh DCCT, vì Huế nằm giữa trục giao thông Bắc Nam. Ðịa phận Huế đã vinh dự đón tiếp trước tiên DCCT, Ðức Cha Lý, khi mở tay chào rước ba vị Thừa sai, có tuyên bố: "Quí ngài hãy vui sướng mà biết cho rằng, tôi không bỏ qua một ngày mà không cầu nguyện với Thánh Giám mục Anphong Ligôri, Ðấng sáng lập dòng của quí ngài".

Ngày 15/5/1932, Cha H. Cousineau, sau 6 năm hoạt động tận lực đắc lực và dày công hy sinh, vì lý do sức khỏe, đã phải tiếc xót hồi hương. Cha E. Larouche và Cha E. Dionne sẽ lưu nhiệm lâu năm. Hai ngài tài cao đức rộng, đã đóng góp rất nhiều vào công việc thành lập và phát triển Tỉnh DCCT/VN.

 

I. CÁC TU VIỆN DCCT CỦA TỈNH VIỆT NAM

 

Tu Viện Huế (25/03/1929)

Trong thời gian sơ khởi lập Dòng, mọi địa điểm đều mang tên Ðịa Ðiểm Truyền Giáo (Mission). Thời gian địa điểm truyền giáo DCCT/VN kéo dài 5 năm. Năm năm với nhiều công lao gian khổ, thấm nhuần mồ hôi nước mắt của các vị Thừa sai anh hùng trong đồng ruộng truyền giáo. Mất nhiều năm tháng làm quen với phong tục, ngôn ngữ. Trải qua nhiều tháng năm mà vẫn chưa quen khí hậu, thời tiết miền nhiệt đới. Các ngài không ngần ngại tra tay vào việc ngay. Sứ mạng tông đồ truyền giáo đã được thi hành triệt để và tức khắc.

Khi mới đến Huế, các vị thừa sai DCCT Canada tạm ngụ tại dinh thự của Cụ Ðốc Ðinh Doãn Sắc, gần cầu Lò Rèn. Sau đó, các ngài mua được thửa ruộng gần chợ An Cựu và khởi công xây dựng Nhà dòng. Tu viện đầu tiên của DCCT có tên là Tu viện Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp được khánh thành vào ngày 08/09/1928. Cũng chính từ Tu viện đầu tiên của Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam, Thư viện và Hội trường L’Accueil được khai sáng vào năm 1938 và hoạt động mạnh mẽ cho đến năm 1953 để làm nơi diễn thuyết, diễn kịch tăng thêm vẻ phong phú của nền văn hoá tại vùng đất kinh kỳ này.

Sau đó, Giáo xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp được chính thức thành lập và Nhà thờ được khánh thành vào tháng 8/1962.

 

Tu Viện Thái Hà Ấp (Hà Nội)  (07/05/1929)

Ngày 18/09/1928, Ðức Cha Ðông (Pierre Gendreau, MEP) của Hà Nội đã mở rộng hai tay đón các cha đến xin lập dòng. Ngày 07/05/1929, nhà dòng Chúa Cứu Thế ở Thái Hà Ấp cách Hà Nội 2 cây số được chính thức thành lập và Tu viện Thánh An Phong gồm 3 tầng lầu đã được khánh thành vào ngày 12/09/1931. Sau đó, Giáo xứ Thánh An Phong ra đời vào ngày 05/11/1939. Sau Hiệp định Genève chia đôi đất nước năm 1954, đa số các cha và thầy ở Tu viện Thái Hà Ấp phải đi vào Nam. Còn lại ba cha Thomas Côté, Denis Paquette, Gioan Maria Vũ Ngọc Bích, và hai thầy Marcel Văn và Clêmentê Mẫn. Ðến những năm 1958-1959, hai cha Paquette và Côté bị trục xuất về Canada. Thầy Marcel Văn và Thầy Clêmentê Mẫn chết rũ tù. Cuối năm 1961, nhà nước chiếm trọn hai ngôi lầu, để lại cho Cha Bích một căn nhà nhỏ cạnh lầu chuông và nhà thờ. Hiện nay, cha Bích đã lớn tuổi và mù loà. Việc chăm sóc giáo xứ đang được cha Trịnh Ngọc Hiên được Dòng gửi từ miền Nam ra giúp.

 

Tu Viện Sài Gòn (24/06/1933)

Ngày 25/11/1931, để phát triển công cuộc thừa sai ở miền Nam, Dòng Chúa Cứu Thế đã đến xin lập nhà tại Sài Gòn. Ngày 14/04/1940 là ngày khánh thành Tu viện Thánh Giuse ở 38 Kỳ Ðồng được xây trên một bãi đổ rác lạch Trương Minh Giảng lúc đó. Dịp này, có Ðức Khâm sứ Drapier, Giám mục Nam Vang Chabalier và Ðức Cha Ngô Ðình Thục đến làm phép. Vào ngày 10/12/1953, DCCT khánh thành Nhà thờ kính Thánh Giuse.

Trong những năm 1959-1960: Tu viện được xây cất thêm để đáp ứng chỗ ở cho các cha và thầy. Sau 1975, nhà nước lấy đi phần đất nghĩa trang của tu viện để xây hồ tắm.

 

Tu Viện Nam Ðịnh (12/06/1942)

Mặc dầu tình hình chính trị tại Việt Nam trong những năm 1940 rất căng thẳng bởi trong bối cảnh Nhật Bản đang tung hoành khắp Châu Á và đang lăm le xâm chiếm Việt Nam, các vị bề trên DCCT vẫn quan tâm đến nhu cầu truyền giáo của mọi giới, cách riêng giới thợ thuyền ở Nam Ðịnh. Và thế là vào ngày 12/06/1942, Nhà thờ và Tu viện Thánh Anna được thành lập tại đây. Nhưng do chiến tranh Nhật-Mỹ bùng nổ vào năm 1943, tu viện bị chiếm đóng. Sau đó là chiến tranh Việt-Pháp năm 1946, tu viện bị Cộng sản cướp phá. Ðến năm 1947, Tu viện này được Nhà dòng nhường lại cho giáo quyền sở tại.

 

Tu Viện Ðà Lạt (20/07/1952)

Trong một chuyến kinh lược Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam, có ghé lại Ðà Lạt, Cha Giám tỉnh Thomas Pintal của Canada nhận thấy khí hậu và khung cảnh của xứ anh đào này rất thích hợp cho việc đào tạo cho thế hệ thừa sai DCCT trong tương lai và thế là vào ngày 01/07/1942, Nhà dòng mua 35 mẫu đất ở khu lãnh địa Cam ly hạ để xây cất tu viện. Ngày 20/07/1952, Tu viện Chúa Cứu Thế được khánh thành gồm 4 tầng lầu xây bằng đá xanh trong khu rừng thông cổ thụ xanh mướt. Trong những năm 1956-1961, địa điểm tu viện rất thích hợp cho những cuộc hội thảo và tĩnh tâm hằng năm của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Sau 30/04/1975, Nhà nước Cộng sản tịch thu cơ sở này.

 

Tu viện Nha Trang (19/04/1959)

Ðức Cha Piquet, MEP, Giám mục Ðịa phận Nha Trang đã hoan hỉ đón nhận DCCT thành lập tu viện tại Nha Trang. Tu viện có thánh hiệu là Clêmentê, một vị thánh của dòng được xem là vị sáng lập thứ 2 của DCCT. Ngày 15/03/2964, Tu viện được khánh thành với 4 tầng lầu quay ra mặt biển ở đường Duy Tân. Sau 30/04/1975, cơ sở này của nhà dòng bị nhà nước tịch thu biến thành khách sạn Hải Yến, còn các linh mục tu sĩ của dòng phải sống trong một căn nhà nhỏ ngoài tường thành của Tu viện.

 

Tu viện Vũng Tàu (09/04/1956)

Ngày 02/09/1955, Dòng Chúa Cứu Thế khởi công xây cất Tu viện Thánh Giêrađô.

 

Tu viện Thủ Ðức (09/1969)

Ðây là Tu viện dành cho các cha và thầy giúp việc đào tạo các đệ tử sinh và các thầy học viện. Cũng như các cơ sở khác của Nhà dòng, đầu năm 1978, nhà nước cộng sản tịch thu cơ sở và biến thành bệnh viện đa khoa quận Thủ Ðức.

 

Tu viện Mai Thôn (1978)

Sau khi bị nhà nước đuổi ra khỏi Tu viện Thủ Ðức, các cha và thầy xuống Mai Thôn cũng trong quận Thủ Ðức để lập thành cộng đoàn tu trì và sinh sống với nghề làm ruộng và chăn nuôi.

 

Trung Tâm Truyền giáo Fyan (06/1958)

Tháng 6/1958 chính thức đánh dấu ngày thành lập địa điểm truyền giáo này mặc dầu được Cha Antoine Lapointe khai mở từ năm 1955. Trước 1975, trung tâm này gồm một đồn điền để gây nguồn lợi hầu đáp ứng chi phí đào tạo của Tỉnh dòng VN, 1 ngôi nhà cho các cha thầy, 1 cho các nữ tu Bác Ái đến trợ lực, 2 trường học, 2 lưu xá riêng biệt cho nam nữ học sinh.

 

Trung Tâm Truyền Giáo Châu Ổ (Quảng Ngãi) (25/03/1963)

Trung tâm này được thành lập theo lời yêu cầu của Ðức Cha Phạm Ngọc Chi, Giám mục Giáo phận Qui Nhơn lúc bấy giờ. Ngày lễ Mẹ Truyền Tin (25/03/1963), ba vị thừa sai Cứu Thế đầu tiên đến Châu Ổ là Cha Denis Paquette, Cha Ðỗ Văn Thừa và Thầy Marcô Ðàn. Ðến cuối năm 1974, Trung tâm này đã hoàn tất các cơ sở cần thiết về tôn giáo, văn hoá và xã hội: Nhà dòng, Nhà các nữ tu, ký túc xá nam, ký túc xá nữ, trường huấn nghệ, cư xá giáo sư, trường Mẫu giáo, tiểu học, trung học đệ nhất và đệ nhị cấp, hội trường và nhà thờ.

 

Trung tâm Truyền Giáo Pleikly (10/10/1969)

Bốn vị thừa sai đầu tiên cho anh chị em Jrai ở vùng cao nguyên Kontum-Pleiku là cha Vương Ðình Tài, các thầy Nguyễn Ðức Mầu, Trần Sĩ Tín, và thầy Lêôna. Sau này, trung tâm này được thầy Marcô Trần Văn Ðàn tăng cường. Sau bao năm tháng gian khổ rao truyền Tin Mừng cho anh chị em dân tộc thiểu số, các vị thừa sai DCCT vui mừng khi thấy mùa gặt hái kết quả khi có rất nhiều người trở lại với đạo Chúa hiện nay.

 

II. CÔNG CUỘC ÐÀO TẠO THỪA SAI DCCT

 

Ngay từ đầu các vị thừa sai DCCT Canada đã hết sức chú trọng đến việc đào tạo một lớp thừa sai DCCT bản xứ. Do đó, trong khi mới đến Huế vào năm 1925 và còn đang tạm cư ở khu vườn nhà cụ Ðốc Sắc, các ngài đã mở lớp Ðệ tử DCCT đầu tiên năm 1927 với 8 chú đệ tử trong số đó có các cha Trần Hữu Thanh, Nguyễn Quang Toán, Nguyễn Quang Kiêm. Ðến năm 1929, tổng số đệ tử lên đến 27 chú.

Một điều nữa liên quan đến việc đào tạo. Ðó là để mau chóng có được những linh mục DCCT am hiểu và sống đời thừa sai tại Việt Nam, tỉnh dòng St. Anne de Beaupré đã thiết lập học viện tại Thái Hà Ấp năm 1935 cho các thầy triết học và thần học. Ðiều đó không những đòi hỏi tỉnh dòng Canada hy sinh gửi các cha giáo sư tài giỏi đến Việt Nam nhưng còn gửi nhiều thầy học viện Canada qua học tại đây. Ðây là một quyết định hết sức táo bạo nhưng cũng hết sức khôn ngoan để từ đó Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam đã trưởng thành mạnh mẽ trong một thời gian rất ngắn so với nhiều hội dòng khác tại Việt Nam hay so với ngay cả các tỉnh dòng khác của Dòng Chúa Cứu Thế trên thế giới.

 

Ðệ Tử Viện Huế (02/09/1929)

Ngày 02/09/1929, Ðệ tử viện đầu tiên của DCCT tại Việt Nam được khánh thành với 45 chú và được đào tạo chu đáo dưới sự chăm sóc của cha Eugène Larouche. Do thời thế chính trị, Huế trở thành vùng trái độn sau khi đất nước phân chia năm 1954, nên kể từ năm 1956, Ðệ Tử Viện Huế chỉ còn thu nhận các đệ tử sinh thuộc trung học đệ nhất cấp chủ yếu sống ở miền Trung, các đệ tử lớp lớn phải nhập vào Ðệ Tử Viện Vũng Tàu Sau đó, với biến cố mùa hè đỏ lửa 1972, Ðệ Tử Viện Huế đóng cửa vĩnh viễn và các đệ tử phải nhập vào Ðệ Tử Viện Thủ Ðức.

 

Ðệ Tử Viện Hà Nội (01/07/1945)

Thật ra đây chỉ là một Tiểu Ðệ Tử Viện do cha Pamphile Couture thử thành lập vào năm 1930 nhưng sau đó phải đóng cửa. Cho đến ngày 01/07/1945, Ðức Cha Chaize của Hà Nội cho phép cha Alexis Trépanier mở lại nhưng rồi đến ngày 14/07/1945, Tiểu Ðệ Tử Viện này cũng phải đóng cửa vì đất nước phân đôi.

 

Ðệ Tử Viện Sài Gòn (09/1947)

Ðược thành lập vào tháng 9/1947 ở đường Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn, Tiểu Ðệ Tử Viện này sát nhập vào Ðệu Tử Viện Vũng Tàu vào năm 1956.

 

Ðệ Tử Viện Vũng Tàu (09/04/1956)

Ðược mở ra sau hiệp định Genève 1954 để thu nhận các đệ tử từ Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Nhưng rồi sau hè 1967, do trục giao thông Sài Gòn-Vũng Tàu bất an, Ðệ Tử Viện lại dời vào Chợ Lớn tạm trú để sau đó định cư tại Thủ Ðức vào tháng 9/1969.

 

Ðệ Tử Viện Vĩnh Long (1970)

Ðược Tỉnh dòng Việt Nam mở ra năm 1970 để thu nhận các em đệ tử đệ nhất cấp ở vùng lục tỉnh Nam phần và sau đó sẽ gửi về Thủ Ðức nếu muốn tiếp tục con đường tu trì. Tiểu Ðệ Tử Viện này sau 4 năm hoạt động đã phải đóng cửa năm 1974.

Tập Viện

Khoá Tập viện đầu tiên của Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam là vào năm 1929 ở Huế. Năm 1932, Tập viện dời ra Thái Hà Ấp (Hà Nội). Sau đó, năm 1951, Nhà tập lại được dời vào Ðà Lạt. Năm 1959, Tập viện lại di chuyển xuống Nha Trang. Với biến cố 1975, Nhà tập được đưa vào Thủ Ðức cho đến đầu năm 1978, khi toàn bộ cơ sở của Nhà dòng ở Thủ Ðức bị nhà nước chiếm đoạt.

 

Học Viện

Học viện là nơi đào tạo các các thanh niên sau khi đã mãn ban Trung học ở Ðệ Tử viện và tu tập một năm ở Tập viện. Lớp học viện đầu tiên đã khai giảng ngày 11/11/1935 tại Thái Hà Ấp mặc dầu Học viện tại đây chỉ được khánh thành chính thức vào ngày 31/03/1938. Như đã trình bày ở trên, để sớm hoà hợp tính tình, để mau quen thuộc văn hoá Việt Nam, để rút ngắn thời gian học tiếng Việt sau khi thụ phong linh mục, các bề trên đã nảy ra sáng kiến gửi một số thầy học viện Canada sang nhập học với các thầy học viện Việt Nam ngay từ lớp Triết, mỗi năm một số thầy.

Năm 1950, do tình hình chiến tranh Việt-Pháp, học viện phải di chuyển vào Ðà Lạt. Chính ở học viện Ðà Lạt này mà phong trào nhạc Vào Ðời hình thành với ban nhạc Alleluia vào năm 1963 gồm các thầy Thành Tâm, Hoàng Ðức, Trần Sĩ Tín,. tạo một luồng sinh khí mới trong sinh hoạt sống đạo của người trẻ Việt Nam mà ảnh hưởng vẫn còn có thể thấy ngay cả đến ngày nay.

Năm 1970, vì nhiều lý do khẩn thiết, cách riêng lý do an ninh giao thông, và hơn nữa cơ sở đào tạo của dòng ở Thủ Ðức vừa mới được thành lập nên học viện Ðà Lạt được dời xuống Thủ Ðức với tên gọi mới là An Phong Học Viện. Cũng như số phận Ðệ Tử Viện Thủ Ðức ở trong cùng khu vực, học viện cũng bị nhà nước cộng sản tịch thu đầu năm 1978.

 

III. HOẠT ÐỘNG TÔNG ÐỒ

 

Kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Năm 1925, 3 tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Canada đặt chân đến Huế mang theo sứ mạng rao giảng Tin Mừng cùng với một bức linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp các ngài mang theo nhằm thi hành mệnh lệnh của Ðức Thánh Cha Piô IX khi trao linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp cho Dòng Chúa Cứu Thế năm 1863 là phải sốt sắng cổ võ lòng sùng kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ở các nhà thờ, tu viện DCCT luôn có đặt linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp. Có những tuần cửu nhật sùng kính Mẹ vào các ngày thứ Bảy. Ði giảng nơi đâu, các cha và thầy DCCT cũng cổ võ lòng tôn sùng Mẹ Hằng Cứu Giúp.

 

Giảng Cấm Phòng và Ðại Phúc

Ðây là mục đích chính của Dòng Chúa Cứu Thế. Ngay những năm đầu, song song với việc xây cất, học tiếng Việt Nam và chú trọng việc đào tạo, các thừa sai DCCT Canada đã lao mình vào việc giảng đại phúc ở nhiều nơi trong nước. Cuộc giảng đại phúc đầu tiên của DCCT tại Việt Nam là dành cho các sư huynh tại Huế bằng tiếng Pháp vào tháng 2/1926. Công cuộc rao giảng đại phúc được lan rộng ra khắp cả nước và qua cả Lào lẫn Cam bốt và đạt rất nhiều kết quả khả quan với nhiều người được biết đến Chúa.

 

Mục Vụ Báo Chí và Sách Vở

Nguyệt san Ðức Bà Hằng Cứu Giúp ra mắt số đầu tiên vào tháng 7/1935 tại Hà Nội, chỉ gần 10 năm sau khi các thừa sai DCCT đến Việt Nam. Cha Joseph Laplante là vị Giám đốc đầu tiên, kế đó là cha Vũ Ngọc Bích. Ðến số báo 105 tức tháng 7/1944, quân Nhật nghi báo Ðức Bà tuyên truyền cho Mỹ nên bị đóng cửa. Ðến tháng 6/1949, nguyệt san được tái bản dưới tên "Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp" với Cha Louis Roy làm giám đốc vàsự cộng tác đắc lực của cha Antôn Nguyễn Văn Tuyên, cha Hồng Phúc. Năm 1954, Toà soạn phải dời vào Sài Gòn. Cha Hồng Phúc làm Giám đốc với con số ấn hành kỷ lục 20.000 số mỗi tháng. Các vị giám đốc sau đó là cha Chân Tín, cha Ðào Hiến Toàn, cha Trần Hữu Thanh. Ðến năm 1975, theo vận mệnh chung của đất nước, nguyệt san bị khai tử chờ ngày "phục sinh" ở hải ngoại vào tháng 12/1985.

Cơ sở truyền thông Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp còn in các tác phẩm của Cha Thánh Anphong cũng như nhiều sách vở giá trị khác cho dân Chúa. Toà báo ở Sài Gòn còn xuất bản nguyệt san Tuổi Hoa và các sách truyện cho tuổi học trò.

 

Mục Vụ Gia Ðình

Cha Hồng Phúc ở Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn, con người giàu sáng kiến tông đồ, lâu năm theo dõi hình thức tông đồ trong các gia đình ở Âu châu, đã theo đó mà tổ chức chương trình Dự Bị Hôn Nhân đầu tiên tại Việt Nam. Tất cả mọi vấn đề liên quan đến gia đình đều được giảng giải cặn kẽ, với sự cộng tác nhiệt thành của những nhà giáo dục chuyên môn, bác sĩ, giáo sư thần học. Hiện nay, Trung tâm Mục vụ Gia đình vẫn hoạt động mạnh mẽ và thu hút nhiều người dự khoá kể cả người ngoài Công Giáo.

Ngoài những mục vụ kể trên, công việc thừa sai của Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam hết sức đa dạng và phong phú với mục vụ giáo xứ tại các họ đạo của dòng. Ngoài ra, còn có cha Gerard Gagnon và cha Ðào Hữu Thọ khởi xướng phong trào Liên Minh Thánh Tâm tại Việt Nam. Rồi Biệt thư Thánh tâm tại Ðà Lạt do cha Gereard Gagnon đặc trách để đào tạo các thành phần nồng cốt cho các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành. Ngoài ra còn có các cha hoạt động làm tuyên úy, lo lắng phần hồn cho các quân nhân Việt Nam Cộng Hoà..

 

Kết Luận

Từ khi các vị thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế Canada đặt chân đến Việt Nam đã được 75 năm. Trong 75 năm đó, nhờ sự tận tụy hy sinh của các ngài và tinh thần tông đồ hăng say của mọi sĩ tử, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đã bước những bước đi mạnh mẽ vững vàng. Do đó, vào năm 1964, Phụ tỉnh Việt Nam đã trở thành tỉnh thứ 34 của Dòng Chúa Cứu Thế toàn cầu. Và mặc cho những thăng trầm và đổi thay của đất nước, Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam vẫn kiên cường trong sứ mạng rao truyền Tin Mừng cho muôn dân, đặc biệt là những người nghèo khổ.

Hiện nay, tỉnh dòng Việt Nam với tổng số 183 sĩ tử có lời khấn là một trong những tỉnh lớn nhất của toàn dòng. Quan trọng hơn cả, bầu nhiệt huyết tông đồ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế vẫn tiếp tục cháy bừng trong lòng các sĩ tử để cho dù chông gai thử thách đến đâu, họ vẫn một lòng với sứ mệnh rao truyền "Ơn Cứu Ðộ nơi Ngài chan chứa" (Copiosa Apud Eum Redemptio) đúng theo khẩu hiệu của Dòng Thánh.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com