TRONG DÒNG ÐỜI

Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

GẶP GỠ NGƯỜI HÙNG

 

Ngày 19/03/1996, Ðức Cha Fabian W. Bruskewitz, Giám Mục Ðịa Phận Lincoln ở Nebraska, đã ký sắc lệnh ra vạ tuyệt thông cho tất cả những người Công giáo trong địa phận của ngài nhưng lại tham gia những tổ chức có lập trường đi ngược lại giáo huấn của Hội Thánh, như ủng hộ việc tự do phá thai, ngừa thai nhân tạo, đồng tính luyến ái hay linh mục phụ nữ. Hành động này của đức cha Bruskewitz đã gây chấn động trong dư luận trong cũng như ngoài Giáo Hội trong những ngày sau đó.

Khi biết hành động của Ðức Cha Bruskewitz được thúc đẩy bởi tinh thần trách nhiệm của một chủ chăn và ngôn sứ, cũng như tâm tình sẵn sàng vâng phục Tòa Thánh của ngài, tôi đã sớm nhận ra ngài là một ngôn sứ đích thực của thời đại, một mẫu người "dám nghĩ, dám làm", dám lội ngược dòng đời để sống theo xác tín. Tôi đã coi ngài như một Thánh John Fisher của Giáo Hội Hoa Kỳ, một người hùng của đời tôi. (Thánh tử đạo John Fisher là một giám mục bị vua Henri VIII ra lệnh chặt đầu vào thế kỷ 16 vì không chịu nhìn nhận nhà vua là thủ lãnh Giáo hội của Anh quốc). Từ ấy, mỗi ngày tôi đã cầu nguyện cho ngài với niềm ngưỡng mộ sâu xa.

Một tháng sau đó, tôi đã đi tham dự Hội Nghị Truyền Thông Quốc Tế của Dòng Chúa Cứu Thế từ ngày 21-27/04/1996, tại Hawkstone Hall, Shrewsbury, England. Chiều ngày 25/04/1996, Linh Mục John Payne, OSA thuyết trình về đề tài "Tôi muốn gì từ sách báo tôn giáo cho mục vụ của tôi?" Với chủ đề "Thay đổi", linh mục này chê trách Giáo Hội đã tỏ ra thiếu hiểu biết và cảm thông với con người của thời đại hôm nay, khi duy trì những giáo huấn về việc không thể phong chức linh mục cho phụ nữ cũng như tính cách vô luân của việc ngừa thai nhân tạo và hành động đồng tính luyến ái. Rồi ông kêu gọi giới truyền thông Công giáo hãy lên tiếng đòi hỏi Giáo Hội phải thay đổi những giáo huấn này để làm hài lòng quần chúng!

Tôi rất ngỡ ngàng và bất bình trước thái độ bất phục giáo huấn Hội Thánh của Linh mục John Payne. Vì vậy, trong phần hội thảo, cha nguyên Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế ở Slovakia và tôi đã thay nhau đứng lên phản đối lập trường của ông. Chúng tôi cho rằng chúng ta không được phép đòi hỏi Giáo Hội phải thay đổi những giáo huấn dựa trên các nguyên tắc và đòi hỏi bất biến của Tin Mừng để làm hài lòng dân chúng. Nhưng chính các tín hữu chúng ta phải nỗ lực cộng tác với ơn Chúa để thay đổi đời sống của mình cho phù hợp với các giáo huấn tốt lành và chân thực của Hội Thánh. Giáo Hội yêu mến tội nhân nhưng không tán thành tội lỗi.

Ðiều đáng buồn là dường như phần đông tham dự viên tán thành lập trường mị dân của Linh mục John Payne. Tối hôm ấy, trong buổi sinh hoạt vui, họ đã làm hai vương miện bằng giấy để tặng cho cha nguyên Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế ở Slovakia và tôi. Họ gọi đó là "Bruskewitz’s Award of Orthodoxy"--"Giải Thưởng Chính Thống Bruskewitz". Tôi không tham dự buổi sinh hoạt đó, nhưng cha nguyên Giám tỉnh đã tham dự và kể lại cho tôi biết. Ý của những người bày ra "Giải Thưởng Chính Thống Bruskewitz" là chế diễu hai chúng tôi đã có thái độ "cứng rắn đáng trách" giống Ðức Cha Bruskewitz. Tôi lại có dịp nhớ đến Ðức Cha Bruskewitz và nhận ra ngài đã phải gánh chịu biết bao chỉ trích và chống đối khi thực hiện sứ mạng chủ chăn và ngôn sứ của ngài.

Trong tuần báo National Catholic Register số ra ngày 03-09/05/1998, Ðức Cha Fabian W. Bruskewitz một lần nữa cho thấy sự đại đảm đầy tính ngôn sứ của ngài. Ngài đã viết một bài nhận định cho rằng văn kiện Always Our Children ("Luôn Luôn là Con Em Chúng Ta") do Ủûy Ban Hôn Nhân và Gia Ðình của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ soạn thảo là một văn kiện chỉ đáng các tín hữu "bỏ qua hay chống lại". Ðức Cha đã phải mạnh dạn lên tiếng như thế vì văn kiện này không dám công khai xác định giáo huấn của Hội Thánh về tính cách vô luân tự bản chất của hành vi đồng tính luyến ái. Hơn nữa, văn kiện này dường như có vẻ ve vãn những người đang thực hành các việc vô luân ấy. Nhận định chính xác và sắc bén của Ðức Cha đã dẫn đến việc văn kiện trên đã được thu hồi và sửa lại cho phù hợp với giáo huấn của Hội Thánh.

Khi đi Hành Hương Năm Thánh tại Rôma, vào đúng Lễ Thánh Giáo Hoàng Tử Ðạo Fabian ngày 20/01/2000, Bổn Mạng của Ðức Cha Bruskewitz, tôi được viếng mộ của thánh nhân ở Hang Toại Ðạo Thánh Callixtus. Dịp này, tôi đã nhớ đến Ðức Cha Bruskewitz và cầu nguyện thật nhiều cho ngài.

Chúa Quan Phòng đã cho tôi được gặp Ðức Cha Bruskewitz tại Tòa Giám Mục của Ðịa Phận Lincoln trưa ngày 11/04/2000, khi tôi đi giảng tĩnh tâm Mùa Chay cho Giáo Xứ Khiết Tâm Mẹ trong địa phận của ngài. Dịp này, tôi đã bày tỏ lòng tri ân và ngưỡng mộ sâu xa đối với Ðức Cha. Tôi không ngại cho ngài biết rằng ngài là vị giám mục đương thời mà tôi yêu mến và ngưỡng mộ hơn cả chỉ sau Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II. Tôi tin rằng nếu mọi giám mục trong Giáo Hội đều có tinh thần trách nhiệm, khôn ngoan và đại đảm như ngài, chắc chắn tình trạng Giáo Hội và thế giới sẽ tốt đẹp hơn nhiều.

Ðức Cha đã cho biết rằng ngài đã gặp phải sự chống đối và chỉ trích của nhiều người thuộc nhiều giới khác nhau. Ngài nói rằng trong mặt trận đức tin chống lại các thế lực tội lỗi và văn hóa sự chết hôm nay, Giáo Hội như Ðavit chống lại tên khổng lồ Gôliat vậy. Nhiều người Công giáo kể cả giám mục và linh mục đã chọn con đường thỏa hiệp với thế gian để cầu an. Và ngài đã tiết lộ bí quyết hành động của ngài như sau: "Trước mỗi vấn đề, tôi luôn đặt mình trước Tòa Phán Xét của Chúa Kitô và theo đó mà quyết định".

Với Ðức Cha Bruskewitz, chọn lựa theo Chúa Kitô có nghĩa là chọn bước theo Người trên con đường yêu thương tự hiến của thánh giá, chọn chịu chống đối, đau khổ, nhục nhã, thương tích và chịu chết với Chúa. Nhưng Chúa Kitô đã chiến thắng thế gian. Những ai bước theo Chúa cũng sẽ được chia sẻ vinh quang với Người. Ðức cha đã từng kể câu truyện sau:

"Một vị linh sư nói rằng, khi chúng ta ra trước Tòa Phán Xét của Chúa Kitô, Người sẽ chăm chú nhìn khắp mình chúng ta và hỏi, ‘Các thương tích của con đâu?’ Nếu chúng ta trả lời với Người là chúng ta không có thương tích nào cả, Ngài sẽ chất vấn chúng ta: ‘Bộ không có gì đáng để con chiến đấu ư ?’"

Và Ðức Cha kết luận câu truyện trên như sau: "Các bạn thân mến, tôi tin rằng có những điều đáng cho chúng ta chiến đấu: Chiến đấu cho sự sống, chiến đấu cho Chúa Kitô. Chúng ta hãy hướng về những bổn phận của chúng ta với sự cam kết, quyết tâm và bất khuất. Chúng ta hãy can đảm bước tới để cuối cùng chúng ta có thể chỉ cho Chúa Kitô thấy các thương tích của chúng ta".

Tôi cũng đã kể cho ngài nghe việc tôi đã bị chế diễu với "Giải Thưởng Chính Thống Bruskewitz" khi tham dự Hội Nghị Truyền Thông Quốc Tế của Dòng Chúa Cứu Thế bên Anh tháng 04/2000. Rồi tôi hỏi ngài: "Hôm nay con đến gặp Ðức Cha để lãnh phần thưởng đó? Phần thưởng của con đâu?" Ngài đã tươi cười đề tặng tôi tác phẩm A Shepherd Speaks ("Một Mục Tử Lên Tiếng") do ngài soạn. Sau khi lắng nghe tôi trình bày những nhận định về tình trạng hiện nay của Giáo Hội tại Hoa Kỳ, ngài tỏ vẻ tán thành và nói với tôi: "Tôi ủng hộ cha hoàn toàn. Chúng ta hãy nhớ đến nhau tại bàn thờ". Trước khi chia tay, ngài đã ban phép lành cho tôi.

Tiến sĩ Scott Hahn nhận xét về Ðức Cha Fabian W. Bruskewitz như sau: "Ðức Giám Mục Bruskewitz là một trong số ít các nhà thần học-giám mục lỗi lạc nhất của Mỹ. Ngài còn là một người cha tinh thần đích thực, một nhà tư tưởng sâu sắc, một cây viết minh bạch và một mục tử khôn ngoan".

Nhận xét trên đây của Tiến Sĩ Scott Hahn được chứng thực cách tỏ tường nơi những thành quả lạ lùng đang diễn ra trong Ðịa Phận Lincoln do Ðức Cha Bruskewitz coi sóc.

Tuy là một địa phận với con số giáo dân nhỏ bé chỉ khoảng chừng 90.000 người, Ðức Cha có một linh mục đoàn trên 100 vị. Trong khi các địa phận khác tại Hoa Kỳ khan hiếm ơn gọi linh mục và phải đóng cửa các chủng viện, theo báo National Catholic Register, Ðịa Phận Lincoln là địa phận có tỉ số linh mục chịu chức trên tổng số giáo dân cao nhất trên toàn quốc trong thập niên vừa qua. Ðức Cha còn quyết định mở chủng viện trong địa phận của ngài. Ngài kêu gọi giáo dân đóng góp 15 triệu Mỹ kim cho dự án xây chủng viện mang tên Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả. Chỉ trong một thời gian ngắn, người ta đã đóng góp được gần 40 triệu, quá gấp đôi số tiền ngài kêu gọi.

Mới đây, Ðức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã chọn hai linh mục trong Ðịa Phận Lincoln lên hàng giám mục. Theo tuần báo Công giáo The Wanderer, một nữ tu người Mỹ kể lại, trong một buổi triều kiến Ðức Thánh Cha, khi nhắc đến tên Ðức Cha Bruskewitz, Ðức Giáo Hoàng đã có những lời tỏ vẻ khen ngợi tán dương ngài.

Việc ơn gọi linh mục nở rộ trong Ðịa Phận Lincoln chắc chắn là kết quả của lòng sùng kính Bí Tích Thánh Thể của Ðức Cha Bruskewitz và vị giám mục tiền nhiệm của ngài, Ðức Cha Glennon Patrick Flavin. Ðức Cha xác tín việc tôn sùng Bí Tích Thánh Thể là bí quyết nuôi dưỡng đời sống tâm linh của ngài cũng như đời sống của đoàn chiên Chúa giao phó cho ngài coi sóc. Ngài cổ võ việc chầu Thánh Thể trong các giáo xứ của địa phận. Một số giáo xứ còn có chầu Thánh Thể liên tục. Có lẽ hơn ai hết, ngài xác tín những lời này của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II: "Trong tấm Bánh Thánh nhỏ bé này chứa đựng câu trả lời cho mọi vấn nạn trên toàn thế giới" và "Việc phục vụ quý báu nhất mà bạn là một linh mục có thể cống hiến cho Giáo Hội là đặt Hy Lễ Thánh Thể làm trung tâm đời sống của bạn và trung tâm đời sống của nhũng người do bạn coi sóc".

Chị nữ tu giúp việc cho Ðức Cha Bruskewitz cho biết Ðức Cha còn là một người con chí hiếu. Ngài còn mẹ và chỉ có một em gái là nữ tu. Ðức Cha rất quan tâm săn sóc mẹ già và chính ngài thường đích thân đi chợ và nấu ăn cho mẹ. Lòng thảo hiếu với người mẹ trần gian nơi ngài như phản ảnh lòng sùng kính sâu xa của ngài dành cho Mẹ Maria. Mỗi ngày lúc 1:00 giờ trưa, ngài và các nhân viên tòa giám mục ngưng làm việc và cùng nhau lần chuỗi Mân Côi kính Ðức Mẹ.

Lòng yêu mến và vâng phục Ðức Thánh Cha và giáo huấn Hội Thánh còn là một đặc điểm nổi bật nơi Ðức Cha Bruskewitz. Ngài trưng trên tường phòng làm việc của ngài những tấm hình ngài chụp chung với Ðức Thánh Cha và coi đó như những kỷ niệm quý giáù nhất trong cuộc đời. Trong tác phẩm A Shepherd Speaks, ngài viết: "Thánh Ambrose, Tổng Giám Mục Milan, đã nói ‘Nơi nào có Phêrô, nơi ấy có Giáo Hội. Và nơi đâu có Giáo Hội, nơi ấy có sự sống đời đời’. Ước gì chúng ta đặt câu nói này làm một trong những châm ngôn căn bản hướng dẫn đời sống chúng ta".

Ðức Ông James Turro, giáo sư Thánh Kinh của tôi trước kia, từng nói: "Ðây là ba dấu chỉ của một linh mục tốt lành: Yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Mẹ Maria và yêu mến Hội Thánh". Nơi Ðức Cha Fabian W. Bruskewitz, tôi nhận thấy cả ba dấu ấy một cách thật tỏ tường.

Giêsu-Chúa con ơi! Con phải cảm tạ Chúa biết chừng nào vì đã cho con gặp gỡ và nhận biết Ðức Cha Bruskewitz là một chủ chăn thật khôn ngoan thánh thiện và can đảm tuyệt vời của Hội Thánh hôm nay, một người hùng của đời con. Chớ gì qua gương sáng và những lời cầu nguyện, hướng dẫn và khích lệ của ngài, con cũng biết nỗ lực gia tăng lòng say yêu Chúa Giêsu Thánh Thể, biệt kính Mẹ Maria, hết lòng thảo mến vâng phục Ðức Thánh Cha và Hội Thánh, để con cũng được như ngài, trở nên một linh mục thánh thiện đúng như lòng Chúa mong muốn.

Maria-Mẹ con ơi! Con đã được gặp gỡ Ðức Cha Bruskewitz, một người hùng của đời con. Xin Mẹ hãy dạy con và giúp con sống đẹp lòng Chúa, để khi con hoàn tất cuộc hành trình dương thế, con sẽ được gặp gỡ Chúa Giêsu, Con Mẹ, Người Hùng của mọi người hùng trên trần gian. Amen.

(Nov. 7-9, 2000)

 _______________________________________________________________

 

ÐẾN VỚI THÁNH THỂ

 

Trong kỳ Hành Hương Năm Thánh tại Rôma đầu năm 2000, tôi có dịp đến thăm cả bốn Ðại Vương Cung Thánh Ðường: Ðền Thờ Thánh Phêrô, Ðền Thờ Thánh Gioan Latêranô, Ðền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành và Ðền Thờ Ðức Bà Cả.

Cuộc thăm viếng Ðền Thờ Ðức Bà Cả vào ngày 01/02/2000 là chặng cuối của chương trình hành hương và cũng là cuộc thăm viếng ý nghĩa nhất đối với tôi.

Trước hết, Ðền Thờ Ðức Bà Cả khiến tôi nhớ đến kỷ niệm khấn dòng lần đầu của tôi. Ðó là ngày 05/08/1990, đúng Lễ Cung Hiến Ðền Thờ Ðức Bà Cả (cũng là Lễ Ðức Mẹ Thương Xót ở Balan). Ðây là cơ hội để tôi cảm tạ Ðức Mẹ là Người đã thương gìn giữ , hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong ơn gọi tu sĩ suốt thời gian qua.

Khi chúng tôi bước vào trong nhà thờ, Mặt Nhật có Mình Thánh Chúa đang được đặt trên bàn thờ chính cho mọi người thờ lạy trong những giờ chầu lượt để cầu nguyện cho Ngày Năm Thánh Dành Cho Giới Tu Trì vào hôm sau 02/02/2000. Thế là thay vì chiêm ngắm các tượng ảnh hay các công trình kiến trúc và nghệ thuật của nhà thờ như ở những nơi khác, tôi đã dành trọn nửa tiếng thăm viếng nhà thờ này để cùng các tín hữu đang có mặt ở đấy thờ lạy Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể. Và tôi cảm thấy những giây phút thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể này là những giây phút quý báu nhất trong cuộc thăm viếng các thánh đường.

Như vậy, Chúa Quan Phòng đã cho cuộc Hành Hương Năm Thánh 2000 của tôi được kết thúc bằng việc thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể trong Ðền Thờ Ðức Bà Cả. Qua sự việc này, Chúa muốn dạy tôi rằng, như một cuộc hành hương, đời sống của tôi phải hướng về Chúa Giêsu Thánh Thể như trung tâm và cùng đích. Và tôi chỉ có thể gặp gỡ Chúa Giêsu Thánh Thể một cách thật trọn vẹn thân tình nhờ Mẹ Maria và trong cung lòng Hội Thánh.

Trong Ðại Năm Thánh 2000, đáp lời kêu gọi của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, nhiều tín hữu đã cố gắng hy sinh thời giờ, công sức và tiền của để thực hiện những cuộc hành hương đến Thánh Ðịa Giêrusalem, Giáo Ðô Rôma hay những trung tâm hành hương nổi tiếng như Lộ Ðức và Fatima, để có dịp canh tân đời sống đức tin. Những cố gắng và thiện chí này thật đáng khen ngợi và cổ võ.

Nhưng nếu những cuộc hành hương này không giúp người ta canh tân niềm tin vào Sự Hiện Diện Ðích Thực của Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể và đặt Người làm trung tâm đời sống đức tin của họ, qua việc siêng năng và sốt sắng tham dự Thánh Lễ, Rước Lễ thiêng liêng, viếng Thánh Thể và nỗ lực sống yêu thương hiệp nhất, thì những hy sinh để thực hiện các cuộc hành hương trên thật uổng phí!!!

Tác giả sách Gương Chúa Giêsu tâm sự với Chúa Giêsu Thánh Thể về điều này như sau:

"Nhiều người đi khắp nơi để viếng hài cốt các thánh. Họ ngẩn người khi nghe thuật về các thánh. Họ chiêm ngưỡng những ngôi đền lộng lẫy và hôn kính xương thánh bọc bằng vải lụa, nên đựng trong hộp vàng .

"Còn Chúa, lạy Chúa rất thánh, Ðấng dựng nên nhân loại và Chúa các thiên thần! Chúa ở ngay đây, ngay cạnh con, trước mặt con, trên bàn thờ.

"Thường những cuộc viễn du như thế là do tính tò mò và tính ham biết những cái mới lạ. Nó chả giúp tu chỉnh được mấy, nhất là lúc họ chỉ đi chu du mà không có tinh thần thống hối thực.

"Nhưng ở đây, lạy Chúa! trong bí tích bàn thờ, Chúa hiện diện toàn thân: Chúa thực và người thực. Và ở đó, hễ lần nào rước Chúa cho xứng đáng và sốt sắng, Chúa cũng ban cho muôn vàn ơn phần rỗi muôn đời"

Trong cuốn Viếng Thánh Thể và Ðức Mẹ, Cha Thánh Anphong cũng có cùng nhận xét:

"Có những người sẵn lòng chịu tốn kém nặng nề và đương đầu với bao hiểm nguy gian khổ để hành hương Thánh Ðịa. Họ muốn viếng thăm những nơi Chúa Kitô đã sinh ra, nơi Người chịu đau khổ, nơi Người chịu chết. Chúng ta không cần đi xa như thế, cũng không phải đương đầu với những gian nguy như vậy để được ở gần Người. Cùng một Chúa Cứu Thế ở nơi Nhà Tạm trong nhà thờ gần ta. Những người hành hương này coi là một đặc ân khi mang về được chút bụi đất từ chiếc hang nơi Người sinh ra hay từ ngôi mộ nơi Người được chôn cất. Nhưng hãy thử nghĩ đến đặc ân của chúng ta: không phải chỉ là một biểu tượng đời sống của Người mà chính là Thực Tại của Sự Hiện Diện của Người".

Câu truyện sau trong cuốn Tháng Trái Tim càng khiến người ta phải say mê yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và trân quý việc siêng năng sốt sắng tham dự Thánh Lễ trên tất cả mọi sinh hoạt khác trong đời sống đức tin:

"Xưa có một vị đạo đức lắm, ngày đêm luôn than thở những lời sốt sắng phát tự đáy lòng: ‘Lạy Chúa, con ước ao rằng: trên rừng có bao nhiêu lá, bầu trời có bao nhiêu sao, sa mạc có bao nhiêu hạt cát, trùng dương có bao nhiêu giọt nước, thì con cũng được bấy nhiêu miệng lưỡi để ca ngợi Chúa, và cũng được bấy nhiêu con tim để yêu mến Chúa. Hỡi loài côn trùng hãy luôn luôn ca ngợi Chúa thay cho loài người tệ bạc với Chúa’. Một lần sau khi than thở như vậy, người ấy liền nghe Chúa Giêsu đáp: ‘Con ơi, nếu một linh hồn sạch tội dâng một Thánh Lễ cho sốt sắng thì làm một việc kính mến, ca ngợi và làm sáng danh Cha hơn những việc con ước ao đêm ngày bội phần’".

Ðại Năm Thánh 2000 rồi sẽ qua đi như bao năm khác. Nhưng Chúa Giêsu Thánh Thể--Nguồn Mạch Mọi Ơn Thánh--vẫn ở cùng nhân loại cho đến tận thế để nên nguồn sống, nguồn vui, nguồn hy vọng, nguồn ánh sáng, nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh cho tất cả những ai tha thiết đến với Người bằng lòng cậy tin, yêu mến.

Ðó là Tin Mừng tôi muốn cùng Giáo Hội tiếp tục rao

(Nov. 10-11, 2000)

_________________________________________________________________

 

TÂM TÌNH CUỐI ÐỜI

 Giáo Hội thật khôn ngoan khi đặt tháng 11 hàng năm, tháng cuối cùng trong niên lịch phụng vụ, làm Tháng Các Linh Hồn để nhắc mọi tín hữu nhớ đến và cầu nguyện cho những người đã qua đời. Ðây cũng là cơ hội để mỗi người suy niệm về chung cánh cuộc đời: sự chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục vì "nay người mai ta". Thi sĩ linh mục Xuân Ly Băng đã diễn tả điều này một cách thật sâu sắc ý vị trong bài thơ "Ai Buồn Hơn" như sau:

Người sẽ chết, khóc than người đã chết
Ai buồn hơn, em nhỉ, ai buồn hơn?
Trong sinh ly đã có mùi tử biệt,
Cả hai người chẳng ai kém hơn ai.
Em đang sống nghĩa là em đang chết,
Mỗi phút qua làm ngắn lại cuộc đời,
Mỗi bước đi đưa em gần đến huyệt,
Sao em hỏi tiếng trống tiễn đưa ai.

Một trong những cách giúp người ta đặt mình trước cái chết một cách đứng đắn là viết di chúc. Những tâm tình chứa đựng nơi di chúc của một người sẽ là những tâm tình sâu thẳm nhất, thiết thân nhất của người ấy.

Tôi cũng đã một lần viết di chúc.

Ngày viết di chúc lần đầu tiên ấy là Thứ Sáu Tuần Thánh ngày 09/04/1993 để chuẩn bị cho việc tuyên khấn trọn đời trong Dòng Chúa Cứu Thế. Tờ di chúc được trình Cha Giám Phụ Tỉnh để ngài lưu giữ trong hồ sơ của dòng, và tôi giữ lại một bản sao.

Hơn bảy năm đã trôi qua từ ngày viết di chúc lần đầu tiên ấy, nhưng những tâm tình ngày nào dường như vẫn còn mãi trong trái tim tôi. Những dòng sau trong tờ di chúc ấy chứa đựng những gì thân thương nhất tôi muốn chia sẻ với mọi người Chúa đã, đang hay sẽ gửi đến trong đời tôi:

".Khi con chết, xin Cha và mọi người dâng lên Chúa qua tay Mẹ Maria lời nguyện cầu tri ân yêu mến vì Chúa đã yêu thương ấp ủ đời con với biết bao hồng ân quý giá. Ðặc biệt nhất là ơn gọi làm người, là người Công giáo, là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế (và hy vọng sẽ là Linh Mục của Ngài). Nhưng đáng buồn thay, con đã bao lần dùng ơn Chúa không nên và đã bao phen xúc phạm đến Người. Vì vậy, con muốn được Cha và mọi người thêm lời cầu nguyện xin Chúa thứ tha mọi tội lỗi cho con để con được hưởng Nhan Thánh Ngài và muôn đời yêu mến tri ân và ca ngợi Tình Yêu Vô Cùng của Ngài.

"Con cũng gởi đến Cha, quý Cha, quý Thày, và tất cả anh em trong Dòng tâm tình yêu mến biết ơn chân thành vì đã yêu thương, giúp đỡ, ủi an, khích lệ, hướng dẫn và xây dựng con trong những năm tháng sống trong Dòng. Trong đời sống chung, con đã có những lần xúc phạm đến Cha, quý Cha, quý Thày, và anh em cách này hay cách khác. Xin Cha và mọi người vì tình yêu đối với Chúa Cứu Thế và Mẹ Thánh Ngài tha thứ cho con. Phần con, dù sống dù chết, con luôn dành cho Cha, quý Cha, quý Thày và anh em một chỗ đặc biệt trong trái tim con.

"Xin Cha cũng gửi đến những người thân yêu và các ân nhân của con lòng yêu mến biết ơn của con đối với họ vì tình thương, lời cầu nguyện và sự giúp đỡ họ dành cho con. Xin Chúa qua tay Mẹ Maria chúc lành và trả công vô cùng cho họ. Con cũng nhờ Cha xin họ thương tha thứ cho con những gì con đã lỗi phạm đến họ. Nếu có ai nghĩ là đã làm điều gì xúc phạm đến con, xin Cha nói họ hãy an lòng vì con thực tình bỏ qua tất cả và luôn yêu mến và cầu nguyện cho họ.

".Việc chôn cất con, xin Cha liệu cách nào đơn sơ nhất để con được sống nghèo và chết nghèo.

"Cùng với lòng yêu mến tuyệt đối dành cho Chúa Giêsu Thánh Thể và lòng biệt kính Mẹ Maria, lòng yêu mến sâu xa đối với Hội Thánh và Ðức Thánh Cha là điều con muốn trối lại cho tất cả mọi người, cách riêng là anh em trong Dòng. Lòng yêu mến này phải được thể hiện qua việc triệt để tin tưởng, vâng phục, và trung thành với các giáo huấn của Hội Thánh, đặc biệt là các giáo huấn về sự sống con người và hôn nhân gia đình. Con đau buồn nhiều khi thấy có những tu sĩ, linh mục và cả những giám mục không vâng phục giáo huấn của Hội Thánh và dẫn dắt bao người vào đường lầm lạc. Hạnh phúc chừng nào khi chúng ta được sống và chết trong lòng Mẹ Hội Thánh.

"Với tất cả lòng yêu mến thiết tha, con gởi đến Cha, quý Cha, quý Thày và tất cả anh em trong Dòng những lời trăn trối trên. Xin Chúa Cứu Thế qua lời chuyển cầu của Mẹ Hằng Cứu Giúp, Thánh Cả Giuse, Cha Thánh Anphong và các thiên thần các thánh, cho tất cả chúng ta ‘được sống trong sự kính sợ Chúa, chết trong sự yêu mến Chúa, và làm tôi Chúa ở đời này, hầu ngày sau được hưởng cùng Chúa trên Thiên Ðàng Amen’".

Sơ Mary, một nữ tu với hơn 50 năm khấn dòng, đã giúp tôi nhận ra rằng Thánh Lễ là phương thế giúp tôi sống trọn vẹn tâm tình tri ân thống hối nơi di chúc của mình cách trọn vẹn nhất qua những chia sẻ chân thành sau:

".Con cũng không ngày nào quên cầu cho Cha, nhất là sau khi rước lễ. Tâm tình đặc biệt đến với con để kết thúc những ngày còn lại của cuộc đời là tâm tình ‘tạ ơn và tạ tội". Hai tâm tình đó con nhận được qua Thánh Lễ. Khi dâng Mình Thánh Chúa, con ‘tạ ơn’, và khi dâng Máu Thánh con ‘tạ tội’. Và Thánh Lễ đã kéo dài trong cả ngày sống với hai tâm tình đó."

Sơ còn chỉ cho tôi bí quyết sống niềm tin thật đơn giản nhưng vô cùng quý giá sau:

".Ðời con đã xế chiều rồi nên con cố tìm cách đơn giản để sống. Con đang cố sống hai chữ: thương-tha và tránh chữ chấp. Con coi hai chữ thương-tha là hai cánh thiên thần để bay, con chữ chấp là đuôi của ma quỷ, phải từ bỏ".

Nhìn lại cuộc đời đã qua, cùng với Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu tôi xác tín rằng "mọi sự đều là ân sủng". Và ngày ngày trong Thánh Lễ "tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói việc làm và những điều thiếu sót. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng". Như vậy, tâm tình yêu mến tri ân và khiêm nhường thống hối phải là tâm tình căn bản suốt đời tôi.

Ðể giúp mình ghi nhớ và cố gắng sống tâm tình yêu mến tri ân, từ lâu tôi đã đặt tên cho thiên thần bản mệnh của mình là "Thiên Thần Tri Ân", để cầu xin ngài nhắc tôi luôn nhận biết ơn Chúa trong đời mình. Khi Maria-Têrêsa, cô em nữ tu yêu dấu của tôi, nhờ tôi đặt tên cho thiên thần bản mệnh của em, tôi đã đặt tên cho ngài là "Thiên Thần Thống Hối". Và mỗi ngày hai anh em hứa cầu nguyện cho nhau với lời nguyện "Thiên thần Thống Hối và Thiên Thần Tri Ân --Cầu cho anh em con", với ước nguyện nhờ các ngài giúp chúng tôi sống mãi tâm tình thống hối và tri ân đối với Thiên Chúa, Ðấng là Cha Giàu Lòng Thương Xót Thứ Tha và là Nguồn Mạch Mọi Ân Phúc.

Ðọc Thánh Vịnh Thống Hối (50) và Thánh Vịnh Tri Ân (115) mỗi ngày cũng là một cách giúp chúng tôi gia tăng tâm tình thống hối và tri ân bằng chính Lời Chúa.

Với trái tim dạt dào tâm tình yêu mến tri ân và khiêm nhường thống hối, tôi đang sống những ngày tràn đầy ý nghĩa và bình an trong Tình Yêu Trao Ban và Tha Thứ không ngừng của Thiên Chúa Toàn Ái. Cũng với tâm tình ấy, tôi vững lòng cậy trông sẽ được gặp gỡ Người trong ngày sau hết của đời tôi.

"Trong tay Ngài, lạy Chúa
Con xin phó thác hồn con.
Ngài đã cứu chuộc con,
Lạy Chúa Trời thành tín"
 

(Kinh Tối Phụng Vụ Các Giờ Kinh)

(Nov. 12-13, 2000)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com