Lm. Bùi Quang Tuấn, CSsR.

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN.  21-01-2001 : TRỞ VỀ.

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN  28-01-2001 :  GIÁO HỘI KHÔNG BIÊN GIỚI.

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN.  04-02-2001 :  TUÂN THEO THIÊN Ý - CHÌA KHÓA HẠNH PHÚC. 

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN.   11-12-2001 :   GIẦU NGHÈO - KHỐN PHÚC.. 

CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN.  18-02-2001 YÊU KẺ THÙ.

 

Back to Top Back to Top


Chúa Nhật III Thường Niên

21-01-2001 
Nkm 8:2-4a,5-6,8-10; 1 Cr 12:12-30; Lc 1:1-4;4:14-21

TRỞ VỀ

 

"Ðức Giêsu trở về Galilê trong quyền năng của Thánh Thần" (Lc 4:14a).

Vào thế kỷ 19, trong một trận chiến dữ dội đang diễn ra giữa quân Pháp và quân Nga, Hoàng đế Pháp Napôlêon được mật báo sắp có một cuộc đảo chánh tại Pháp nhằm truất phế ông ta. Tức khắc, vị tướng lừng danh khắp cõi Châu Âu vội cải trang, lén lút đem theo vài cận vệ rời khỏi cuộc chiến đang hồi ác liệt để trở về Pháp, nhằm trừng phạt bọn phản loạn và để bảo tồn ngai triều hoàng đế của mình.

Ðến một con sông, đoàn người phải thuê một bác chèo đò đưa qua bờ bên kia. Ðang lúc sang sông, Napôlêon buộc miệng hỏi lão chèo đò: "Ông có thấy người lính Pháp nào trốn qua khúc sông này không?" Người lái đò, một công dân Pháp, không biết trước mắt mình là hoàng đế Napolêon đang cải trang, nên vô tình mỉa mai đáp lại: "Tôi chỉ thấy ông và những kẻ theo ông là những người lính Pháp hèn nhát trốn về ngang đây đầu tiên."

Người kể truyện không nói rõ Napôlêon, vị tướng hùng của dân tộc Pháp, kẻ chưa từng nếm mùi chiến bại đã phản ứng thế nào với lão chèo đò dám có những lời khinh thị kia. Người viết chỉ kết bằng một câu chua chát: "Ðây là một cuộc trở về ê chề nhất trong đời Hoàng đế."

Trước đây, mỗi khi Napôlêon với đoàn quân viễn chinh trở về là những lúc kinh thành Balê tưng bừng náo nhiệt và ngập tràn ánh sáng. Người ta tung hô, múa nhảy, ăn mừng, bởi vì hoàng đế của họ đang mang lại chiến thắng và vinh quang cho đất nước và dân tộc. Thế nhưng, hôm nay Napôlêon đã trở về không phải cho dân hay cho nước, song là cho chính mình--cho chính ngai vàng và quyền bính của mình, mà nghe đâu đang có kẻ đe doạ lật đổ. Hậu quả, vị tướng tài đã phải nhục nhã vô cùng khi nghe câu nói châm biếm của lão chèo đò.

Hôm nay, Phúc Âm Luca cũng nhắc đến việc Ðức Giêsu trở về (Lc 4:14). Cuộc trở về này xảy ra ngay sau một cuộc chiến ác liệt: cuộc chiến chống lại cám dỗ của quỉ ma trong sa mạc, suốt 40 ngày đêm liên tiếp.

Nhưng ngay từ khởi đầu, bài Phúc âm đã không nhắc đến việc Chúa Giêsu trở về với những gì liên quan đến xác thịt, nhưng lại nhấn mạnh: "Ngài trở về trong quyền năng của Thần khí." Chúa Giêsu đã trở về trong quyền năng của Thánh Thần vì Ngài đã chiến thắng, vượt qua cuộc cám dỗ gay go về cơm bánh, vinh quang, và uy quyền thế gian. Ngài đã trở về không cho chính mình, song là cho mọi người, những ai cần đến ơn cứu độ.

Ðức Giêsu trở về trong Thần khí. Ngài không để cho phần xác thịt là những đam mê vượt thắng. Ngài không quì gối bái lạy Satan để có được một chút vinh quang, danh dự, uy quyền. Ngài không để cho cái bao tử hay đồng tiền vật chất khuất phục mình, khi cương quyết không làm đá hoá bánh, không làm điều trái nghịch với tự nhiên để thoả mãn những tham muốn hay dục vọng riêng tư.

Trái lại, đối với Ðức Giêsu, mọi vinh quang, danh dự, hay sự sống đều phải qui hướng về Thiên Chúa, chứ không phải Satan hay cá nhân mình. Ðây chính là tinh thần của Ðức Kitô. Ðây cũng chính là Thần khí mà Ngài đã có khi trở về đất Galilê để khởi đầu sứ mạng rao giảng.

Có trở về trong Thánh Thần, tức có hướng lòng lên Thiên Chúa để vươn mình thắng vượt những tham lam, tiền bạc, bất công, và chế ngự những khát vọng uy quyền, xác thịt, danh lợi, thì mới có thể đem Tin Mừng cho người nghèo khó, mới giải phóng cho kẻ tù đày, và mới mở mắt cho người đui mù được. Còn nếu tôi cứ tự cột trói và giam hãm trong đau khổ và lo lắng thái quá về đồng tiền, của ăn, thế giá thì làm sao ta đem được Tin Mừng hay niềm vui cho người khác; có chăng chỉ là tranh chấp, gian dối, và u buồn thôi!

Người ta hay nói "đời là một cuộc trở về." Ðúng lắm! Và dưới cái nhìn của con mắt đức tin, mọi người đang trở về quê trời. Ðây là một cuộc trở về toàn diện, vĩ đại, và tuyệt vời nhất. Nhưng để có được cuộc trở về vinh quang cuối cùng này, tôi vẫn cần luôn những cuộc trở về nho nhỏ, hằng ngày. Rất bình thường, nhưng không kém quan trọng.

Cách nay không lâu, trên tờ báo Catholic Register người ta đọc thấy có câu chuyện "Trở Về" rất đáng suy tư. Số là anh Jim O’Donnell, một công dân Hoa kỳ 36 tuổi đang làm việc tại Luân Ðôn, Anh quốc, cho một nhóm các ngân hàng tại Hồng Kông và Thượng Hải. Jim O’Donnell đã gây sửng sốt cho giới doanh thương Hồng Kông, Luân Ðôn và cả New York khi tuyên bố rằng anh sẽ về nước, nghỉ việc, mặc dầu khi ấy các ngân hàng vừa tăng lương cho anh với số tiền là 1.650.000 đôla một năm.

Bạn có biết lý do anh trở về nước không? Anh về nước là để cho kịp niên học tại một chủng viện vào mùa Thu 98. Anh muốn đi học để trở thành linh mục. Ðúng là anh đã trở về với tâm hồn của Ðức Kitô, với Thần khí của Thiên Chúa, với tinh thần hy sinh những gì thuộc về xác thịt, quyền lợi, sở thích riêng tư, để thực hiện một ước vọng mới là mang Tin mừng, niềm vui và sự sống chân lý cho muôn người.

Xin Chúa cũng ban cho chúng ta trong những lần trở về với gia đình, cộng đoàn, có được chính Thần khí của Ðức Kitô tác động và dẫn lối.

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật IV Thường Niên

28-01-2001
Gr 1:4-5,17-19; 1 Cr 12:31-13:13; Lc 4:21-30

GIÁO HỘI KHÔNG BIÊN GIỚI

 

Ðoạn Phúc âm tuần này tiếp nối sự kiện Ðức Giêsu trở về Galilê, như là cứ điểm xuất phát đầu tiên cho chương trình cứu thế của Ngài.

Galilê, miền bắc của nước Palestine, có kích thước khoảng 50 dặm từ bắc xuống nam và 25 dặm từ đông sang tây. Danh xưng Galilê tự nó, trong tiếng Do thái, có nghĩa là vòng tròn. Vùng đất này được đặt tên như thế là vì vây quanh nó toàn là dân ngoại. Ðã có thời các sử gia ghi nhận Galilê có đến 204 ngôi làng, với số dân trong mỗi làng không dưới 15 ngàn người. Vị chi có tới 3 triệu người từng cư ngụ chen chúc nhau nơi đây.

Galilê còn là vùng đất màu mỡ phì nhiêu. Văn học dân gian Do thái từng ví "Trồng một rừng cây ôliu ở Galilê còn dễ hơn nuôi một đứa bé ở Giuđêa." Khí hậu tươi mát và nguồn nước ngọt phong phú từ hồ Tibêria đã biến Galilê thành vườn cây thiên nhiên trù phú của Palestine.

Riêng người dân Galilê thì được mô tả là "rất có óc sáng tạo, hay canh tân đổi mới, và rất thích dấy động. Họ sẵn sàng đi theo bất kỳ người nào dám đứng lên lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa. Dân Galilê dễ nổi nóng và ưa tranh biện. Họ không thiếu can đảm, nhưng bao giờ cũng lưu tâm đến danh dự hơn vật chất bên ngoài."

Ðó là những nét đặc thù của Galilê, "cứ điểm cứu thế". Ðức Kitô đã bắt đầu sứ vụ từ đó, trong một hội đường của người Do thái.

Chính trong một hội đường nơi làng Nazaret mà Ðức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ cứu thế, bằng một bản tuyên ngôn hùng hồn: "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho kẻ tù đày, cho người đui mù được xem thấy, kẻ bị áp bức được giải oan, và loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa" (Lc 4:18-19).

Có lẽ bản tuyên ngôn trên không có gì mới lạ đối với dân Do thái. Không chừng họ còn nghe nằm lòng. Chắc chắn đã vài ba lần, những người được vinh dự công bố sách Luật và các Tiên tri đã đọc cho họ nghe lời tiên báo trên đây. Nó được trích trong sách tiên tri Isaiah, chương 61, nói về Ðấng Cứu Thế.

Nhưng điều lạ lùng đến sinh ra bối rối kinh ngạc nơi người Do thái là vì sau khi đọc lên đoạn ấy, Ðức Giêsu gấp sách lại, dõng dạc tuyên bố với cử toạ: "Hôm nay, lời Kinh thánh các ngươi vừa nghe đã ứng nghiệm" (Lc 4:21). Nhưng người đồng hương với thay vì cảm thấy vinh dự vì Ngài lại hằn học, đồng loạt xông lên, căm tức vô bờ, nhất tề tống xuất Ðức Giêsu ra khỏi hội đường. Kinh khiếp hơn, họ còn muốn đẩy Ngài xuống chân núi cho chết.

Thế mới hay lòng tự ái và ích kỷ của con người thật khủng khiếp, chỉ mong đẩy kẻ khác đi đến cái chết!

Nhưng Ðức Giêsu không chấp nhận thái độ ích kỷ và cục bộ đó. Tin mừng Nước Trời, niềm vui ơn cứu độ không thể giới hạn trong một làng hay một dân tộc nào, nhưng tin mừng và niềm vui đó phải được phổ quát đến tất cả mọi nước mọi dân.

Như lời tiên tri của Isaia đã ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu thế nào, thì lời của ngôn sứ Giêrêmia cũng thành sự nơi Ngài như vậy: "Thiên Chúa phán cùng tôi rằng: Trước khi tạo thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi, và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã hiến thánh ngươi. Ta đã đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc" (Gr 1:4-5).

Không phải chỉ nơi dân tộc Israel mới có người "nghèo khó" cần cứu giúp, người "tù đày" cần tự do, người "đui mù" muốn nhìn chân lý, kẻ bị "áp bức" cần được minh oan, nhưng là khắp mọi nơi. Tin Mừng của "năm hồng ân" phải vượt khỏi ranh giới Nazaret, vươn ra ngoài biên cương Galilê và Palestine, đến cùng các dân tộc và mọi tâm hồn.

Thế nên, bao lâu mà người Kitô hữu vẫn chỉ lưu lại trong cái nhìn cục bộ, lo tìm tư lợi hơn là mưu cầu ích chung, đòi hỏi ơn riêng thay vì rộng tay ban phúc, chắc chắn "Chúa phải băng ngang giữa họ mà đi" (Lc 4:30). Vì đạo Chúa phải là đạo Công giáo, đạo cho mọi người.

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật V Thường Niên

04-02-2001
Is 6:1-2a,3-8; 1 Cr 15:1-11; Lc 5:1-11

TUÂN THEO THIÊN Ý - CHÌA KHOÁ HẠNH PHÚC

 

"Vâng lời Thầy, con xin thả lưới" (Lc 5:5b).

"Hạnh phúc là nỗi khao khát triền miên có mặt trong từng hành động của con người." Một nhà tư tưởng đã nói như thế. Tuy nhiên, trong thực tế, ai cũng nhận rằng dường như lúc nào khổ đau cũng nhiều hơn hạnh phúc. Nước mắt khi nào cũng đầy hơn tiếng cười. Tại sao vậy?

Tại sao đi tìm hạnh phúc mà cứ như đi bắt một cái bóng, còn sự hiện hữu đích thật của hạnh phúc thì vẫn trốn ở nơi nao? Tại sao bao nhiêu người "thương" nhau lăm lắm, những bất đồng tương phản thế nào cũng không màng, cha mẹ đôi bên có phản đối can ngăn cũng không xong? Họ cứ lấy nhau... Ấy thế mà, khi được vài mặt con, có người thẳng thừng tuyên bố: "Tôi chẳng có chút tình yêu nào với người ấy cả."

Lại có người nhận xét: "Sống trên đời, ai lại không cần tiền". Thế nhưng khi hỏi tiền là phương tiện hay cùng đích thì ai cũng bảo tiền là phương tiện. Ấy vậy mà trong thực tế, biết bao người đã lấy tiền làm mục tiêu sống và giá trị trên mọi thứ giá trị, nên đã bất chấp nhân phẩm, luân lý, tình người, và những liên hệ thiêng liêng cao quí, miễn sao có tiền là được. Bao nhiêu quan hệ vợ chồng, cha mẹ, anh em bị sụp đỗ tan nát cũng vì người ta nhìn tiền là cùng đích chứ không phải phương tiện, tuyệt đối chứ không phải tương đối. Thế nên khổ đau và nước mắt là ở chỗ đó.

Một câu trả lời khác khả dĩ giải đáp cho các câu hỏi "tại sao" trên đây và giúp con người tìm được bình an cùng niềm vui sống sẽ là: vì người ta cứ chạy theo ý mình mà không hề nhận biết và vâng theo ý Chúa. Nếu như có ai đó có lòng kết hợp mật thiết với Thánh ý Thiên Chúa, thì chắc chắn, dù gặp bao nghịch cảnh gian nan trước mắt thế gian, họ vẫn là người bình an và hạnh phúc hơn thế gian suy tưởng.

Trong Thánh Kinh Cựu ước có hình ảnh nào khốn nạn và đau khổ như ông Gióp. Một người công chính, đang sống đời hạnh phúc giàu sang, thình lình đau thương ập xuống. Gia đình đang an lành, bỗng dưng thiên tai từ sa mạc thổi vào làm đổ tan nhà cửa. Con cái bị giết chết. Cơ nghiệp bị cướp sạch. Chính thân thể ông Gióp cũng bị lở loét, giòi bọ rúc rỉa. Ðói khát hành hạ thường xuyên.

Trước cảnh sầu đau như thế, Gióp còn bị kẻ này người kia mỉa mai khinh bỉ, cho là bị trời phạt. Chính vợ ông cũng đay nghiến suốt ngày, xúi Gióp chửi Thiên Chúa. Trước cảnh khốn đốn tận cùng, dường như không còn chút hy vọng nào cho cuộc sống, Gióp vẫn một niềm kiên cường thốt lên: "Chúa đã cho, Chúa đã lấy đi. Ý Chúa muốn làm sao, thì nên như vậy. Xin chúc tụng danh Chúa" (G 1:21).

Thật lạ lùng! Giữa chốn âm u bão bùng mà vẫn nhắm ý Chúa thẳng tiến.

Kết quả, vì biết vâng theo thánh ý Thiên Chúa mà cuối cùng Gióp đã tìm lại ý nghĩa và hạnh phúc cho cuộc đời.

Như Ðức Giêsu, suốt cả kiếp người đã không làm gì khác hơn là thi hành ý Cha. Cho đến giờ chết vẫn cứ là: "Lạy Cha, xin vâng như ý Cha." Nhờ thế sự sống nơi Ngài đã tuôn tràn chứa chan cho nhân loại.

Vâng theo ý Chúa sẽ giúp ta vượt qua gian truân khốn khó của đường đời và tìm được bình an và niềm vui dồi dào phong phú. Vâng theo Chúa không chỉ lúc thuận ý nhưng cả khi nghịch lý. Không chỉ khi thành công may mắn nhưng cả lúc rủi ro thất bại ê chề.

Dẫu rằng chủ đề của Lời Chúa tuần này là "Sai Ði" nhưng sống "Vâng Phục Ý Chúa" cũng không có chi là lạc đề. Bởi vì không "vâng phục" sẽ chẳng "sai đi" được. Nói đến "sai đi" là hàm ngậm một chỗ đến. Và dầu đã đến nơi phải tới, thì vai trò của người được sai vẫn là chu toàn sứ mạng. Còn không vâng phục đừng mong sứ mạng hoàn thành. Không có sứ mạng nào cao đẹp cho bằng làm đúng ý người sai mình đi. Thế nên Ðấng Cứu Thế đã từng cầu nguyện: "Này con xin đến để thi hành ý Cha." Thực thi ý Cha chính là lẽ sống của Người Con hiếu thảo quí yêu.

Thiết tưởng không có tâm tình nào ý nghĩa và sinh hoa trái nhiều hơn cho nhân gian bằng tâm tình xin vâng đó.

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật VI Thường Niên

11-02-2001
Gr 17:5-8; 1 Cr 15:12,16-20; Lc 6:17,20-26

GIÀU NGHÈO—KHỐN PHÚC

 

"Phúc cho những người nghèo khó"

Trong một bài giảng tĩnh tâm cho giáo triều Rôma vào dịp Năm Thánh 2000, Ðức Cha Nguyễn Văn Thuận đã trình bày về hiện trạng nghèo khó trên thế giới như sau:

- Có 1 tỉ 300 triệu người đang sống dưới mức nghèo đói cùng cực.

- 840 triệu người bị đói thường xuyên, trong đó có 200 triệu trẻ em. Mỗi năm có 13 triệu người chết vì đói. Vị chi là 36 ngàn người mỗi ngày, 1.500 người mỗi giờ, 25 người mỗi phút, và cứ gần 3 giây đồng hồ thì có một người chết đói.

- Có khoảng 1 tỉ 500 triệu người dân trên thế giới chỉ hy vọng sống dưới 60 tuổi, và hơn 880 triệu người thiếu các dịch vụ y tế. 2 tỉ 600 triệu người không được hưởng những cơ cấu y tế căn bản.

Nhiều nơi trên thế giới người ta không chỉ đói nghèo về của ăn vật chất, nhưng còn cả về mặt tinh thần. Năm 1997 có tới 850 triệu người lớn không biết chữ, và hơn 260 triệu trẻ em không có cơ may cắp sách tới trường.

Từ trong đói nghèo, nhiều tệ đoan xã hội đã nảy sinh, như mại dâm, ma tuý, bạo lực, phạm pháp, chiến tranh. Các giá trị tinh thần và luân lý cũng bị ảnh hưởng băng hoại nặng nề.

Như vậy, nghèo phải là một bất hạnh cho con người!

Tất nhiên Ðức Giêsu không bao giờ tán thành tình trạng khó nghèo. Trái lại, như Thánh kinh ghi nhận, Ngài luôn cứu chữa, giúp đỡ, hoặc tiêu diệt những đau khổ do cảnh nghèo mang lại. Ví dụ Ngài đã hoá bánh ra nhiều giúp cho năm ngàn người được ăn no nê (Lc 9); Ngài hoá nước thành rượu giúp tiệc cưới Cana vượt qua khốn khó (Gn 2); Ngài tố cáo những kẻ áp bức thống trị, lạm dụng quyền uy trấn lột người nghèo (Mt 23).

Ðúng ra, người nghèo được chúc phúc, không phải chỉ vì họ thiếu của cải vật chất hay không chút thế lực uy quyền, nhưng vì họ có nhiều cơ may nắm bắt được tình thương của Chúa. Khi người nghèo tin tưởng, phó thác, và cậy trông Thiên Chúa, nhận thức rằng không thể cậy dựa vào của cải phù vân đời này để có được hạnh phúc, nhưng chỉ Thiên Chúa và Chân lý Phúc âm của Ngài mới là tất cả mọi sự cho họ, thì khi đó người nghèo đã có được Nước Trời như phần gia sản tuyệt vời trong tay. Và đấy mới là phúc thật: "Phúc cho các ngươi là những người nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của các ngươi." Không gắn liền với Nước Chúa thì chỉ là vô phúc.

"Khốn cho các ngươi là kẻ giàu có"

Ðầu năm 1999, báo chí có đưa tin việc một ông chủ rạp chiếu phim, người đã từng ra lệnh cấm không cho chiếu các loại phim bạo động, vô luân, vô đạo đức trong rạp của mình, nhưng đã đổi ý sau đó, vì lý do "thiệt hại tiền bạc quá nhiều".

Ðược biết trong ngày khai mạc rạp hát có 7 màn ảnh tại Spartanburgh, South Corolina, ông David Crenshaw có tuyên bố rằng dù có bị phá sản, ông cũng không thèm chiếu ba thứ phim quái quỉ kia. Ông nhận được nhiều lời khen ngợi và ủng hộ. Thế nhưng, ngay sau tháng đầu tiên thì số khán giả đang từ 2000 người tụt xuống còn 1200, mất đi 800. Ngân khoản bị lạm chi từ 50 đến 32%, và tính đến cuối năm thì ông lỗ mất 20 ngàn đô-la. Trước tình trạng sa sút như thế, và trước khi bước sang năm mới, ông David đã tuyên bố một quyết định mới: cho chiếu thả dàn mọi thứ phim.

Thế rồi khi được hỏi "Ông có còn nhớ đến những gì đã tuyên bố trong ngày khai mạc rạp hát cách đây 5 tháng không", ông trả lời: "Tôi nhớ chứ, nhưng mà tôi mê làm ăn lắm, cho nên cứ cấm chiếu mấy loại phim kia thì không khéo tôi phải khai phá sản mất."

Mẩu tin này khiến tôi suy nghĩ: "Không biết đạo đức hay niềm tin nơi mình có đang bị các thứ lợi nhuận đè bẹp? Nếu có thì đó là tiền bạc, tình cảm, quyền lợi hay danh giá?"

Có lẽ không ít người đặt vấn đề: "Tin vào Chúa thì được gì? Ði lễ có lợi thêm điều chi? Giữ đạo hay luật Chúa sẽ cho tôi thêm đồng nào không hay chỉ thấy tốn công vô ích?" Nhưng hỏi như vậy là hỏng to. Vì như một linh mục đã nhận định: "Ðức tin chẳng những không mang cho tôi lợi nhuận nào cả, thậm chí nó còn đòi hỏi tôi phải từ khước những lợi nhuận bất chính. Ðức tin chẳng những không mang lại cho tôi thú vui vật chất nào cả, thậm chí nó còn đòi hỏi tôi phải khước từ luôn những thú vui tội lỗi." Và có thể nói thêm rằng chẳng thấy đi lễ mang lại cho tôi đồng tiền nào cả, mà chỉ thấy thỉnh thoảng sau các bài giảng, tôi còn phải rút tiền ra để cúng nhà thờ.

Thế nhưng lý luận như vậy là ta đã hạ cấp niềm tin thành một món hàng, để rồi giá trị của món hàng đó cũng sẽ tăng giảm theo kinh tế thị trường: kinh tế lên thì niềm tin lên; kinh tế xuống thì niềm tin tuột dốc.

Không, niềm tin không phải là một món hàng. Ý nghĩa của niềm tin không nằm trong giá trị kinh tế. Nhưng như Ðức Hồng y Joseph Ratzinger đã nói: "Giá trị của niềm tin và ý nghĩa của thế giới lại nằm nơi một Con Người. Con Người có tên Giêsu". Ðể rồi khi tôi tin và bước theo con người Giêsu đó, khi tôi dám khước từ những thú vui tội lỗi, những lợi nhuận bất chính, và nhất là dám can đảm sống Tin Mừng mà Ngài đã mời gọi là "từ bỏ, hy sinh, ngay thẳng, thanh khiết, đạo đức, luân lý, bác ái, yêu thương, san sẻ,"--dù rằng sống như thế tôi có thể bị thất lợi về tiền bạc, quyền lực, địa vị, danh giá, tình cảm--nhưng chỉ sống như thế, và phải sống kiên trung như thế, tôi mới hiểu được trọn vẹn ý nghĩa cuộc đời và mới minh chứng hùng hồn cho giá trị của lời chúc phúc và Tin Mừng mà Ðức Kitô muốn mang lại cho con người.

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật VII Thường Niên

18-02-2001
1 Sm 26:2,7-9,12-13,22-23; 1 Cr 15:45-49; Lc 6:27-38

YÊU KẺ THÙ

 

Sống trên đất Hoa kỳ, không mấy ai lại không biết đến tên của vị tổng thống có công bẻ gãy xiềng xích nô lệ, giải phóng dân da đen khỏi cảnh áp bức, bóc lột. Vị tổng thống ấy là Abraham Lincoln.

Có rất nhiều mẩu chuyện đáng ghi nhớ và học hỏi nơi vị nguyên thủ quốc gia này. Nhưng đánh động và đáng ghi nhớ hơn cả là câu chuyện về Lincoln và Stanton. Không biết vì lý do gì mà Stanton ghét cay ghét đắng Lincoln, đến nỗi ông ta dùng tất cả mọi tài năng sức lực của mình để bêu xấu và hạ nhục Lincoln, tại bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào, nhất là những khi xuất hiện trước công chúng hoặc giới truyền thông. Với lòng căm thù sâu đậm, nhiều lần trong thời kỳ tranh cử tổng thống, Stanton đã dùng những lời lẽ thâm độc để chế nhạo Lincoln, nhất là về vóc dáng hơi lập dị của ông ta. Thế nhưng, dù bị chê bai, bêu xấu, cuối cùng Abraham Lincoln vẫn được bầu làm tổng thống thứ 16 của Hoa kỳ.

Sau khi đắc cử, việc đầu tiên phải làm là chọn người xứng đáng để bổ nhiệm vào các ban ngành trong chính phủ. Lincoln thăm dò nơi này, hỏi han chỗ kia. Cuối cùng, ngày ra mắt thành phần nội các được ấn định. Hầu như ai ai cũng đều sửng sốt khi vị tân tổng thống tuyên bố chọn Stanton, kẻ thù tai hại của ông trong suốt thời gian tranh cử, vào chức vụ bộ trưởng Bộ Chiến tranh, một vị trí vô cùng quan yếu trong tình cảnh thời bấy giờ.

Ngay lập tức những lời bàn ra tán vào nổi lên cả trong lẫn ngoài dinh tổng thống. Các cố vấn tối cao, hết người này đến người kia đến trình bày với Lincoln cùng một nội dung: "Hẳn là ngài lầm lẫn quá sức rồi. Ngài không biết tên Stanton này sao? Ngài không còn nhớ đến những chuyện xấu xa tồi bại mà hắn đã nói về ngài hay sao? Ngài quên mất rằng hắn là kẻ thù số một của ngài rồi à? Chúng tôi biết chắc trước sau gì hắn cũng sẽ tìm mọi cách để phá hoại các đề án của ngài cho mà xem. Thế nên, xin ngài tổng thống hãy suy nghĩ lại đi."

Kinh ngạc làm sao khi Lincoln trả lời: "Ðúng, tôi biết Stanton lắm. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ tất cả những gì ông ta nói về tôi. Nhưng sau khi tìm khắp đó đây, tôi thấy rằng ông ta chính là người xứng hợp nhất cho công việc." Và thế là Stanton trở thành bộ trưởng bộ Chiến tranh.

Thời gian đã cho thấy Stanton vô cùng tích cực và trung thành cộng tác với tổng thống Lincoln trong việc đem lại sự hưng thịnh cho đất nước.

Sau khi Abramham Lincoln chết, trong ngày lễ an táng, có rất nhiều bài diễn văn hùng hồn ca ngợi công đức của ông, nhưng bài diễn văn và câu nói đã được lịch sử khắc ghi lại chính là của Stanton: "Abraham Lincoln, vị tổng thống của thời đại".

Dường như Ðức Giêsu cũng từng phải căng thẳng đương đầu với những "khôn ngoan" trong xã hội Do thái đương thời, khi mà nền luân lý bấy giờ cứ một mực cho rằng "mắt đền mắt, răng đền răng," "máu phải trả bằng máu". Nhưng với một lòng can đảm son sắt, Ðức Giêsu đã dám đứng lên trực diện với nền luân lý "ăn miếng trả miếng" này. Ngài tuyên bố một hướng đi mới, một giới luật mới. Ðó là: "Hãy yêu mến thù địch và làm ơn cho những người oán ghét các ngươi, hãy chúc lành cho những kẻ nguyền rủa các ngươi, hãy khẩn cầu cho những kẻ ngược đãi các ngươi" (Lc 6:27-28).

Yêu thương địch thù quả là giới luật triệt để đối với những ai muốn bước theo Chúa Kitô. Yêu thù địch là một sự đáp trả dứt khoát trước lời mời gọi nên thánh và toàn hảo như Cha trên trời. Ðây là một cuộc đột phá qua những thứ lý luận thường tình, thứ luận lý của "ăn miếng trả miếng," "mắt đền mắt, răng đền răng." Nó còn là một cuộc vượt thoát trên những gì thông thường--yêu kẻ yêu mình, bênh người cung phe nhóm hoặc làm hài lòng mình.

Phúc Âm đã xác quyết: "Nếu các ngươi chỉ yêu mến những người mến yêu các ngươi thì nào công ích gì, vì ngay cả thế gian và những quân tội lỗi cũng yêu mến những ai mến yêu họ cơ mà. Và nếu các ngươi chỉ đón tiếp hay chào hỏi những ai tiếp đón và kính trọng các ngươi thì có gì lạ đâu, vì những quân thu thuế và người vô đạo cũng làm như vậy cơ mà" (Mt 5:46-47).

Nếu Ðức Giêsu chỉ phán dạy và khuyên bảo con người mến yêu và tha thứ cho thù địch thì cũng chẳng có gì là đáng chú ý. Bởi vì nói thì dễ. Ai cũng có thể khuyên bảo kẻ khác những điều hay lẽ phải. Nhưng yếu tố đáng gây tin tưởng và phấn khởi để tiến tới trên con đường yêu thương tha thứ chính là vì Ðức Kitô đã nóiđã làm. Nhờ lời Ngài giảng dạy và việc Ngài thực thi mà chúng ta đã được giao hoà cùng Thiên Chúa và trở nên con cái của Cha trên trời. Thánh Phaolô trong thơ gởi cho tín hữu Rôma nhận định rằng đang khi chúng ta còn là tội nhân, còn là những kẻ vô đạo, yếu đuối thì Thiên Chúa đã thực thi lòng yêu mến của Ngài bằng việc chết cho chúng ta, để ta được giảng hoà với Thiên Chúa, và được sống trong sự sống của Ngài (Rm 5: 8-10).

Nhờ sức mạnh của yêu thương mà Chúa Giêsu đã biến đổi chúng ta, những tội nhân, thành con cái của Thượng đế, những người có khả năng ngửa mặt lên trời mà thân thưa với Ðấng Tạo Hoá: "Abba, Lạy Cha."

Nhờ sức mạnh của yêu thương mà những gì phải sụp đổ đã được nối kết và tồn tại. Yêu thương sẽ biến đổi tất cả. Yêu thương là vũ khí vô địch có thể chuyển hoá và thăng hoa quốc gia cũng như thế giới này.

  

Back to Top Back to Top


   Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com