XUÂN SANG NHỚ VỀ ÐALẠT

 

Nguyễn Quang Tuyến

Khi còn tại quê nhà, mỗi lần Xuân sang là người Saigon lại đon đả chào đón những cành đào tươi xanh, nó là đặc sản của thị xã Ðàlạt. Chúng ta đã nghe "Ai lên xứ hoa đào dừng chân..."; hay "Ngày nào dừng chân phiêu lãng, khách tới đây khi hoa đào vương lối đi"; hoặc bốn câu thơ trữ tình trong bài "Ðàlạt Trăng Mờ" của Hàn Mặc Tử. Vì gợi cảnh sinh tình mời quí vị cùng chúng tôi cùng đọc lại những dòng "Xuân Sang Nhớ Về Ðàlạt".

"Cho người ngày niềm vui, cho người kia sức khỏe", (Dat alis lactitiam, alis temperien). Ðó là một thành ngữ Latinh do các linh mục Pháp đặt ra, khi Ðàlạt chưa chính thức trở thành trung tâm nghỉ mát và du lịch. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cái tên Ðàlạt đã phát xuất từ thành ngữ trên đây. Nhưng các nhà dân tộc học lại khẳng định: Ðàlạt có nghĩa là con nước của người Lat. (Ðà: nước hoặc suối nước; Lat: một sắc tộc vẫn ở chung quanh Ðàlạt).

Giả thuyết trên được áp dụng cho nhu cầu du lịch. Giả thuyết dưới được áp dụng khi bàn về địa danh các sắc tộc.

Hơn 90 năm trước, Ðàlạt chỉ là một vùng hoang dã, heo hút trên cao nguyên Lâm Viên, thưa thớt bóng người sinh sống. Nhà thám hiểm người Thụy Sĩ (gốc Pháp) Bác sĩ A. Yersin (1836-1943), ông đã đặt chân đến Ðàlạt ngày 21-03-1893, sau đó dùng tài đức của mình để khiến khu rừng đèo heo, rậm rạp, trở thành một trung tâm du lịch nổi tiếng cho đến ngày nay.

Ý định của nhà khoa học thám hiểm về việc phát triển một vùng cao nguyên hoang vu còn xa lạ với ý đồ chính trị của chính quyền thực dân Pháp, song hai ý lớn đã trùng hợp nhau giữa Bác sĩ Yersin và viên Toàn quyền Ðông Dương P. Doumer, nên sự phát triển buổi đầu của Ðàlạt cũng theo sự trùng hợp đó.

Ngoài độ cao thích hợp, có khí hậu ôn hòa, nguồn nước đảm bảo, với điều kiện đi lại dễ dàng, Ðàlạt còn có một diện tích đất đai rộng mênh mông, đủ để trở thành một trung tâm hành chính cho miền cao nguyên. Năm 1916, Trung tâm hành chánh Ðàlạt được thành lập, phục vụ cho công cuộc khai thác tài nguyên của Pháp ở Ðông Dương (gồm Việt, Miên, Lào).

Thời cuộc thay đổi, ý đồ chính trị của thực dân Pháp chỉ mới thành đạt lúc đầu. Nhưng cũng nhờ đó, Ðàlạt lại có điều kiện để phát triển nhanh chóng, hướng về đích trung tâm nghỉ mát và du lịch. Các kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp như Hébrard hay Lagisquet đã lần lượt đến Ðàlạt để thực hiện nhanh chóng các đồ án của mình.

Ðại thế chiến I (1914-1918) xảy ra, người Pháp không về được chính quốc để nghỉ hè, đã có Ðàlạt thay thế. Ðại thế chiến II (1939-1945), trong khi chính quốc Pháp bị phátxít Ðức chiếm đóng cộng thêm phát xít Nhật định tâm hất cẳng Pháp khỏi Ðông Dương, các "biệt thự mùa hè" xinh xắn của Toàn quyền Decoux và các quan chức Pháp tại Việt Nam (Ðàlạt) lại là nơi né tránh những "mùa hè chính trị" quá oi bức.

Những năm sau này, Ðàlạt một lần nữa lại được xem là nơi nghỉ xả hơi lý tưởng của người Pháp, người Mỹ, cả những nhân vật cao cấp Việt Nam như: Bảo Ðại, Ngô Ðình Nhu, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ v.v... Hiện nay Ðàlạt còn có "Biệt điện Bảo Ðại" và "Biệt điện Toàn quyền Pháp", khách du lịch có thể tới tham quan và cũng có thể cư ngụ tại đó.

Tuy nằm trên đất nước Việt Nam có đủ người ba miền Bắc, Trung, Nam chung sống, nhưng thật sự Ðàlạt mới trở thành khu vực hành chánh của Tỉnh Lâm Ðồng dưới thời Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa cho đến nay.

Trước khi đặt chân đến Ðàlạt, đoạn đường chúng ta sẽ thưởng ngoạn qua bao cảnh quan kỳ thú :

* Nếu theo quốc lộ 20 từ đồng bằng Nam Việt lên, sau khi đã vượt qua những thị xã, thị trấn quen thuộc như: Ðịnh Quán, Bảo Lộc, Di Linh, Ðức Trọng; những đồn điền cà phê, chè và đồng cỏ mênh mông bát ngát, du khách tới đèo Prenn nằm ở phía Nam cao nguyên Lâm Viên để tiến vào thành phố Ðàlạt. Từ dưới chân đèo khi vừa tới độ cao của đèo Prenn (có thác Prenn xinh xắn), du khách đã hít được những luồng gió mát hây hây, làm cho người khoan khoái dễ chịu hơn.

* Nếu đi theo đường số 11 từ Phan Rang ngược sông Dinh lên, sau khi vượt qua những di tích lịch sử của Chiêm Thành (Chàm) xưa, chúng ta đã đứng trên đèo Ngoạn Mục, với bức tranh thiên nhiên hùng vĩ tuyệt vời, núi rừng trùng điệp diễn ra trước mặt. Ôi! Ðẹp quá Quê Hương :

"Cảnh đẹp cứ dồn thêm bước bước,
Lời ngợi khen mỗi phút lại thay thay".

Ðàlạt đã tiềm tàng nhiều cảm quan đa dạng và đặc sắc, ít có vùng du lịch nào trên cao nguyên có thể sánh kịp.

Ðàlạt nổi tiếng về hồ, về thác nước và rừng thông. Các hồ nằm ngay trong thành phố như Hồ Xuân Hương, Hồ Than Thở, Hồ Ða Thiện, Hồ Vạn Kiếp, Hồ Mê Linh. Quanh quất không xa thành phố có Thác Cam Ly, Thác Prenn, Thác Dan Ta La, Thác Liên Khương. Xa hơn nữa có Thác Pong-Gua, Thác Gu Ga.

Nhà thơ Xuân Diệu khi vãng cảnh Ðàlạt, đã có những dòng thơ tuyệt đẹp tuyệt đẹp về thác Gu Ga như sau :

"Ðổ ào ào, đổ Gu Ga,
Sông Ða Nhim tới đây oà thành bông.
Thành tơ trắng xóa một vùng,
Bạc vàng tuôn xuống vô cùng thời gian".

Ðàlạt còn có thắng cảnh "Suối Vàng", nơi đây còn giữ được những vẻ đẹp hoang sơ thiên nhiên đầy hấp dẫn, du khách đến Ðàlạt không thể bỏ qua. Bên cạnh Suối Vàng có hồ chứa nước thiên nhiên, con người đã lợi dụng thác nước này để khai thác thành nguồn điện lực đủ cung cấp cho thị xã Ðàlạt.

Du khách tới Ðàlạt cũng không thể không tham quan: Bệnh viện Yersin, Nhà thờ Chánh Tòa Ðàlạt ; Trường Võ Bị Quốc Gia ; Giáo Hoàng Học Viện Ðàlạt ; lăng Nguyễn Hữu Hào (mộ song thân bà Nam Phương Hoàng Hậu trên một ngọn đồi thơ mộng, có hàng trăm bậc từ dưới đi lên tới đỉnh đồi); Nhà ga Ðàlạt.

Cái đẹp của Ðàlạt còn được ca ngợi nhiều, vì ở đây có hàng trăm loại hoa phong lan độc đáo, được sản sinh trên mảnh đất Ðàlạt hay lấy giống từ nhiều nơi trên thế giới như : Pháp, Anh, Ý Ðại Lợi, Nhật Bản, Hòa Lan, Hong Kong, Ấn Ðộ, Úc Châu v.v...

Khách đến cũng như khi từ giã Ðàlạt, đều có những hình ảnh sâu đậm trong tâm trí mỗi người, qua những rừng thông xanh um trên những núi đồi bát ngát đang diễn ra bao cảnh nhớ mến.

Với vẻ thiên nhiên đầy thơ mộng, với độ cao hơn mặt biển 1500 mét, quanh năm với làn khí hậu mát mẻ trong lành, Ðàlạt là vùng du lịch hấp dẫn nhất, chẳng những đối với nước ta mà còn với cả thế giới nữa.

Những thắng cảnh hữu tình là nguồn mạch phát sinh muôn mối tình đầu mọng chín. Chính vì vậy, Ðàlạt là nơi nảy sinh nhiều mối tình sâu đậm, nên có những cặp tình nhân đã cùng nhau thề non bẹn biển, sống thác có nhau, đến giờ phút lìa đời đành để lại thư tạ tội cùng tứ thân phụ mẫu, và rồi "mối tình mang xuống tuyền đài cho xong". Ðiều van xin cuối cùng của họ là sau khi thác được chôn gần nhau. Chứng tích là mấy nấm mồ tại Hồ Than Thở.

Năm 1959, đoàn du lịch do Bộ Tư Pháp tổ chức từ Saigon lên Ðàlạt, trong đó có người viết bài này đã đến thăm Hồ Than Thở. Những người hiểu chuyện đã chỉ cho các bạn đồng hành biết và nhìn tận mắt hai nấm mồ của cặp tình nhân mới lìa trần, bên cạnh hai nấm mồ khác mà cỏ đã mọc xanh. Có lẽ hai nấm mồ trên được đắp cách đó chưa lâu, vì trên hai mồ cỏ chưa phủ đủ mầu xanh. Cô sinh viên xấu số này là ái nữ của một vị Thẩm phán tại Saigon, (ông LVÐ?). Cặp nhân tình này đều sinh sống tại Saigon, nhưng có lẽ vì hoàn cảnh trắc trở gì riêng nên họ đã lên tận hồ Than Thở này, sau khi đã để lại thơ tuyệt mạng, xin cha mẹ đôi bên cho được chôn tại nơi đây.

Thi sĩ Hàn Mạc Tử cũng như đồng nghiệp Xuân Diệu, khi ông đến vãng cảnh hồ Than Thở đã sáng tác bài "Ðàlạt trăng mờ", trong đó có bốn câu thơ định nghĩa cho tình yêu như sau :

"Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều,
Ðể nghe dưới đáy nước hồ reo.
Ðể nghe tơ liễu rung trong gió,
Và để nghe trời giải nghĩa yêu.

Phải chăng mối tình đầu mà Tạo Hóa đã trao ban, chắc họ nghĩ không ai có thể ngăn trở được, không ai nỡ chia ly, nên nay gặp điều gì oan trái, dầu có phải thác đi thì cũng muốn "cùng thác một giờ, cùng chôn một chỗ", để hợp với câu "Sống thác bên nhau, ngàn thu lưu dấu".

Về sự phát triển của Ðạo Công Giáo nơi xứ anh đào thơ mộng này, theo sử liệu, những người đến khai khẩn Ðàlạt gồm cả những người Âu châu. Như vậy, những người Công giáo đã hiện diện tại Ðàlạt từ những ngày đầu tiên khi thành phố mới bắt đầu xây dựng cách đây 100 năm.

Cơ sở đầu tiên thuộc phần đất Ðàlạt là một nhà điều dưỡng nhõ, đồng thời cũng là nhà nguyện do Linh mục Couvreur thiết lập vào năm 1918 cũng tại khu vực Nhà Thờ Chính Tòa Ðàlạt hiện nay. Người Công giáo Ðàlạt kế tiếp được ghi vào lịch sử của Giáo phận là vào ngày 25-01-1919, tức ngày đầu tiên một em bé sơ sinh Việt Nam được rửa tội tại đây.

Giáo Phận Ðàlạt đã được chính thức thành lập từ năm 1960 và do Ðức Giám Mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền cai quản đầu tiên. Từ đó tới nay, đã qua 3 đời Giám Mục Chánh Tòa:

1. Ðức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền
2. Ðức Cha Bartolomeo Nguyễn Sơn Lâm
3. Ðức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (đương kim)

Theo Niên giám Giáo phận hiện nay, Ðàlạt là một trong số những Giáo phận lớn với số giáo dân và khoảng 150 ngàn, gồm 5 giáo hạt, có 62 xứ với 90 nhà thờ và nhà nguyện của các Dòng tu.

Cho đến ngày nay, Ðàlạt đã có đủ các sinh hoạt rất linh động và sầm uất. Ðàlạt mãi mãi vẫn là một nơi nghỉ mát có hạng của các tỉnh miền Cao nguyên, Việt Nam.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com