VIỆT NAM GIÁO SỬ Lm Phan Phát Huồn, CSsR PHẦN THỨ NĂM NHỮNG NĂM TRƯỞNG THÀNH (1933-1960)
CHƯƠNG 31 Tình Hình Chính Trị Và Tôn Giáo (1933-1960) Trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, năm 1933 là năm mở màn cho một thời đại mới, thời đại của hàng Giáo-Sĩ Việt Nam. Nó là kết quả của biết bao cố gắng hy sinh của những thừa sai đến Việt Nam có mục đích rao giảng và mở nước Chúa. Ðuốc Phúc âm chiếu sáng từ mấy thế kỷ nay trên giang sơn đất nước Việt Nam, trong những ngày sóng gió mưa tuôn cũng như trong những buổi trời quang mây tạnh. Trao vào tay hàng Giáo sị Việt Nam, bó đuốc Ðức Tin sẽ tiếp tục soi đường cho những ai còn sống trong đêm tối của vô thần, dị đoan và tội lỗi. Gió vô thần, dị đoan dù có thổi mạnh đến đâu cũng không dập tắt được bó đuốc Ðức Tin ấy. Ngày nay lực lượng vô thần có hùng mạnh là nhờ hậu thuẫn của cộng sản. Về mặt chính trị cộng sản là một đảng phái, về mặt tôn giáo, cộng sản có những lý thuyết tuyệt đối chống lại tôn giáo, nhất là Công Giáo. Chính trong xã hội phức tạp ấy hàng giáo phẩm Việt Nam được giao trọng trách chiếu sáng Ðức Tin để chỉ cho anh em đồng bào đâu là con đường phải theo. Do đó trước lúc bàn đến cách rộng rãi về hoạt động truyền giáo và hoạt động văn hóa của Giáo Hội, nhằm mục đích củng cố, bành trướng Ðức Tin, cần phải nghiên cứu tình hình chính trị và tình hình các tôn giáo ngoài công giáo, vì tình hình ấy có ảnh hưởng đến việc tiến triển của công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Về tình hình chính trị, từ năm 1930 đến nay sự hiện diện của Việt Cộng (1) trên đất nước chúng ta, là một sự kiện lịch sử, ban đầu cộng sản chỉ là một đảng phái chính trị như các đảng phái khác, nhưng một lúc cộng sản đã cướp được chính quyền, Cộng sản Việt Nam gọi tắt là Việt Cộng không còn biết đến quốc gia nhưng chỉ biết có đảng. Ði lùi lại lịch sử chính trị nước nhà trong 50 năm vừa qua, chúng ta sẽ thấy cộng sản lợi dụng lòng ái quốc chân chính của người dân để cướp chính quyền. (2)
I. CỘNG SẢN CHUẨN BỊ CƯỚP CHÍNH QUYỀN 1. Các Ðảng Phái Chính Trị Sau lúc Pháp đã đặt nền bảo hộ một cách chắc chắn ở Việt Nam, người ta tưởng người Việt Nam không bao giờ còn có thể ngóc đầu lên được, và họ đã hoàn toàn giao phó định mệnh của họ trong tay "mẫu quốc thân yêu". Nói thế là lầm. "Tâm hồn người Việt Nam bên ngoài xem thật là bình thản, nhưng ai đã thấu hiểu đều nhận thấy tâm hồn đó lúc nào cũng riêng biệt. Người Việt Nam rất tha thiết với nền độc lập, với sự suy vong của nước nhà, mà nước nhà đối với họ trước nhất là lũy tre xanh. Có phải vì đồng ruộng giúp họ sinh sống, vì đồng ruộng là nơi họ đã đổ mồ hôi nước mắt để khai khẩn? cũng có phần đúng. Người Việt Nam quyến luyến vói làng mạc như thế; chình vì làng mạc là nơi tổ tiên an giấc ngàn thu, vì là nơi mà tổ tiên đã săn sóc vun trồng. "Còn nếu nói tinh thần Quốc gia theo nghĩa rộng nghĩa là ý thức về lãnh thổ Quốc Gia bất khả xâm phạm, lòng hiên ngang được thuộc về một dân tộc hùng mạnh đã có những lúc vinh quang, cũng những phút tủi nhục, chúng ta cần phải phân biệt. Vẫn biết do tinh thần quốc gia ấy mà trong lịch sử Việt Nam đã xuất hiện những vị anh hùng cứu quốc như Ngôï Quyền, Lê Lợi, Quang Trung, là những tướng lãnh bao giờ cũng nuôi trong thâm tâm một ý muốn mạnh mẽ đánh đuổi xâm lăng đề giữ vững nền độc lập nước nhà. Thấy rõ nguy cơ đè nặng trên quốc gia dân tộc, các ngài đã đứng lên huy động đồng bào ra tay cứu nước, tuy nhiên, có thể nói rằng, quần chúng Việt Nam không có tinh thần quốc gia theo nghĩa rộng như trên; nhãn giới không vượt ra ngoài lũy tre xanh, họ không có ý thức về toàn thể nhân dân, về bờ cõi quốc gia bát ngát. "Nói như thế không phải là họ không có lòng yêu nước. Quần chúng Việt Nam vẫn yêu nước nhưng đó là một tình yêu nước tiềm tàng; chỉ khi nào quốc gia hữu sự, chỉ khi nào có lệnh hoàng đế ban ra, hoặc có những đấng anh hùng hào kiệt phất cờ kháng chiến, lòng yêu nước kia mới bộc phát mãnh liệt. Lúc đầu nhớ vợ thương con, tiếc lũy tre ao cá, người dân Việt còn lừng khừng do dự, nhưng một khi họ đã quyết tâm ra đi là họ can đảm có thể phá đại quân Mông-cổ (3) và cũng không xem cái chết ra gì, đến nỗi một sử gia Pháp đã nói: ‘Ðứng trước vũ khí của ta, người Việt Nam chỉ còn có cái chết để bảo vệ tự do của họ, họ đối địch với cái chết một cách can đảm, nhiều người bị chúng ta xử bắn hay xử trảm, chúng ta không thấy ai tỏ vẻ suy nhược trước cái chết.’ (4) Ngoài những trường hợp đặc biệt như thế, tinh thần Quốc Gia Việt Nam chỉ tiềm tàng như ngọn lửa thiêng, tùng phục mệnh lệnh mà hoàng đế là hiện thân’". (5) Nhưng trước lúc Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với Tây phương, tinh thần Quốc Gia bỗng lại thấy để lộ ra một đặc tính mới từ trước đến nay chưa hề biết đến. Ðặc tính ấy là một động cơ đã gây nên biết bao tai họa và cũng chính đặc tính này thúc đẩy việc canh tân cải tạo Quốc Gia: dân tộc Việt Nam là một dân tộc hiên ngang. Tây phương nhờ có một kỹ nghệ tinh xảo mới có thể thống trị một nước văn hiến như nước Việt Nam. Việt Nam học hỏi Tây phương về khoa học, kỹ thuật, nhưng không vì thế mà phải mất sáng kiến. Phải chăng xưa kia Việt Nam đã học lóm bao nhiêu nghệ thuật, nghề nghiệp của Trung Hoa? Sẵn có óc tinh thần tự túc như thế, sớm muộn rồi người Việt Nam cũng phải xung đột với Tây phương. Sự xung đột ấy khác hẳn óc bài ngoại mãi về sau vì ảnh hưởng Nhật bản và Trung Hoa, óc bài ngoại mới chớm nở, chớ bao giờ Việt Nam cũng thành thực khâm phục nền văn hóa và kỹ thuật của Tây phương. Nhưng về phương diện văn hóa và đạo đức, nước Việt Nam đã tự thấy chẳng thua ai nên không bao giờ chịu kém là mình thua người Tây phương, chẳng cần phải có người Tây phương giám hộ. Nhưng càng ngày càng thấy người da trắng ra mặt hống hách, tất nhiên tinh thần quốc gia Việt Nam đâm ra nghi ngờ và đố kỵ. Vì lúc nào cũng thấy độc lập, an ninh của xứ sở bị đe dọa nên bên ngoài có vẻ nhẫn nhục, chịu đựng nhưng thực ra bên trong tinh thần quốc gia Việt Nam vẫn sôi sục một mối căm giận phục thù. Kém kỹ thuật thì chịu lép vế một bên nhưng vẫn lập mưu ngấm ngầm để chống lại sự áp bức của người da trắng, cũng vì mục đích này mà tinh thần quốc gia được tượng hóa bằng những đảng phái chính trị. Sau cuộc đánh úp doanh trại Pháp ở Huế ngày 4-7-1885, Hàm-Nghi và Tôn-Thất-Thuyết chạy trốn ra Quảng-Trị, Nguyễn-văn-Tường ra "đầu thú" với nhà chức trách Pháp, thế là tự bấy giở tinh thần quốc gia đã tách ra hai xu hướng: Hàm-Nghi và Tôn-Thất-Thuyết tượng trưng cho kháng chiến gọi là Cần Vương cứu quốc, Nguyễn-văn-Tường tượng trưng cho hợp tác. Phong trào hợp tác chịu tạm mất quyền độc lập Quốc gia với mục đích nhờ cuộc bảo hộ để canh tân xứ sở về phương diện kinh tế, văn hóa và chính trị. Nhưng trong thực tế, chương trình này không thể thi hành được vì người Pháp hồi ấy đại đa số là những nhân viên không có não khai hóa mở mang, vì vậy nhiều phần tử trong phong trào hợp tác lại quay về kháng chiến. Lúc Phan-bội-Châu bị bắt ở Thượng Hải (6), người ta không còn trông còn hy vọng gì ở Nhật Bản nên có người lại đi theo đường lối của Phạm Quỳnh. Thế là phong trào hợp tác được dịp bành trướng rất mạnh. Khải-Ðịnh sang Pháp vịn lẽ đưa Ðông-cung Thái-tử Vĩnh-Thụy đi du học nhưng kỳ thực là tìm cách cho phong trào Pháp-Việt đề huề được bảo đảm ít nhiều về quyền độc lập quốc gia. Cuộc ngự du không đem đến một kết quả gì. Về sau phe hợp tác tìm cách thuyết phục một vài viên toàn quyền Pháp. (7) Phe hợp tác hy vọng đổi mục đích của Phápï. Họ muốn nhân sự có mặt của người Pháp và sự an ninh do người Pháp tạo ra để khuyếch trương kỹ nghệ, thích nghi văn hóa cho phù hợp với tình thế mới, nhưng phe hợp tác không dám yêu sách cho Quốc gia được độc lập. Các nhà lãnh đạo lại thờ ơ không chịu tranh đấu dành lấy các quyền tự do dân chủ, lúc ấy được khắp nơi công nhận, khiến cho phe kháng chiến nghi ngờ. Chính ông Phạm Quỳnh về sau có viết rằng: Người Việt Nam thời ấy ở ngay trong nước, mà không khác nào người ngoại quốc. (8) Ngay từ năm 1922, Phạm-Quỳnh bắt đầu tuyên truyền cho việc canh tân xứ sở. Ông là một người dồi mài tư tưởng của Khổng Tử, Maurras và Barrès. Ông đòi phải trở lại quy chế bảo hộ. (9) Viên chức Pháp không được nhúng tay vào việc cai trị trong xứ, phải cải tổ lại triều đình vì hàng quan lại lúc ấy chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ biết ăn chơi trụy lạc. Ngày 10-9-1932 Bảo-Ðại lên ngôi, lúc ấy ông chỉ 19 tuổi, ông chọn những nhân vật lỗi lạc làm phụ tá, trong đó có một ông quan trẻ tuổi nổi tiếng và tài cán thông minh đang làm tổng đốc Phan Thiết: Ông Ngô Ðình Diệm.(10) Ông Ngô Ðình Diệm được mời làm thượng thư Bộ-Lại tháng 5-1933. Chính phù Pháp bắt đầu lo ngại và viên toàn quyền Pasquier bắt đầu làm khó dễ. Trò hề chính trị ấy khiến ông Ngô Ðình Diệm từ chức vào tháng 9-1933. Ðàng khác vì Bảo-Ðại thiếu cương nghị, nên chịu nhượng bộ chính phủ bảo hộ. Phong trào hợp tác vì thế càng ngày càng lỏng lẻo. Ðến khi Nhật xâm nhập Ðông Dương và nhờ những sáng khiến khôn khéo của toàn quyền Decoux, phong trào hợp tác mới chỉnh đốn lại. Nhưng kết cuộc rồi cũng vô vọng, những trào lưu thanh niên thể thao Ducouroi, những quan niệm như "Indochine" cũng chỉ sôi nổi trong một thời gian ngắn. Người ta tin cuộc đảo chính 9-3-1945 của Nhật sẽ đem Cường Ðể về cùng với Phục Quốc Hôi mà dân chúng coi như tay chân của Nhật. Tại sao Nhật lại mời Bảo-Ðại đứng ra chấp chính, đó chỉ là một mánh lới ngoại giao, vì Nhật hy vọng có thể lợi dụng ông vua trẻ tuổi ấy một cách dễ dàng, nhưng dù sao ông cũng nhận thấy ngay cuộc thắng lợi ấy bấp bênh, vì thế khi được mời ra lập nội các, ông Ngô Ðình Diệm đã khước từ. Lễ tuyên ngôn độc lập cũng được cử hành rất long trọng. (còn tiếp)
1. Việt Cộng viết tắt là VC có nghĩa là Việt Nam (Việt) Cộng Sản (Cộng). Người Cộng sản tại Bắc Việt hay Nam Việt đều được gọi là Việt Cộng. Các phương tiện truyền thông Tây phương và Cộng sản thường gọi Việt Cộng là Mặt trận Giải phóng Miền Nam là không đúng. Xem Frances Fitzgerald, "Fire in the Lakes", trang 497, Little Brown, Toronto 1972; Tizino Terziano, "Giải Phóng", trang 316, Saint Martin’s Press, New York 1976. 2. Việt Nam dưới chế độ cộng sản đã trở nên một trong 11 quốc gia lạc hậu nhất thế giới. 3. Trần Trọng Kim, "Việt Nam Sử Lược", trang 154, in lần thứ 5, Sài Gòn 1954. 4. Gosselin, "L’Empire d’Annam", trang XVIII, Tours 1903. 5."Hãy chọn! Tư bản không! Cộng sản không! Việt Nam trăm phần trăm!" Ấn quán Võ Văn Vân, trang 5, Sài Gòn 1954. 6. Năm 1925 Hồ Chí Minh làm thông dịch viên cho Borodine, trưởng phái bộ Nga tại Quảng Ðông. Hồ Chí Minh cũng là một đồ đệ của cụ Phan Bội Châu rất được cụ thương mến. Nhưng chính Hồ Chí Minh đã bán cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp với giá 150.000 đồng bạc Ðông Dương. Bị dẫn về Hà Nội, cụ Phan Bội Châu bị kết án tử hình ngày 23.11.1925. Khắp trong nước đều lên tiếng phản đối, bắt buộc chính phủ bảo hộ Pháp phải ân xá cho cụ. Cụ được đưa về Bến Ngự (Huế) và mất tại đó ngày 29.10.1944. Năm 1975, sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, một trong những việc trước nhất Việt Cộng làm là phá đền thờ cụ Phan Bội Châu tại Bến Ngự (Huế) và đổi tên trường Phan Sào Nam tại Sài Gòn nhưng bị dân chúng phản đối. Nguyễn Trân, "Công và Tội", trang 23, NXB Xuân Thu, Los Alamitos, California 1992. Lê Thành Khôi, "Le Viet Nam Histoire et Civilization", trang 442, Paris 1955. "Viet Nam: A Country Study", 1st edition, Washington D.C. 20402, trang 35-38, nói về cụ Phan rất đầy đủ nhưng cố tình không nói đến việc Hồ Chí Minh cộng tác với thực dân Pháp để bắt cụ. David G. Mar, "Vietnamese Anticolonialism" Berkeley, California 1971, làm thinh về việc phản bội của Hồ Chí Minh, ông chỉ nói ở trang 206 như sau: "Có một âm mưu hy sinh cụ (Phan Bội Châu) cho Pháp để bù lấp cho ngân khoản cách mạng rất là tốn kém’". Nhưng ai là người âm mưu? Marr dấu tên không nói. Người âm mưu đó là Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh. Phạm Kim Vinh, "Viet Nam: A Comprehensive History", trang 129, USA 1992. Phan Quang Ðán, Nhật báo "Người Việt", Los Angeles, tháng 12/1992. Peter A. Pool, "The Vietnamese in Thailand", trang 29, Cornell University 1970, có đoạn "Phan Boi Chau, an advocate of independence under a constitutional monarchy was betrayed to French police by Ho Chi Minh". Bùi Ðình, "Vụ Án Phan Bội Châu", trang 12, NXB Tiếng Việt, Hà Nội 1950. 7. Maurice Long (1919) và Alexandre Varenne. Ông Varenne tới Việt Nam ngày 18.11.1925 và nhận được tờ tường trình của Nguyễn Phan Long "Cahier des Voeux Annamites". 8. Lê Thành Khôi, "Le Viet nam", Editions de Minuit, Paris 1955. 9. Phạm Quỳnh, "Essais Franco-Annamites", Huế 1937; "Nouveaux Essais Franco-Annamites", Huế 1938; "France Indochine 6", 1932. 10. Joseph Buttinger, "The Smaller Dragon", Frederik A. Praeger, New York 1958, trang 437: "The thirty year old governor of Phan Thiet, Ngo Dinh Diem, known for his perfect integrity, his competence and intelligence, was appointed Minister Interior and made Secretary of a comission of Reforms. All his effort were sabotaged by the French and their Vietnamese tools at the court. Ngo Dinh Diem resigned in September." Devillers, "Histoire du Viet Nam de 1940 à 1950", Paris 1950, trang 63 có đoạn: "Un mandarin catholique de 32 ans, reputé par sa parfaite intégrité, sa compétence et son intelligence, Ngo Dinh Diem alors gouverneur de Phan Thiet se vit offrir le porte-feuille de l’Intérieur et le Secrétariat de la "Commission de Réformes". Il accepta sur la promesse qu’il pourrait faire quelque chose. "Le movement semblaint enfin commencer. La réputation de Diem était telle que l’on attentait de lui merveille. C’était faire bon marché des résistances des milieux traditionalistes et surtout de l’administration du Protecrat, des Serivces Civils en un mol. Les efforts de Ngo Dinh Diem furent paralysés par une sourde opposition de ces deux éléments coalisés. Diem ne tarda pas à s’apercevoir qu’il ne pourrait rien. Ses initiatives en général appuyés par Nguyen De, se vouyaient contrées par Pham Quynh et les unes après les autres étouffés. Bao Dai, influencable et mou, trop jeune it est vrai, semblait déjà réaliser son impuissance et céder aux pressions de son entourage. En Septembre 1933, Ngo Dinh Diem après avoir déclarer curment a Bao Dai qu’il ne pouvait plus se préter à celle cemédie, démissionnait. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |