| |
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG. 24-12-2000 : HÒM BIA THIÊN CHÚA. LỄ CHÚA GIÁNG SINH. 25-12-2000 : ANH PHẢI SỐNG. CHÚA NHẬT LỄ THÁNH GIA THẤT. 31-12-2000 : CẦU NGUỆN ÐỂ CHỮA LÀNH RẠN NỨT. CHÚA NHẬT LỄ CHÚA HIỂN LINH. 07-01-2001 : CHỮ KÝ. CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN. 14-01-2001 : GIA ÐÌNH CÓ MẸ Chúa Nhật IV Mùa Vọng 24-12-2000 HÒM BIA THIÊN CHÚA Phúc âm Thánh Luca kể lại việc Ðức Maria đi thăm bà Êlisabet như sau: "Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, đon đả ra đi, tiến lên miền sơn cước, đến một thành xứ Giuđa. Bà vào nhà ông Giacaria và chào bà Êlisabet. Và khi Êlisabet thoạt nghe lời chào thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà. Êlisabet được đầy Thánh Thần nên kêu lớn tiếng rằng: "Trong nữ giới có người là diễm phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm?"... Maria đã lưu lại với Êlisabet chừng ba tháng, rồi trở về nhà" (Lc 1:39-56). Cả bốn Phúc âm, chỉ mình Thánh Luca ghi lại biến cố Thăm viếng này. Chắc hẳn Luca, dù là lương y, đã không "méo mó nghề nghiệp" khi tường thuật câu chuyện với chủ ý lồng vào một mẹo vặt của dân gian. Song, phân tích kỹ đoạn Kinh Thánh trên, người ta sẽ thấy vị thánh sử đã khéo léo trình bày vai trò và sứ mạng lớn lao của một cô gái có tên Maria: Thiên Chúa đang hiện diện với dân Ngài qua cô gái đó, như xưa Ngài đã hiện diện với dân Do thái qua Hòm bia. Ðể thấy rõ hơn ý tưởng của vị Thánh sử, sau đây là bản đối chiếu trình thuật Kiệu Hòm bia trong sách Samuen quyển thứ hai với trình thuật cuộc Thăm viếng của Thánh Luca: Sách Samuen tường thuật: "Ðavit lên đường và cùng với toàn dân ở với ông, ông trẩy đi Balaah thuộc Giuđa, để kiệu Hòm bia Thiên Chúa từ đó lên" (2 S 6:2). Phúc âm Luca ghi nhận: "Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, đon đả ra đi tiến lên miền sơn cước, đến một thành xứ Giuđa" (Lc 1:39). Sách Samuen có ghi: "Và ngày ấy Ðavit đã kính sợ Giavê, và ông nói: ‘Bởi đâu tôi được Hòm bia Ðức Chúa đến với tôi’" (2 S 6:9). Phúc âm Luca viết: "Bà Êlisabet kêu lớn tiếng: ‘Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm"(Lc 1:43). Theo sách Samuen: "Khám của Giavê đã lưu lại nhà Obed-Eđom người thành Gat ba tháng" (2 S 6:11). Phúc âm Luca kết luận: "Maria đã lưu lại với Êlisabet chừng ba tháng, rồi trở về nhà" (Lc 1:56). Như thế, qua sự đối chiếu với Cựu ước, Thánh Luca đã đưa ra một kết luận: "Ðức Maria chính là Hòm bia mới của Thiên Chúa. Hòm bia cũ--với hai bia giao ước, chiếc gậy của Moisen và một ít bánh manna--nhắc nhở với dân Do thái về sự hiện diện của Chúa ở giữa họ. Nhưng Hòm bia mới, với chính Con Thiên Chúa ngự trong lòng dạ của Maria, đang thể hiện cách sống động việc Thiên Chúa thật sự ở giữa con người. Phải chăng trong Kinh cầu Ðức Mẹ, tước hiệu "Ðức Bà như Hòm bia Thiên Chúa vậy" chính là bản đúc kết của sự so sánh trên đây? Ngày xưa, Hòm bia cũ từng là niềm tự hào của dân tộc Do thái: nó đã mang lại nhiều thắng lợi và ân phúc cho dân, cũng như từng gây bao tai hoạ và khốn đốn cho quân thù. Ngày nay, Ðức Maria, như Hòm bia giao ước mới, cũng sẽ mang lại cho Dân Chúa nỗi mừng vui chất ngất, nếu họ biết đón nhận Mẹ như bà Êlisabet xưa. Vì "Thiên Chúa luôn ở cùng Mẹ". Vì "Mẹ đầy ơn phúc". Nên đón nhận Mẹ cũng là đón nhận chính "Con lòng Mẹ" với muôn muôn phúc lộc tràn đầy. Thời điểm mừng Chúa Giáng Sinh đã gần lắm rồi! Chắc chắn không phải vô cớ mà ngay trước biến cố Thiên Chúa Viếng Thăm và Cứu Chuộc Dân Người, Giáo hội lại đưa vào phụng vụ Lời Chúa biến cố Thăm Viếng của Ðức Mẹ. Phải chăng Giáo hội muốn nói: được Mẹ thăm viếng chính là được Chúa viếng thăm? Ðúng vậy, nhắc đến Mẹ Maria trong Chúa nhật thứ 4 mùa Vọng, Giáo hội muốn nhấn mạnh tầm mức quan trọng của mầu nhiệm nhập thể. Mầu nhiệm đó được tiếp cận qua việc "một người nữ phải sinh, sẽ sinh con"(Mic 5:2). Gặp gỡ Mẹ Maria là gặp gỡ chính Con Thiên Chúa. Ðến với Mẹ là để đón nhận sự sống của ơn cứu độ. Thánh Gioan đã tiếp nhận sự sống đó khi mẹ ngài là bà Êlisabet đón chào Mẹ Maria. Thế nên, để cho ngày lễ Giáng sinh thêm ý nghĩa, và để cho niềm vui cứu độ được toả lan đến với mọi thành viên của gia đình, người tín hữu phải biết tiếp rước Ðức Maria, Hòm bia Thiên Chúa, vào trong đời sống mình. Noi gương bà Êlisabet, cất tiếng ca ngợi Ðức Maria "Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ" qua tràng chuỗi mân côi, thì không những ta nhận được sự trợ giúp của Ðức Mẹ để cuộc đời thêm bình an và niềm vui, mà con cái còn được "nhảy mừng" nhờ ơn phúc là chính Chúa Giêsu do Mẹ mang đến. Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ sinh Chúa Hài Ðồng vào lòng chúng con. Có Chúa có Mẹ, mùa Noel mới nên tươi sáng thánh thiện. Không Chúa không Mẹ hoa nến có giăng đầy cũng chỉ là tối tăm hư vô mà thôi. Lễ Chúa Giáng Sinh 25-12-2000 ANH PHẢI SỐNG Không có mùa Giáng sinh nào lại thiếu vắng hình ảnh của hang Bêlem, nhưng có lẽ không có hang Bêlem nào có thể mô phỏng cho chính xác chiếc hang Belem của một ngày xa xưa, nơi Con Thiên Chúa trong thân phận hài nhi bé nhỏ, nằm trong máng cỏ giữa một đêm đông giá lạnh. Do Ðức Giêsu sinh ra trong hang bò lừa tại Palestine, người ta có thể thấy được hình ảnh của Ngài trong những người nghèo khổ để trở thành gương mẫu cho mọi người. Cho nên, nếu như ngày nay có được những cuộc sống phản ảnh cuộc sống của Ðức Kitô, thì cũng là nhờ đã có một Ðức Kitô hiện diện trong thế giới này, mà khởi đầu là biến cố chào đời của Ngài cách đây khoảng 2.000 năm. Có lẽ ít ai đã chưa từng nghe đến bộ phim "Superman" do chàng tài tử cao ráo, đẹp trai tên Christopher Reeves thủ vai chính. Cuộc sống đang êm đềm với hạnh phúc gia đình và những công việc liên quan đến ngành phim ảnh thì một tai nạn đã xảy đến cho chàng tài tử "Super" đó. Tai nạn biến anh ta từ một siêu nhân thành một phế nhân. Số là vào một kỳ nghỉ cuối tuần trong mùa hè 1995, đang lúc tham dự cuộc đua ngựa tại Virginia, thì chú ngựa của Christopher bỗng trở chứng. Ðang phi nước đại, nó đột ngột dừng lại. Cú thắng bất ngờ đã hất tung anh ta xuống đất. Trong tích tắc, phần cơ thể từ cổ trở xuống của anh trở nên bất động. Anh cảm thấy bị nghẹt thở như người đang chết đuối. Bằng hữu thân nhân vội đưa anh đến một nhà thương đặc biệt tại Virginia. Ở đây, sau năm ngày được cấp cứu đặc biệt, Christopher tỉnh lại. Bác sĩ cho biết anh bị gãy hai đốt xương sống, từ nay anh không thể tự thở được và có thể sẽ bị tê liệt suốt đời. Khi biết được tình trạng kinh hoàng của mình, Christopher dường như mất hẳn niềm tin vào cuộc sống. Số phận nghiệt ngã như muốn đè bẹp cả thân xác lẫn tinh thần. Anh đã chân thành chia sẻ: "Tôi cảm thấy hụt hẫng khi chợt nghĩ rằng mình sẽ trở thành gánh nặng cho mọi người. Tôi đã hủy hoại cuộc sống của mình lẫn cuộc sống của những người xung quanh. Tôi chua xót nghĩ rằng: ‘Tại sao mình không chết đi để những người xung quanh bớt được gánh nặng? Lúc gia đình và bạn bè đến thăm, tinh thần của tôi thoải mái hơn một chút. Tôi cảm thấy rất biết ơn mỗi khi có ai đó đến an ủi khuyến khích. Nhưng rồi cũng đến lúc mọi người phải ra về, còn lại mình tôi nằm bất động, mắt hướng nhìn đăm đăm vào bức tường trước mặt và nghĩ về tương lai, về cái điều không thể tin được nhưng lại đang xảy đến cho mình. Tất cả chỉ còn là giấc mơ. "Một hôm, Dana bước vào và đến bên cạnh tôi. Tôi không thể nói được chuyện gì vì đang phải dùng ống dưỡng khí. Nhưng khi trao đổi với nhau bằng ánh mắt tôi đã nói với Dana rằng: ‘Có lẽ anh nên ra đi thôi em ạ.’ Dana bật khóc, và sau khi cố nén cơn xúc động, nàng nói: ‘Em sẽ giúp anh làm bất cứ điều gì anh muốn, bởi vì đây là cuộc sống của anh, là quyết định của anh. Nhưng em muốn anh hiểu rằng dù có thế nào đi chăng nữa thì em cũng vẫn theo anh đến trọn đời." Rồi nàng nói tiếp, "Anh vẫn là anh kia mà, và em vẫn yêu anh.’ Tôi chợt nhận ra rằng, tôi không thể buông trôi tất cả. Tôi không thể ra đi. Tai nạn khủng khiếp ấy không hề làm thay đổi cuộc sống hôn nhân của tôi. Trái lại nó còn cho tôi thấy ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống đó. Nó không làm thay đổi nghĩa vợ chồng mà càng làm cho tình cảm đó thêm sâu đậm. Dana đã cứu tôi khi tôi đang ngoắc ngoải trên giường bệnh với thân thể tàn phế." Sống trong cuộc đời không ai lại không một lần gặp phải điều may cái rủi, sự thành công hay thất bại, hạnh phúc hoặc khổ đau. Thế nhưng, thiết tưởng cái may mắn nhất, sự thành công nhất và niềm hạnh phúc lớn lao nhất phải là khi ta có được một người yêu thương và trung tín với mình, để chia sẻ và giúp mình vượt thoát những rủi ro, thất bại, và những khó nguy của cuộc đời. Tưởng rằng chỉ có cái chết mới có thể giải thoát anh khỏi những đớn đau về thể xác lẫn tinh thần, do tai nạn ngã ngựa gây ra, tưởng rằng Christopher đã đầu hàng với số phận nghiệt ngã của mình, nhưng không, anh đã vượt qua được đoạn đường tăm tối đó. Anh đã tìm lại được ý nghĩa của cuộc sống, vì anh nhận biết có một người vẫn đang yêu thương và chia sẻ tất cả mọi nỗi khổ đau thăng trầm với anh. Câu chuyện về nam tài tử Christopher Reeves nhắc nhớ về hình ảnh của cả nhân loại sau khi sa ngã trong vườn địa đàng, tức là sau khi con người phạm tội để tự gieo cuộc đời mình vào trong bóng tối của hụt hẫng, thất vọng, và sự chết. Còn đâu nữa niềm hạnh phúc và bình an! Còn đâu nữa sức sống và niềm vui của tâm hồn! Sau khi sa ngã thì con người đã bị tê liệt trước quyền lực của ác quỉ. Chán chường, đau khổ, bất hạnh là gia sản con người phải vác lấy. Thế nhưng trong hoàn cảnh bi ai đó, một nhân vật đã xuất hiện để nói với chúng ta: "Thiên Chúa thương yêu con người." Nhân vật đó đã đến để đem lại nguồn sống mới cho nhân loại, vực dậy những ai đang bị tê liệt, tàn phế tâm hồn, vì tội lỗi. Nhân vật đó chính là Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa, Ðấng đã vì yêu thương nhân loại nên mang lấy thân phận con người hầu chia sẻ và gánh lấy những hậu quả do tội gây ra. Chính Ðức Giêsu đó đã thắp lên cho nhân loại ánh sáng của niềm tin, tình yêu, và hy vọng, đã mang lại cho cuộc sống con nguời một ý nghĩa thâm sâu và cao quí. Cũng như Christopher Reeves đã khám phá ý nghĩa của đời sống hôn nhân, của tình nghĩa vợ chồng nhờ tình yêu của Dana, bạn và tôi cũng phải nhận ra ý nghĩa của cuộc sống với ân phúc làm người nhờ tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu đã kéo Thiên Chúa xuống với con người để nâng con người lên cao với Ngài, một tình yêu đã giao hoà đất với trời, mang sức sống sung mãn cho muôn loài. Trong tình yêu đó, chúng ta được mời gọi mở ngỏ tâm hồn để đón nhận tình yêu nhập thể giáng sinh, trao cho nhau hơi ấm của tình Chúa và tình người. Chúa Nhật Lễ Thánh Gia Thất 31-12-2000 CẦU NGUYỆN ÐỂ CHỮA LÀNH RẠN NỨT
Mùa đông năm 1943, đang khi hàng ngàn người hân hoan, chuẩn bị mừng lễ khánh thành chiếc cầu Hasselt với bề rộng 75 mét vừa được xây cất xong tại Bỉ, thì bỗng một tiếng nổ long trời vang lên, cả cây cầu đồ sộ, vĩ đại của thế giới đột nhiên đứt làm ba khúc và đổ nhào xuống lòng sông trước sự chứng kiến đầy bàng hoàng, kinh ngạc của quan khách và dân chúng. Một kỳ công của bao nhiêu năm trường xây dựng, bây giờ chỉ là những đống thép và bê tông đổ nát giữa giòng sông. Hàng trăm giả thuyết về nguyên nhân của sự sụp đổ đã được đưa ra. Một trong những giả thuyết được nhiều người chú ý nhất là: chiếc cầu bị một phe phái tham chiến nào đó phá đổ. Nhưng rồi, sau bao nhiêu cuộc điều tra công phu và tốn kém, người ta lại đi đến một kết luận bất ngờ: do một vết nứt nhỏ đã xuất hiện trong một thanh thép dầm chân cầu. Máy bay chở hành khách Comet của Anh quốc, bị nổ ngay trên đường băng làm toàn bộ phi hành đoàn và hàng trăm hành khách thiệt mạng cũng là vì một vết nứt nơi bình nhiên liệu. Ðó là chưa kể đến những vụ nổ giết người khác như vụ bình cầu chứa khí đốt tại Cleveland năm 1949, vụ lò máy điện nguyên tử tại Chernobyl của Liên xô năm 1986, vụ nổ phi thuyền Challenger tại Hoa kỳ năm 1986. Tất cả đã để lại những ấn tượng kinh hoàng. Tất cả đã gây nên những tang thương khủng khiếp cho các công ty, thành phố, quốc gia. Tất cả đều phát xuất từ một sự rạn nứt nhỏ bé. Sự rạn nứt mà các nhà chuyên môn gọi là "rạn nứt vật liệu" đó khởi đầu là những vết rất nhỏ, nhưng lần hồi với sức nặng và sức ép của các yếu tố bên ngoài đã biến thành những đổ vỡ to lớn, phá hủy các công trình giao thông, các bộ phận máy móc, các phương tiện di chuyển. Thế nhưng, khi nói đến những rạn nứt vật liệu, ta cũng đừng quên rằng thế giới hôm nay đang có một sự rạn nứt còn nguy hiểm hơn, sự rạn nứt này không chỉ làm huỷ hoại các phương tiện của xã hội, nhưng còn tàn phá luôn cả những cơ cấu căn bản của xã hội. Ðó là "rạn nứt tình người"-- những rạn nứt trong các mối quan hệ giữa con người và con người với nhau. Khởi đầu là những vết nhỏ thôi, nhưng rồi biết bao tương giao, biết bao tổ chức, gia đình, tâm hồn đã sụp đổ tan nát. Trong các thứ đổ vỡ, có thứ nào tai hại và khủng khiếp cho bằng đổ vỡ gia đình. Có đau thương nào thê lương cho bằng nỗi đau thương của chia ly, "anh đi đường anh, tôi đi đường tôi." Sự chia ly không những chỉ tác động và để lại những vết hằn trong cuộc đời người vợ, người chồng, mà còn gây tổn thương về tâm lý lẫn tình cảm cho con cái của họ nữa. Các chuyên viên gia đình hay tâm lý có hàng trăm ngàn cách để giúp người ta chữa trị vết nứt trong đời sống gia đình, nhưng có một cách mà ít chuyên gia nào nghĩ đến hay nói tới. Ðó là cầu nguyện. Sức người không nổi phải cậy sức trời. Người Pháp có câu: "Hãy cầu nguyện một lần trước khi ra trận, hãy cầu nguyện hai lần trước khi xuống tàu ra khơi, hãy cầu nguyện ba lần trước khi lập gia đình." Song phải cầu nguyện luôn luôn sau khi lập gia đình để bảo tồn hạnh phúc là điều cần thiết mà chẳng mấy ai để ý. Xưa nay Giáo hội Công giáo luôn quan niệm gia đình là nền tảng của xã hội. Gia đình vững chắc thì xã hội thăng tiến, gia đình không vững chắc thì xã hội tắc loạn. Gia đình là tế bào đầu tiên, là nền tảng của xã hội và Giáo hội. Sách Sáng thế ký nói rằng Thiên Chúa dựng nên người ta có nam và nữ. Ngài đặt một mối tương quan giữa họ, khiến cho cả hai khăng khít với nhau: "Người nam sẽ bỏ cha mẹ để luyến ái với vợ mình, khiến họ không phải là hai nhưng là một, và những gì Thiên Chúa đã kết hợp thì người ta không được phân ly." Rồi khi Ðức Giêsu đến trong thế gian, Ngài đã tái khẳng định tính chất bất khả phân ly của luật hôn phối này. Hơn nữa Ðức Giêsu còn nêu cao một hình ảnh gương mẫu cho đời sống gia đình bằng chính tình yêu của Ngài dành cho Hội Thánh là các Kitô hữu. Ðó là tình yêu của người dám hy sinh đời mình cho người mình yêu, thứ tình yêu thúc bách mình trở thành một người tình tuyệt vời. Triết gia Jerry Rubin đã có lý khi viết: "Yêu không phải là công việc tìm kiếm một người lý tưởng, nhưng là biết trở nên một người lý tưởng." Những rạn nứt, chì chiết, bất hoà, cơm không lành, canh không ngọt, phần lớn đều phát xuất từ chỗ chỉ muốn kẻ khác phải là mẫu người lý tưởng mà quên rằng chính mình đã không cố gắng trở nên lý tưởng cho người. Thiết tưởng nếu ta không có cơ may tìm được con đường có hoa để đi hay có những người tuyệt vời để sống với, nhưng nếu ta biết làm nở hoa trên mọi nẻo đường mình bước tới, biết cố gắng biến đổi chính con người của mình thành người vợ hoặc người chồng tuyệt vời như con người Giêsu, thì chắc chắn sẽ không bao giờ danh động từ "ly dị" xuất hiện trong tự điển hôn nhân của mình. Ðức Giêsu đã đến để chia sẻ bản tính con người, hầu con người được thông phần vào bản tính của Thiên Chúa. Ðây là lý do mà Ðức Giêsu đã có thể mời gọi "anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em là Thiên Chúa." Ðây là lý do mà chúng ta nên cầu nguyện luôn. Cầu nguyện để tạ ơn Chúa vì gia đinh đầm ấm. Cầu nguyện để biết tha thứ và từ nhân. Cầu nguyện để xin Chúa giúp sửa đổi những thiếu xót, ích kỷ, nóng nảy, ghen tương. Cầu nguyện để cùng nhau trở nên tuyệt vời. Thiết tưởng những lúc sắp sinh sự với nhau mà người ta kịp có 5, 10 giây để nói với Chúa một câu: "Xin giúp con thắng được tính xấu. Xin giúp chồng con (hoặc vợ con) nên tốt đẹp như Chúa muốn và như con ước mong." Có được lời nguyện như thế mỗi ngày, riêng một mình hoặc chung với nhau, chắc chắn sự gì sức người không làm được thì sức Chúa sẽ biến đổi. Chính Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhận định: "Một gia đình cầu nguyện là một gia đình tồn tại; một gia đình không bỏ cầu nguyện là một gia đình không mất hạnh phúc." Xin Thánh Gia phù giúp cho gia đình bạn luôn hạnh phúc. Chúa Nhật Lễ Chúa Hiển Linh 07-01-2001 CHỮ KÝ
Nếu được làm một du khách đến Rôma để thưởng lãm nghệ thuật, chắc chắn người ta sẽ không thể bỏ qua tác phẩm "Viên Ngọc Quí." Tác phẩm "Viên Ngọc Quí" được chưng bày trong nguyện đường Sixtina, nơi thường diễn ra các cuộc bầu cử Giáo hoàng. Nguyện đường Sixtina vốn được xây cất vào thời văn hoá Phục Hưng tại Âu châu thuộc thế kỷ thứ XV. Ðược gọi là Sixtina vì nó được dâng hiến cho Ðức Giáo hoàng Sixtô IV. Trên các bức tường của nhà nguyện là những hình ảnh Thánh kinh do các danh hoạ nổi tiếng lúc bấy giờ thực hiện. Khi ngước nhìn trần nhà, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng, choáng ngợp trước bức tranh hùng vĩ, tả lại việc sáng tạo trời đất do danh hoạ Michael Angelo thực hiện. Trong suốt bảy năm trường, Michael đã nằm trên giá gỗ, mặt nhìn trần nhà, vẽ lại những hình ảnh trong chương đầu của sách Sáng Thế. Thông thường, khi hoàn thành một tác phẩm, các hoạ sĩ hay ký tên trên một nơi nào đó của tác phẩm để tên tuổi của mình được lưu truyền hậu thế. Nhưng khi du khách nhìn kỹ bức tranh trên trần điện Sixtina, họ sẽ không thể tìm ra chữ ký của Michael Angelo; có chăng chỉ là hai mẫu tự Hy lạp "ALPHA" và "OMEGA", nghĩa là NGUYÊN THUỶ và CÙNG ÐÍCH. Qua hai mẫu tự này, nhà danh hoạ muốn dành tất cả vinh quang và danh dự cho Thiên Chúa. Ông không tìm lời chúc tụng, cũng chẳng tìm một sự ghi nhớ nào cho danh tiếng của mình. Nhưng tất cả là cho Thiên Chúa. Tất cả là vì Thiên Chúa. Ðấng Tạo Hoá phải được lưu truyền cho mọi đời, trong mọi nơi, và suốt mọi thời. Ðối với Michael Angelo thì Thiên Chúa, Ðấng ALPHA và OMEGA, ÐẦU TIÊN và CÙNG TẬN, sẽ là tất cả trong sự nghiệp và công việc của đời ông. Ai cũng phải công nhận cuộc đời con người có ngày khởi đầu và sẽ có ngày chấm dứt. Có ngày tháng chào đời thì rồi cũng sẽ có phút giây lìa đời. Và trong quảng đời quá ngắn ngủi so với tuổi tác của vũ trụ đó, con người đã không ngừng đặt câu hỏi: "Tôi sống để làm gì, và tôi làm gì để sống?" Tức là con người đã không chỉ nỗ lực tìm kiếm những phương thế hay cách thức nhằm bảo đảm cho việc sinh tồn, nhưng quan trọng hơn hết, con người còn khao khát tìm kiếm ý nghĩa cho sự sinh tồn đó. Ðây chính là điều làm nên giá trị của sự sống, một thứ giá trị mà khi nhận diện người ta sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được nó. Nhưng ý nghĩa của sự sống là gì? Tôi sẽ tìm nơi đâu để khám phá ra giá trị đích thật của cuộc đời? Có phải cuộc sống sẽ ý nghĩa, giá trị và hạnh phúc nếu như tôi có dư dật của cải, thế giá, uy quyền, bằng cấp, danh vọng, sắc đẹp chăng? Chắc chắn không. Bởi vì nếu cùng nhìn vào bài Phúc Âm Lễ Chúa Nhật Hiển Linh, bạn và tôi sẽ thấy hành động của ba vua, hay còn gọi là ba nhà đạo sĩ, minh chứng đầy đủ cho những suy nghĩ và xác tín trên. Ba vua là những con người có thế lực đấy chứ. Các ông cũng quyền quý và giàu có lắm: dâng cho Chúa vàng cơ mà. Nhưng dường như thế lực, quyền quý, giàu sang, vàng bạc không làm cho các ông thoả mãn, không mang lại cho cuộc sống của họ một ý nghĩa trọn vẹn. Rốt cuộc, các ông đã lên đường đi tìm lẽ sống của cuộc đời--tìm cho ra ý nghĩa và giá trị đích thật của con người. Cuộc kiếm tìm đó đâu có đơn giản, cũng phải trèo qua đồi, leo qua núi, cũng phải băng qua những biển cát mênh mông của vùng Trung Ðông, và có khi cũng bị mất phương hướng, không biết mình phải đi về đâu. Ðiểm tựa duy nhất là ánh sao dẫn đường giữa đêm đen thì lại biến mất! Thế nhưng, điều đáng ghi nhận là các ông không ngã lòng bỏ cuộc. Họ tiếp tục thăm hỏi, kiếm tìm. Ðiểm đáng chú ý là không phải những người Do thái hay các ký lục thượng tế đã trả lời cho sự tìm kiếm của ba vua, song là Kinh Thánh. Chính Thánh Kinh đã chỉ cho con người phải tìm gặp chân lý và ý nghĩa của cuộc đời nơi đâu. Chính Thánh Kinh đã bảo ba vua đi đến Bêlem. Nhờ câu trả lời đó mà họ đã lên đường và rồi tìm ra được điều mình trông mong. Họ tìm ra lẽ sống, thấy được ý nghĩa và giá trị đích thật của đời mình nơi một trẻ thơ có tên Giêsu. Ðứng trước lẽ sống mà họ vừa gặp thấy đó, theo lời kể của Kinh Thánh, các ông đã dâng cho Ngài vàng, hương trầm và mộc dược. Những lễ vật này không chỉ tượng trưng cho việc suy tôn vinh quang, danh dự và uy quyền của Chúa Giêsu, nhưng còn khẳng định rằng ý nghĩa và hạnh phúc của con người không hệ tại nơi vàng bạc của cải, hay danh giá uy quyền, nhưng ý nghĩa và hạnh phúc của con người chỉ tìm được nơi Thiên Chúa trong Ðức Giêsu. Khi biết quy hướng tất cả về cho Thiên Chúa như Michael Angelo, biết bất chấp mọi gian nan nguy khó để tìm đến với Ngài như ba vua, chắc chắn con người sẽ gặp được ý nghĩa và sức sống dồi dào phong phú nhất cho cuộc đời. Thời gian vẫn trôi. Cuộc sống dương thế càng ngày càng thu ngắn. Ðể cho năm tháng của đời thêm ý nghĩa và tâm hồn luôn có sự an bình của trời cao, ta hãy cùng dâng lên Thiên Chúa, Ðấng là Alpha và Omega, khởi đầu và cùng tận, tất cả mọi tâm tư ước muốn, mọi công việc tính toan, cả thân xác linh hồn. Như thế dù thời gian có trôi vào hư vô thì đời ta vẫn còn một bến đậu an bình là Thiên Chúa. Chúa Nhật II Thường Niên 14-01-2001 GIA ÐÌNH CÓ MẸ
Trời có lúc mưa lúc nắng, lúc trong lúc mờ. Ðời có lúc thăng lúc trầm, lúc buồn lúc vui. Tình có lúc nồng lúc nhạt, lúc thắm lúc phai. Nghe sao có vẻ cải lương quá! Ấy thế mà tính chất cải lương kia lại cứ xuất hiện trong cuộc sống con người, nhất là trong đời hôn nhân. Không hiểu sao người ta hay ngâm nga: "Tình chỉ đẹp khi tình còn dang dở. Ðời mất vui khi đã vẹn câu thề." Phải chăng bắt đầu thề ước là bắt đầu xót xa? Ngày lên xe hoa thì cũng chính là ngày ra chiến trận? Mà trong trận chiến này, nếu không khéo, có ngày sẽ bị thương vong. Ðám cưới tại làng Cana mới bắt đầu mà đã có chuyện. Tiệc chưa tàn nhưng rượu lại hết. Nguy quá! Thế thì còn đâu mặt mũi tân gia. Không chừng cô dâu chú rễ sẽ phải lục đục với nhau vì nhà anh đã không khéo chuẩn bị, còn nhà em thì cứ mời cho đông vào mà không cho biết trước. Không chừng vết thương trong ngày thành hôn sẽ để lại cơn đau khó tàn cho đôi uyên ương. Thiếu rượu thì mất vui. Ðám cưới mà không vui thì có hơn gì đám ma. Khi khách chưa say, chất cay đã cạn. Bao nhiêu choé rượu sắm sẵn đều hết sạch. Bẽ mặt mất thôi! Chắc hẳn gia chủ lẫn tân lang và tân nương đang trải qua một phen bối rối, hốt hoảng ghê lắm. Biết tìm đâu ra rượu bây giờ? Thấy được tình cảnh oái oăm của tân gia, Mẹ Maria đến gặp Con mình và nói: "Họ hết rượu rồi." Chắc rằng trong suốt 30 năm sống bên Ðức Giêsu, Mẹ đã thấy rõ quyền năng và tình nhân ái bao la của con mình đối với những kẻ sa cơ hoạn nạn. Thế nên hôm nay, khi thấy gia đình tân hôn bị rơi vào trường hợp éo le nan giải, Mẹ đã tìm đến với Chúa để xin Ngài ra tay. Nhưng, có một vấn đề khác: nếu như trước đó Ðức Giêsu đã từng cứu giúp những người khốn khó thì tại sao vị Thánh sử lại bảo đây là "dấu lạ đầu tiên"? Theo văn mạch của Thánh Gioan thì đó là phép lạ đầu tiên mà "Chúa Giêsu đã làm tại Cana xứ Galilê." Thế ra, có thể Ngài đã từng làm dấu lạ ở nơi khác, ví dụ như tại Nazaret, nhưng tại Cana thì đó là lần đầu. Ngoài ra Thánh sử Gioan cũng nhấn mạnh trong câu kết luận rằng Chúa Giêsu đã làm dấu lạ này "để tỏ vinh quang của Ngài cho các môn đệ," những người vừa mới đáp trả lời mời gọi bước theo Ngài được mấy hôm. Như vậy trước đó, có thể Ðức Giêsu đã từng làm dấu lạ, không phải để tỏ vinh quang, nhưng chắc là âm thầm và qua tay Mẹ Maria. Phải chăng Chúa Giêsu đã từng nhờ Ðức Mẹ làm trung gian để đem cái này, chuyển cái kia cho những người cùng khốn gian nan, nên Mẹ biết rõ quyền năng và tình thương của Chúa mà chạy đến cầu cứu? Phải chăng, dù là mẹ, Ðức Maria vẫn từng làm theo ý Con, và đã thấy người ta nhận được biết bao ân phúc phi thường. Cho nên trong giờ phút cam go của gia đình có đám, Mẹ đã kêu cầu Ðức Giêsu. Và sau đó, Mẹ đã nhắn nhủ các gia nhân: "Ngài bảo gì thì cứ làm theo"(Gn 2:5). Ðây là lời khuyên phát xuất từ một lòng tin tưởng vững vàng vào tình yêu tha nhân nơi Con mình. Ngài không thể không chạnh lòng thương xót trước nỗi thống khổ của con người. Và đây cũng là lời nhắn nhủ đầy kinh nghiệm của Ðức Maria, người đã từng làm theo lời Chúa và thấy bao kết quả tươi đẹp trong đời. Ngài có bảo gì thì cứ làm theo. Lời nói biểu lộ lòng xác tín Ðức Giêsu sẽ ra tay can thiệp. Mẹ Maria biết chắc Ngài sẽ đáp lời Mẹ xin. Thế mới thấy quyền phép nơi lời cầu bầu của Ðức Mẹ hiệu năng dường nào. Không phải là Chúa Giêsu đã từng nói: "Giờ con chưa đến" sao? Vậy mà "giờ con đã đến" vì lời Mẹ xin. Giáo hội đã có lý khi đưa vào kinh Cầu Ðức Bà lời nguyện: "Ðức Bà có tài có phép. Cầu cho chúng con." Các Thánh cũng công nhận rằng chẳng có sự gì Mẹ xin cùng Thiên Chúa mà không được. Thánh Antôn có nói: "Vì Ðức Maria là Mẹ, nên lời cầu xin như có sức truyền dạy trước toà Chúa Giêsu. Do đó, khi Mẹ xin gì thì không lẽ Chúa Giêsu lại không nhậm lời." Thánh Ricarđê viết rằng: "Hễ Con quyền phép vô cùng thì Con cũng làm cho Mẹ vô cùng quyền phép. Ðó là lẽ đương nhiên. Nhưng Con của Mẹ quyền phép vì bản tính Ngài là Thiên Chúa. Còn Ðức Mẹ có quyền phép là nhờ ơn Chúa ban; nghĩa là Thiên Chúa quyền phép vô cùng, phán một lời liền có hết mọi sự. Còn Ðức Mẹ quyền phép vô cùng, xin một tiếng liền được hết mọi sự." Nhờ có Mẹ can thiệp mà Chúa Giêsu đã cứu tiệc cưới tại làng Cana khỏi cảnh bẽ mặt ê chề. Nhờ lời cầu xin của Ðức Mẹ mà giờ giải cứu con người khỏi kiếp khổ đau của Chúa Giêsu đã điểm. Nhờ sự khích lệ bảo ban của Mẹ mà con người biết cộng tác với Con Thiên Chúa để mang lại niềm vui của ơn phúc đầy tràn đến muôn tâm hồn. Hôm nay, giữa trần thế, có biết bao gia đình "sắp hết rượu." Lắm cõi lòng đã mất hẳn niềm vui. Nhiều cuộc tình đã rơi vào bế tắc. Làm sao cứu vãn đây? Nếu đời có Mẹ, người ta sẽ gặp được ơn Chúa. Mời Mẹ đến với gia đình, chẳng bao giờ Mẹ để cho rượu nồng tình thắm bị cạn khô. Thế nên, hỡi tất cả các gia đình, mới hay cũ, đang an hoà hạnh phúc hay trắc trở lao đao, hãy cậy nhờ và phó thác cho Mẹ Maria. Chắc chắn với Mẹ và qua Mẹ, Chúa Giêsu sẽ tỏ mình ra nơi gia đình anh chị em. Không phải tình cờ mà Ðấng Cứu Thế lại tỏ vinh quang của mình trong một cuộc hôn nhân. Không phải tình cờ mà vinh quang đó lại liên kết âm hưởng với sự hiện diện của Ðức Maria. Trái lại, tất cả đã diễn ra trong cùng một mạc khải của Tin Mừng: gia đình có Mẹ là gia đình có Chúa; gia đình có Chúa là gia đình luôn có tình yêu tràn đầy và niềm vui dạt dào.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |