VIỆT NAM GIÁO SỬ

Lm Phan Phát Huồn, CSsR

 

PHẦN THỨ NĂM

NHỮNG NĂM TRƯỞNG THÀNH

(1933-1960)

 

CHƯƠNG 31

Tình Hình Chính Trị Và Tôn Giáo (1933-1960)

(Tiếp theo)

Phong trào đối lập với phong trào hợp tác là phong trào kháng chiến. Phong trào quốc gia kháng chiến nhằm vào việc phục hồi nền độc lập xứ sở dù trong một thời gian quốc gia có bị tàn phá ngả nghiêng. Phong trào gồm có Cần Vương (1) Cứu Quốc, Việt Nam Quang Phục Hội (2) và Việt Nam Duy Tân Hội.(3)

 

Cần Vương cứu quốc: Khi Ðề Thám bị ám sát (4), phong trào kháng chiến Cần Vương cứu quốc kể như là đã thất bại, khiến nhiều quan lại Cần Vương quay về hợp tác. Các phần tử quyết chiến còn sót lại lánh sang Trung Hoa tìm cách chỉnh đốn lại hàng ngũ và quyết tâm kháng chiến đến cùng. Bên phía phong trào hợp tác vì thấy bao nhiêu yêu sách chính đáng của họ bị nhà đương cuộc Pháp bác bỏ nên có nhiều phần tử lỗi lạc bỏ sang hàng ngũ kháng chiến. Thế là lần đầu tiên ở Việt Nam một mặt trận quốc gia thống nhất có tổ chức hẳn hòi lấy tên là Việt Nam Duy Tân Hội ra đời.

Việt Nam Duy Tân Hội : do các cụ Tăng Bạt Hổ và Phan Bội Châu lãnh đạo.(5) Hai ông này say sưa với thuyết cách mạng của Voltaire, Rousseau, Montesquieu. Thấy nước Nhật duy tân tiến bộ các ông quyết noi theo; thấy nước Nhật có nhiều trường đại học, nhiều trường võ bị các ông muốn nương nhờ.

Phong trào Duy Tân nổi dậy bồng bột với danh hiệu "Hóa dân cường quốc" hóa dân bằng học thuật mới, cường quốc bằng mở mang kinh tế.

Các ông Phan Châu Trinh (6), Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Ðức Kế, Trần Quý Cáp đều cùng với Phan Bội Châu thề nguyền hy sinh vì nước.

Trường Ðông Kinh Nghĩa Thục (7) được lập nên ở Hà Nội năm 1907, có mục đích reo rắc mầm yêu đất nước vào hàng ngũ thiếu niên nam nữ. Sau 8 tháng hoạt động nhà đương cuộc bảo hộ đóng cửa trường. Phan Bội Châu gởi cho toàn quyền Pháp quyển "Pháp Việt đề huề" (8) yêu cầu Pháp phải thành thật đưa Việt Nam đến nơi phú cường mới mong tránh khỏi các họa xâm lăng Nhật Bản sau này.

Việt Nam Quang Phục Hội (9): Không thể đặt căn cứ tại Nhật Bản vì các nhà cách mạng đã biết rõ người Nhật cũng có bụng tham lam, muốn chiếm đất đai, chứng cớ là sau hai trận chiến tranh họ đã thôn tính Cao Ly và Ðài Loan (10), do đó phong trào Quốc Gia Việt Nam tìm cách đặt căn cứ tại Trung Hoa, lập thành Việt Nam Quang Phục Hội. Khi được tin, viên toàn quyền Albert Sarraut đích thân qua Quảng Châu điều đình với chính quyền địa phương để bắt giam các nhà ái quốc Việt Nam.(11) Vì vậy, nhóm cách mạng nầy phải giải tán để tìm cách tổ chức lại.

Việt Nam Quốc Dân Ðảng: Ban đầu Việt Nam Quốc Dân Ðảng là một nhóm thanh niên hăm hở nghiên cứu những tư tưởng mới của Tôn Dật Tiên để rồi áp dụng chương trình Tam Dân: Dân Quốc, Dân chủ và Dân sinh. (12) Phương pháp hành động là bạo lực. Chỉ trong khoảng một năm từ 1927 đến 1928 đảng đã thu nạp được 1.500 đảng viên.

Vì tổ chức ám sát Bazin một tên thực dân mộ phu đồn điền, Việt Nam Quốc Dân Ðảng bị truy tầm đủ cách. Lãnh tụ Nguyễn Thái Học kịp chạy thoát, nên gây dựng lại đảng rất mau, dân chúng rất có thịnh tình với đảng trong toàn quốc. Cuối cùng, việc không thành, Nguyễn Thái Học bị bắt và xử tử. Một vài nhóm lánh sang Trung Hoa, được Trung Hoa dân quốc giúp đỡ. Ông Vũ Hồng Khanh, nhà lãnh tụ mới của Việt Nam Quốc Dân Ðảng, được người Trung Hoa quý trọng. Tướng Long Vân, thống đốc Vân Nam huấn luyện họ để đợi ngày khởi công. Chúng ta sẽ thấy Việt Nam Quốc Dân Ðảng xuất hiện lại năm 1940.(13)

 

Các Ðảng Phái ít quan trọng:

Từ khi Việt Nam Duy Tân Hội giải tán có người tưởng thế là phe kháng chiến tan rã: nghĩ thế là lầm. Từ năm 1918 đến năm 1927 biết bao nhiêu đảng được thành lập một cách hợp pháp như đảng Cấp Tiến Việt Nam của Huỳnh Thúc Kháng, hay một cách bí mật như Ðảng Phục Việt, Ðảng Nông Dân của Nguyễn An Ninh, Việt Nam Cách Mệnh Ðảng của Nguyễn Hải Thần, Tân Việt Cách Mệnh Ðảng của Ðào Duy Anh và ngoài ra còn phải lưu ý đến Việt Nam Phục Quốc Hội. Phong trào này đóng một vai trò quan trọng khi Nhật chiếm đóng Việt Nam. Phe Duy Tân tin tưởng vào Nhựt Bản và Hoàng thân Cường Ðể. Ðến lúc Ðảng giải tán hay nói đúng hơn biến thành nhóm Quang Phục, một số đảng viên đã quy tụ sẵn tại Quảng Tây. Vào quãng 1940, đảng lấy tên là Việt Nam Phục Quốc Hội với ý định thực hành mộng Ðại Ðông Á do Nhật Bản cầm đầu.

Ở Nam có giáo phái Cao Ðài cũng là một phong trào cách mệnh do Lê Văn Trung thành lập năm 1926. Ban đầu Cao Ðài chỉ có tính cách tôn giáo không nhúng tay vào chính trị nhưng đến năm 1938 Cao Ðài thành một giáo phái có màu sắc chính trị được tổ chức rất chu đáo, có đến 300.000 tín đồ và tập trung ở Tây Ninh.

Nhân những biến cố chính trị quãng năm 1940, Cao Ðài ngả theo Nhật và gia nhập Việt Nam Phục Quốc Hội. Nhưng một Ðảng đáng cho chúng ta chú ý nhất là Ðông Dương Cộng Sản Ðảng.

 

2. ÐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ÐẢNG

Ban đầu đảng hoạt động rất thận trọng. Thừa cơ Việt Nam Quốc Dân Ðảng đang khởi nghĩa ở Yên Báy, đảng Cộng Sản tổ chức nhiều cuộc biểu tình trong vùng Nghệ An, Quảng Ngãi và Hà Tĩnh. Những cuộc biểu tình ấy mệnh danh là "Nông Dân khởi nghĩa".

Ðảng còn thành lập một tổ chức hợp pháp lấy tên là Mặt Trận Dân Chủ Ðông Dương, Phạm Văn Ðồng (14) và Võ Nguyên Giáp (15) là hai tay lãnh đạo.

Ở Nam những nhân viên cừ khôi của đảng như Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch được đắc cử vào Hội đồng Nam Kỳ. Năm 1936 lợi dụng quyền tự do hội họp vừa ban bố, đảng thành lập được 600 tiểu tổ tại Sài Gòn-Chợ Lớn tuy vẫn giữ cơ quan lãnh đạo của đảng trong vòng bí mật.

Năm 1939 chính sách của Pháp thay đổi khiến cho sở mật thám lại được tự do hành động. Tại Nam, Lê Hồng Phong, tùy phái của Hồ Chí Minh bị bắt rồi bị xử tử cuối năm 1940. Ngày 26-9-1939 một đạo luật được ban hành cấm đảng Cộng Sản hoạt động. Các ông Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu bị bắt. Những nhân viên ÐDCSÐ còn sống sót vẫn giữ các cơ quan lãnh đạo trong bóng tối và rút lui sang Quảng Tây. Trong số những đảng viên rút lui sang Trung Hoa có Phạm Văn Ðồng, Ðặng Xuân Khu và Võ Nguyên Giáp.

Rút sang Quảng Tây, ÐDCS Ðảng hoàn toàn lui vào vòng bí mật và đảng thành lập mặt trận Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh gọi tắt là Việt Minh. Việt Minh khéo biết hy sinh một phần quyền tự chủ để gia nhập Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội của Ông Nguyễn Hải Thần, nhà lãnh đạo phong trào Việt Cách (16) rất được lòng nhà cầm quyền Trung Hoa Dân Quốc. Ông giao cho ông Hồ Chí Minh việc đứng ra chỉ huy phong trào mới với sự giúp đỡ của Trung hoa. (17) Nhờ tài hoạt động của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, toàn dân đều mật giúp các ông vì hồi ấy ai củng tưởng các ông chỉ có mục đích xây dựng nền độc lập cho đất nước.

Ngày 9-3-1945 Nhật Bản đạp tan mọi quyền bính của Pháp ở Việt Nam. Biến cố này làm cho Việt Minh lo ngại vì Nhật thế nào cũng đưa nhóm Phục Quốc lên nắm chính quyền ở Việt Nam. Như vậy là Việt Minh sẽ bị lép vế. Do đó Việt Minh tức tốc chỉnh đốn lại chiến lược cho thích hợp với hoàn cảnh mới.

Sau khi Pháp hoàn toàn bại trận vì cuộc đảo chính ngày 9-3-1945, chính phủ Trần Trọng Kim bổ nhiệm ông Phan Kế Toại làm khâm sai ở Bắc và Nguyễn Văn Sâm khâm sai ở Nam. Lợi dụng được tất cả mọi hoàn cảnh may mắn bất ngờ Việt Minh liền tung cán bộ tuyên truyền đi khắp nơi, do đo khắp nơi đặt tất cả hy vọng vào Việt Minh.

Sau lúc Nhật đầu hàng, Hồ Chí Minh truyền lệnh cho đoàn du kích mệnh danh là Quân Ðội Giải Phóng Việt Nam đi chiếm cứ các nơi. Chỉ trong vòng tuần lễ, toàn cõi Việt Nam ở trong tay lực lượng Việt Minh. Ngày 24-8-1945 Bảo Ðại trao cho Trần Huy Liệu, đại biểu Việt Minh hộp ngọc tỷ và thanh kiếm, biểu hiệu của Hoàng Triều.

Ngày 2-9-1945 Việt Minh tổ chức lễ tuyên ngôn độc lập. Ngày 11-9-1945 đảng Cộng Sản từ trước tới giờ vẫn hoạt động bí mật, liền triệu tập đại hội và tuyên bố từ nay một mình lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh.

Thế là Ðông Dương Cộng Sản Ðảng toàn thắng. (18)

 

3. - HỒ CHÍ MINH LÃNH TỤ ÐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ÐẢNG

Hồ Chí Minh sinh ở Nghệ An ngày 19-5-1890 được vào Huế theo học trường Quốc Học. Lên 19 tuổi ông xin làm bồi tầu Latouche-Treville, nhờ thế ông được dịp đi du lịch khắp thế giới qua những nước Anh, Mỹ, Pháp và học được các ngoại ngữ một cách dễ dàng.

Trong trận Ðại chiến 1914-1918 ông lưu trú tại Paris làm công cho hiệu chụp ảnh (19). Ông năng lui tới các thư viện đọc sách, nhất là sách của Karl Marx cách riêng cuốn Tư Bản luận (20). Ông kết thân với các tay lãnh tụ xã hội ở Pháp rồi gia nhập liên đoàn Nhân quyền và đảng Xã Hội.

Ông theo chủ nghĩa Marx nhưng hồi đó Hồ Chí Minh cho rằng chưa thể đem chủ nghĩa Cộng sản áp dụng tại Việt Nam một cách triệt để. Phan Chu Trinh mà ông gặp hồi đó tại Paris cũng đồng ý như thế và đó cũng là chính ý kiến của Phan Bội Châu lúc bấy giờ; các nhà ái quốc đó liền nghĩ đấn việc thực hiện ý định cứu quốc bằng một trong hai phương tiện sau đây:

- Một là căn cứ vào hiến chương của tổng thống Wilson về quyền tự quyết của các dăn tộc;

- Hai là nương tựa vào Liên Bang Sô Viết do Lénine thành lập năm 1917. Sau cuộc đại chiến 1914-1918 các nhà cách mạng Việt Nam đệ lên thủ tướng Pháp Clémenceau, tổng thống Mỹ Wilson và Anh Hoàng Georges những yêu sách để thực hiện yêu cầu giải phółng nước Việt Nam.

Nhưng tại hội nghị Hòa Bình (21) những yêu sách ấy không được thỏa mãn. Thế là để thực hiện những yêu sách chính đáng kia, Hồ Chí Minh chỉ còn một con đường là quay hẳn về phía nước Nga.

Vào năm 1923 ông được đi Maskôva đại diện cho Việt Nam tại hội nghị Nông dân Quốc tế (Krestintern). Nhân dịp này ông mài miệt khảo cứu chủ nghĩa Karl Marx và guồng máy chính trị cách mạng rồi ông thành lập nhóm thợ thuyền Việt Nam đầu tiên. Vì rất hoạt động, ông được đắc cử làm bí thư dịch giả cho Mikhail Borodine, cố vấn Nga của Tôn Dật Tiên. Ông đến Quảng Ðông năm 1925. (22) Vừa đến Trung Hoa, Hồ Chí Minh tìm cách tập hợp tất cả cách nhà cách mạng Việt Nam sống rải rác tại Vân Nam, Quảng Ðông và Quảng Tây, tuy chưa thuyết phục được họ công nhận chương trình Cộng Sản, ông cũng đã thành lập được Liên Ðoàn các dân tộc bị áp bức. (23)

Năm 1925, sau ngày cụ Phan Sào Nam bị bắt ít lâu, Liên đoàn này biến thành Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Ðồng Chí Hội. (24) Nhiều đảng viên vào học trường Võ bị Hoàng Phố (25), trung tâm huấn luyện Hồng Quân, nhưng năm 1927 thiếu chút nữa Tưởng Giới Thạch đạp tan mọi công trình của Hồ Chí Minh. Ông Hồ Chí Minh liền trao quyền điều khiển Thanh Niên Hội cho mấy đồng chí hồi đầu là Hồ Tùng Mậu và Hồng Sơn rồi Ðông Dương Cộng Sản đảng. (26) Ngày 1-5-1929 nhân dịp Hội nghị Lao động Quốc tế nhóm họp tại Hương Cảng, Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội phái đại biểu tới tham dự. Trong lúc hội nghị có những người đứng lên công kích chủ nghĩa Cộng Sản, các đại biểu Cộng Sản thuộc nhóm Thanh Niên Hội phản đối ầm ĩ rồi rút lui, và họp thành trung tâm Ðông Dương Cộng Sản đảng.

Các phần tử của Ðông Dương Cộng Sản Ðảng đã khéo hoạt động nên đâu đâu trong nước người dân có thiện cảm với chủ nghĩa Cộng Sản.

Chú thích:

 

1. Joseph Buttinger, "The Smaller Dragon", Frederik A. Praeger, New York 1958, Chương 25, II

2. Society of Restoration of Việt Nam.

3. Association of Modernization of Việt Nam.

4. Phan Xuân Hòa, "Lịch sử Việt Nam IV lớp Ðệ Tử, từ Tây Sơn đến Hiện Kim", trang 192, Sài Gòn 1956

5. Lê Thành Khôi, "Le Việt Nam", Paris 1955, trang 391,

6. Cũng có tên Tây Hồ, Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại Quảng Nam. Ðậu cử nhân năm 1900; phó bảng 1901 và được triệu vào kinh làm việc ở Bộ Lễ năm 1905. Sau lúc gặp Phan Bội Châu ông từ chức để đi khắp nước nhóm lên trong lòng người dân ngọn lửa yêu nước. Sau lúc ở Nhật về ngày 15-8-1906, ông dâng lên viên toàn quyền PauL Beau một tập điều trần trong đó Phan Châu Trinh cho nhà đương cuộc bảo hộ biết chính phủ đã không làm gi để giáo hóa dân, trái lại chính phủ đã bóc lột dân và đã bóc lột dân và đã dung thứ cho bọn quan lại hà hiếp dân. Hành động của Phan Châu Trinh gây lên một tiếng dội lớn lao trong toàn quốc.

Ông hiến cho chính phủ Pháp một dịp để cộng tác với Việt Nam ngõ hầu xây dựng một nền dân chủ lành mạnh. Nhưng chính phủ bảo hộ không thể nào trả lời những yêu sách của Phan Châu Trinh được.

7. Lương Văn Can là vị hiệu trưởng đầu tiên của Trường - Năm 1908 trường bị Toàn quyền Le Beau đóng cửa - Nguyễn Hiến Lê, "Ðông Kinh Nghĩa Thục", Sài Gòn 1955, trang 28-35; David Marr, "Vietnamese Anticolonialism", pp. 156-184, Berkeley 1971.

8. Franco-Vietnam Mutual Concord

9. The society of Restoration of Viet Nam

10. Lê Thành Khôi: "Le Vietnam", Paris 1955, trang 391.

11. Pháp nhường cho chính quyền địa phương khúc đường xe lửa Vân Nam để được quyền bắt giam các lãnh tụ cách mạng quốc gia Việt Nam.

12. Devillers, "Histoire du Việt Nam", Paris 1950, trang 56, Dân quốc, dân chủ, dân sinh.

13. Muốn biết đầy đủ về Việt Nam Quốc Dân Ðảng xem: Lê Thành Khôi, "Le Viet Nam - Les mouvements nationalistes révolutionnaires", Paris 1955, pp. 437 - 440

Ðặng Nghĩa, "Lược tóm Lịch sử của các đảng Cách Mạng Việt Nam", Sài Gòn 1947.

Viết tắt là Ð.D.C.S.Ð Ðảng gồm có Việt Nam, Thái Lan, Lào và Cao Mên.

14. Phạm Văn Ðồng sinh năm 1912 trong một gia đình nông phu tại Quảng Ngãi có theo học trường Hoàng Phố. Năm 1926 ông về nước với nhiệm vụ thiết lập các tiểu tổ thì lại bị bắt rồi đầy ra Côn Ðảo Nâm năm. Từ năm 1933 đến 1936 hình như ông ỏ tạii Nga.

15. Võ Nguyên Giáp sinh năm 1912 trong một gia đình nông phu tại Quảng Ngãi. Năm 1930 ông bị ngồi tù, sau đó ông làm giáo sư tại trường Thăng Long và tiếp tục theo học tại trường Ðại Học Hà Nội. Ông đậu cử nhân luật học, Kinh tế và chính trị học. Năm 1936 ông cho xuất bản tờ "Volonté Indochinoise".

16. Việt Cách gồm có V.N.Q.D.Ð, Việt Minh, Phục Quốc và Ðại Việt. Xem Lê Thành Khôi, "Le Việt Nam" Paris 1955, trang 458.

17. Mỗi tháng chính phủ Trùng Khánh của Trung Hoa trợ cấp cho nhóm Việt Cách một số tiền là 100.000 đồng.

18. Trần Tâm, "Communism and War in Asia a story of Communism in Asia", Free Pacific Editions, trang 165-222: Communist activities and War in Việt Nam.

Lê Thành Khôi, "Le Việt Nam" trang 440.

Ðặng Nghĩa, "Lược tóm lịch sử của đảng Cách Mạng Việt Nam", trang 5.

19. Ở tại số 9 hẻm Compoint (XVIIe) của cụ Phan Chu Trinh. Cụ liên lạc với người Ðức, xin họ yễm trợ cho Cách mạng Việt- Nam. Người Ðức theo yêu cầu của cụ, gửi tiền cho một nhóm Việt kiều tại Pháp để họ mua khí giới giúp phong trào cách mạng. Hồ Chí Minh lúc đó đang làm công cho tiệm chụp hình của cụ Phan Chu Trinh. Ông Hồ biết rõ tình hình, bèn đi báo với sở Mật Thám Pháp, và họ đã tóm gọn tổ chức của cụ. Sự việc xảy ra vào năm 1914-1918.

20. Karl Marx sinh tại Trêves (Ðức) ngày 5-5-1816 trong một gia đình khá giả, gốc người Do Thái. Marx lớn lên chuyên học về Kinh Tế và Triết học. Ðỗ bằng Tiến sĩ Triết học xong, Marx được mờ làm giáo sư môn học này tại Bonn, từ đây bắt đầu cuộc đời hoạt động chính trị của giáo sư Marx. Gia nhập nhóm nghiên cứu triết học Hégel làm quen với Ludwing Feuerbach, Marx sau nầy chịu ảnh hưởng rất nhiều của nhà luật gia đại danh người Ðức này. Năm 1848 Marx sang Anh. Ttại đây Marx đã dùng thời giờ chăm chú vào việc soạn sách. Hai tác phẩm xuất bản có giá trị của Marx là "Phê bình Kinh Tế chính trị học" (1858) và "Tư Bản Luận" (1867).

Sinh trưởng trong một gia đình quan chức, từ giai cấp tư bản, Marx đã tình nguyện gia nhập hàng ngũ giai cấp cần lao. Chưa bằng lòng với danh hiệu lý thuyết gia và triết gia, Marx còn là một chiến sĩ hoạt động cách mạng chịu ảnh hưởng của các triết gia, như các bậc đàn anh trong địa hạt tư tưởng.

Xuất bản năm 1848 trước ngày xẩy ra cuộc cách mạng Pháp. Bản tuyên ngôn cộng sãn sau này đã trở nên cuốn Phúc âm của các nhà Mát-xít đồng thời đã nêu cao danh Marx. Cf. Nguyên Hương "Tìm nguồn sống" trang 161-163.

21. Conférence de la Paix (1919). Các nhà ái quốc Việt Nam dâng cho Hội Nghị một tập khiếu nại của dân tộc Việt Nam (Cahier des révendications du peuple annamite). David G Marr, "Vietnamese Anticolonialism", Berkely 1971, p 257.

22. Lê Thành Khôi, "Le Việt Nam". Paris 1955, trang 44: Le parti communiste indochinois". David G. Marr Op cit p 257.

23. La Ligue des Peuples Opprimés - Hồ Chí Minh có nhận sự hợp tác của một người Ấn Ðộ tên là M.N. Roy và nhiều đồng chí Cao-Ly.

24. Association de la Jeunesse Révolutionnaire du Việt Nam, gọi tắt là Thanh Niên.

25. Wham Poa.

26. Viết tắt là Ð.D.C.S.Ð. Ðảng gồm có Việt Nam, Thái Lan, Lào và Cao Mên.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com