ÐỆ
TAM THIÊN NIÊN KỶ Tam Linh chuyển ngữ.
I. HÀNG TRĂM VỊ THỪA SAI BỊ GIẾT TRONG THẬP NIÊN QUA Hôm 05.01 vừa qua, Cơ quan Thông tấn Fides của Thánh Bộ Truyền Giáo đã đưa ra một danh sách các vị thừa sai Công Giáo đã bị sát hại trong năm 2000. Ba mươi người đã hy sinh tính mạng trong khi hoạt động truyền giáo, mặc dầu, theo lời của Linh mục Giám đốc Bernardo Cervellera của Fides, con số này không bao gồm "hàng trăm (hay có thể hàng ngàn) Kitô hữu bị giết tại Ðảo Moluccas [ở Nam Dương], và nhiều môn đệ không tên tuổi của Ðức Kitô bị giam giữ ở Trung Quốc, Sudan, Rwanda mà số phận họ không ai có thể biết được". Fides báo cáo rằng trong thời gian từ 1990-2000, 603 vị thừa sai đã bị giết, như thế là tăng nhiều so với con số 115 vị trong thập kỷ trước đó. Cuộc gia tăng con số này phần lớn là do cuộc diệt chủng ở Rwanda năm 1994 khiến 248 người bị giết. Cơ quan Fides tính con số thừa sai bị giết, hay chết trong khi phục vụ kẻ khác, chứ không chỉ những người bị giết trực tiếp vì các động cơ tôn giáo.
Một Làn Sóng Bách Hại Trong những ngày gần đây, sự thù địch chống lại người Kitô hữu đã không giảm bớt. Hãng thông tấn Reuters hôm 28.12.2000 cho biết một linh mục Công Giáo bị quân nổi dậy Hồi giáo bắn chết ở miền nam Phi Luật Tân. Các viên chức chính phủ Phi nói rằng Cha Benjamin Inocencio bị bắn hạ trên đảo Jolo, cách thủ đô Manila 600 dặm Anh về phía nam. Thủ phạm bị tình nghi là quân của Abu Sayyaf, một trong 2 nhóm đấu tranh vũ trang đang đòi thiết lập một tiểu bang Hồi giáo ở Phi Luật Tân. Quân Abu Sayyaf đã gây tiếng vang khắp thế giới vào tháng 4 năm 2000 khi họ bắt đi hơn 20 người từ một khu du lịch ở một đảo thuộc nước Mã Lai kế cận. Vài ngày sau đó, hôm 31.12.2000, trên đảo Santa Lucia ở vùng biển Caribê, một nhóm người mang theo mã tấu đã vào Nhà thờ Chánh toà Castries trong khi hơn 400 tín hữu đang tham dự Thánh Lễ. Những người tấn công đã chém những người dự lễ và đốt sống họ. Một nữ tu, Sơ Theresa Egan, đã chết và 12 người khác bị thương. Quân tấn công còn tiến lên bàn thờ, đốt sống Cha Charles Gaillard và gây thương tích cho một người giúp lễ. Rồi hôm 01.01.2001, tại Trung Ðông, một vụ nổ đã phá hủy một phần tường của Nhà thờ Giêsu ở thành phố cảng Aden ở Yemen. Nhà thờ này là một trong số năm nhà thờ duy nhất tại quốc gia Hồi giáo Yemen, tất cả tại Aden, để phục vụ cho 3.000 công nhân Kitô hữu ngoại quốc làm việc tại đây. Một tuần sau đó, hôm 08.01.2001, phe Hồi giáo cầm quyền Taliban ở nước Afghanistan đã ra án tử hình cho bất kỳ ai đang từ đạo Hồi giáo đổi sang đạo khác. Còn bất kỳ người nào không phải Hồi giáo mà tìm cách đưa người Hồi giáo sang đạo mình cũng bị tử hình. Lãnh đạo tối cao Mullah Mohammed Omar của quân Taliban tố cáo những tín hữu của các tôn giáo khác, đặc biệt là Kitô giáo, đã tìm cách cải đạo người Hồi giáo. Omar cũng ra thông báo án tù 5 năm cho các chủ tiệm sách nào bán những tác phẩm phê bình Hồi giáo.
Chủ Nghĩa Quốc Gia Tôn Giáo Cuộc bách hại tôn giáo cũng đang gia tăng ở một số quốc gia có đông dân cư như Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nigeria, Pakistan và Nam Dương. Chẳng hạn, tại Ấn Ðộ, một vị mục sư Tin Lành 52 tuổi đã bị một nhóm tấn công vô danh bắt cóc, chặt đầu và phanh thây. Ðây chỉ là một trong hàng trăm vụ tấn công gần đây do động cơ tôn giáo nhắm vào người Kitô hữu ở Ấn Ðộ khiến nhiều linh mục bị giết, các nữ tu bị cưỡng hiếp, và những người thiện nguyện bị thiêu sống. Trong những trường hợp bách hại, tôn giáo thường dính liền với các vấn đề chủng tộc, chính trị, lãnh thổ và kinh tế. Một trong những yếu tố đằng sau của việc gia tăng bách hại Kitô hữu là sự lớn mạnh của dân quân Hồi giáo ở vòng đai Hồi giáo, từ nước Maroc ở Châu Phi hướng về phía đông tới miền nam nước Phi Luật Tân ở Châu Á. Trong những quốc gia bị Nhà nước Hồi giáo trực tiếp bách hại, bất kỳ biểu hiện nào không phải là Hồi giáo hay bất đồng với Hồi giáo đều bị cấm tuyệt. Chẳng hạn, các cuộc họp của người Kitô hữu tại nước Ảrập Saudi, đồng minh thân cận của nhiều cường quốc Tây phương, bị đặt ngoài vòng pháp luật và việc thờ phượng được tổ chức ở bất kỳ nơi nào khác ngoài sứ quán của các cường quốc bị cảnh sát tôn giáo gọi là mutawa’een tảo thanh. Bất kỳ người Ảrập Saudi nào tìm cách bỏ đạo Hồi có nguy cơ bị tử hình. Ðiều này cũng đúng với một số quốc gia vùng Vịnh Ba Tư và Bắc Phi. Bộ hình luật tại các quốc gia Mauritania, Quần đảo Comoros, và Sudan lên án tử hình cho những người Hồi giáo theo đạo khác. Những cuộc bạo động chống lại thiểu số thường là do các lãnh tụ Hồi giáo cực đoan khởi xướng cũng đang lan rộng. Tại Ai Cập, nơi Giáo hội Coptic có các nhà thờ bị đốt phá và tín hữu bị tàn sát, 21 người Kitô hữu Coptic ở làng El-Kosheh bị một nhóm sát hại vào tháng 1 năm 2000. Ở Nigeria, hàng trăm người bị giết đầu năm 2000 trong các cuộc tấn công bắt nguồn từ việc các chính phủ tiểu bang miền bắc nước này cố áp đặt luật Hồi giáo Shariah trên dân chúng. Tại Pakistan, trong năm 1997, cả làng Shantinagar của người Kitô hữu hầu như bị san bằng. Ngoài các cuộc bách hại từ phía Hồi giáo, những người Kitô hữu còn chịu bách hại bởi các chính phủ cộng sản, như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Lào, và Cuba. Chính phủ cộng sản Việt Nam tiếp tục triệt hạ Phật tử và Kitô hữu, đặc biệt là những người thiểu số, trong khi chính quyền cộng sản Lào cầm tù hàng chục Kitô hữu vì niềm tin của họ. Trong khi đó, tại Nga mà đa số theo Chính thống giáo, những luật lệ về tôn giáo mang tính áp chế đã được ban hành toàn quốc, và người ta thấy có sự gia tăng bạo động chống lại các tôn giáo thiểu số như Do thái giáo, Tin lành, Công giáo và những nhóm Chính thống bất đồng. Tình trạng kỳ thị tương tự chống lại các nhóm tôn giáo thiểu số cũng đang xảy ra ở các nước Ukraine, Bulgaria, Rumani và nhiều nơi khác ở Ðông Âu.
II. NAM DƯƠNG: QUYỀN LỰC HỒI GIÁO ÐANG LÊN Cuộc bách hại chống lại Kitô hữu cũng đang gia tăng một cách đặc biệt tại nước Nam Dương. Vào Vọng Giáng Sinh vừa qua, những vụ nổ bom tại một số nhà thờ ở ít nhất là 6 tỉnh thành làm cho 13 người chết. Tổng thống Abdurrahman Wahid của Nam Dương nói rằng, những kẻ chống chế độ đặt bom "để gây bất ổn cho chính phủ và tạo sự lo sợ hoang mang". Về phần mình, Ðức Hồng y Julius Darmaatmadja, vị lãnh đạo cao cấp nhất của Giáo hội Công Giáo Nam Dương, kêu gọi tín hữu đừng tố cáo ai cả. Ngài nói: "Ngày cả khi chúng ta biết ai đàng sau các vụ đặt bom này, tôi thúc giục mọi Kitô hữu hãy tha thứ". Các báo cáo chính thức cho biết, những vụ nổ này diễn ra cách nhau trong vòng vài phút cho thấy dường như có một chiến dịch khủng bố có tổ chức. Các cuộc tấn công bằng bom này trùng hợp với những ngày cuối cùng của Ramadan là tháng ăn chay của Hồi giáo. Ba nạn nhân bị giết tại thủ đô Jakarta, nơi bom nổ ngoài 4 nhà thờ, kể cả Nhà thờ chính toà. Ít nhất có ba người bị chết tại thành phố Pekanbaru. Bốn cảnh sát bị chết khi đang cố gỡ bom ở đảo Sumatra. Hội đồng Giám mục Nam Dương lấy làm đau xót vì những gì đã xảy ra và trong một tuyên bố khẳng định rằng "đằng sau những cuộc gài bom được hoạch định và thực hiện là một quyền lực có tổ chức chặt chẽ, nhiều ảnh hưởng, và có một mạng lưới và quỹ tài trợ".
Bất Ổn Gia Tăng Trong một bài bình luận về cuộc tấn công mới nhất nhắm vào người Kitô hữu được đăng trên báo Sydney Morning Herald hôm 27.12.2000, Louise Williams nhớ lại rằng bốn năm trước đây, vị lãnh đạo Hồi giáo Abdurrahman Wahid đã công khai xin tha thứ nhân danh những quân Hồi giáo đốt rụi mọi nhà thờ ở thị trấn Situbondo phía nam đảo Java. Lúc đó, Wahid là lãnh đạo tổ chức Hồi giáo lớn nhất của Nam Dương là Nahdlatul Uiama gồm 40 triệu thành viên. Giờ đây làm tổng thống, ông Wahid một lần nữa kêu gọi sự khoan dung, nhưng nhiều quan sát viên sợ rằng Nam Dương đang rơi vào sự bất ổn. Bà Williams mô tả trong những tháng gần đây, ở đảo Moluccas các nhóm dân quân Hồi giáo đã sát hại những Kitô hữu từ chối không chịu theo đạo Hồi giáo. Trên đảo Lombok, quân Hồi giáo tấn công các nhà thờ và hộp đêm buộc hàng ngàn du khách ngoại quốc phải di tản. Còn trên đường phố thủ đô Jakarta, quân Hồi giáo đã hành hình Kitô hữu trước mắt đám đông qua lại. Theo báo Sydney Morning Herald, vấn đề đặt ra cho Tổng thống Wahid nằm ở cơ cấu xã hội Nam Dương. Ở Nam Dương dưới thời thực dân Hoà Lan, sắc dân thiểu số gốc Hoa mà phần lớn thuộc Kitô giáo được phép buôn bán và trở nên tương đối giàu có, trong khi đa số người Hồi giáo gốc Mã Lai làm nô lệ ở các đồn điền, không có đất đai và sống nghèo khổ. Mặc dầu được độc lập 50 năm nay và các cuộc di dân trong nước đã làm phai mờ sự phân chia giai cấp trong xã hội, nhưng trong nhiều lãnh vực Nam Dương vẫn phải đối phó với cơ cấu quyền hành mang nhiều khiếm khuyết hình thành từ cơ cấu sắc tộc, tôn giáo, và của cải. Chỉ có 4% người Nam Dương thuộc gốc Trung Hoa nhưng họ kiểm soát khoảng 70% công cuộc buôn bán. Theo một bài báo đăng trên nhật báo Los Angeles Times hôm 27.12.2000, căn tính của quốc gia Nam Dương hiện đang được hình thành với nhiều tính chất Hồi giáo. Cuộc chuyển tiếp sang nền dân chủ sau nửa thế kỷ dưới chế độ chuyên quyền đã cho phép một cuộc bùng nổ về số trường học, buôn bán, các nhóm dân quyền và truyền thông theo Hồi giáo. Các đảng chính trị Hồi giáo trong nước với số dân Hồi giáo lớn nhất thế giới hiện chiếm khối đa số ở Quốc hội Nam Dương. Như thế, 25 năm sau cuộc nổi dậy Hồi giáo được tung ra khắp vùng Trung Ðông, những trung tâm hoạt động nay đã di chuyển. Từ Nam Dương ở Thái Bình Dương đến Nigeria ở Ðại Tây Dương, từ Thổ Nhĩ Kỳ ở Ðịa Trung Hải đến Pakistan ở Ấn Ðộ Dương, các phong trào năng động nhất của Hồi giáo ngày nay diễn ở ngoài vùng nơi mà Hồi giáo được khai sinh gần 14 thế kỷ trước đây. Bài báo trên tờ Los Angeles Times bình luận rằng, trong thập kỷ tới đây, thế hệ dưới 25 tuổi là thế hệ chiếm tới hơn nửa dân số 216 triệu của Nam Dương sẽ xuất thân từ hàng ngàn các trường học Hồi giáo. Ngay cả trước khi có các vụ nổ bom hôm Giáng Sinh, nhật báo Wall Street Journal ra hôm 11.12.2000 đã chỉ cho thấy sức mạnh gia tăng của các các nhóm Hồi giáo đã làm suy yếu khả năng cai trị Nam Dương của tổng thống Wahid. Tờ báo ghi nhận các nhóm sinh viên, tổ chức chính trị, dân quân Hồi giáo đã gia tăng rất nhiều trong những tháng qua. Giới dân quân Hồi giáo vũ trang bằng những vũ khí thô thiển và mang những tên gọi như Ðạo Quân Allhah, Lực Lượng Ðặc Nhiệm Hizbullah và Mặt Trận Thanh Niên Hồi Giáo đã đóng cửa thường bằng bạo lực các cơ sở phục vụ rượu và liên hệ đến mãi dâm. Ðồng thời, những nhóm dân quân này tiếp tục gửi người đến các đảo ở phía nam Nam Dương để tham gia vào cuộc tấn công nhắm vào người Kitô hữu khiến hơn cả ngàn người chết trong hơn hai năm qua. Nhật báo Wall Street Journal tự hỏi phải chăng Nam Dương đang trải qua một cuộc nổi dậy Hồi giáo chống lại tổng thống Wahid. Câu trả lời theo đa số các nhà phân tích chính trị và chuyên viên về Hồi giáo ở Nam Dương, đó là Hồi giáo đang trở nên một lực lượng văn hoá và chính trị có thế lực lấp vào chỗ trống chính trị sau thời kỳ hậu-Suharto. Những nhóm dân quân Hồi giáo bị đàn áp lâu dài dưới thời cai trị 32 năm của tổng thống Suharto đang chứng tỏ thông thạo trong việc khai thác việc các lực lượng an ninh của Nam Dương gần như đang suy sụp. Các nhà phân tích ghi nhận, trong khi chỉ có một thiểu số nhỏ trong số 180 triệu dân Hồi giáo của Nam Dương thuộc về phe cực đoan, những thành phần dân quân to tiếng đang đưa ra cho công chúng bàn cãi về nghị trình và thái độ đối với vai trò của Hồi giáo.
Lãnh Ðạo Công Giáo Kêu Gọi Sự Giúp Ðỡ Cơ quan thông tấn Fides hôm 05.01.2001 cho biết Ðức Cha Petrus Canisius Mandagi ở Moluccas đã gửi một điện văn cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan yêu cầu cộng đồng thế giới giúp đỡ. Ðức Giám mục khẩn khoản: "Chúng tôi kêu gọi cộng đồng quốc tế nhân danh giá trị con người, phẩm giá con người, quyền con người, trật tự và an ninh cho đời sống dân chúng, hãy giúp đỡ chính phủ Nam Dương kết thúc tình trạng man rợ và bạo động ở Moluccas và các cuộc cải đạo cưỡng bức [sang Hồi giáo]". Ðức Cha Mandagi khẳng định rằng chính phủ Nam Dương "đã chứng tỏ là họ không thể kết thúc cuộc xung đột ở Moluccas" và "Cộng hoà Nam Dương đã thất bại trong việc bảo đảm và duy trì công lý và nhân quyền, do thiếu sự nghiêm chỉnh và nhất quán, trung thực và chính trực". Ngài thêm rằng trong 23 tháng kể từ khi có cuộc đánh nhau bắt đầu ở Moluccas, những vi phạm nhân quyền và luật pháp đã leo thang từ phía dân địa phương cũng như nhà cầm quyền và các cơ quan chính phủ. Ðức Cha viết rằng, "Chỉ mới gần đây thôi, các báo cáo đưa về chúng tôi cho biết có cuộc cải đạo dã man và ở mức độ rộng lớn những Kitô hữu sang Hồi giáo, bằng bạo lực khiến họ không có sự chọn lựa nào cả. Việc này xảy ra tại nhiều nơi, kể cả quần đảo Buru và Ðông Ceram, và gần đây nhất là ở các quần đảo Kasui và Teor. Ở Kasui, trong số 692 người Công Giáo, ít nhất có 473 người còn sống và bị Hồi hoá; người ta cũng không biết được về số phận của 219 người Công Giáo khác. Ở Teor, với 841 người Công Giáo, có 142 người bị Hồi hoá, khoảng 300 người thành công thoát được đến đảo Kei Kecil, trong khi còn 400 người khác vẫn ở trên đảo Teor. Như thế, trong số 1.533 người Công Giáo trên quần đảo Kasui và Teor, 615 người bị cưỡng bức theo Hồi giáo hay chọn theo Hồi giáo hơn là mất mạng. Cũng trên các đảo này, hàng trăm người Tin Lành đã bị cưỡng bức theo đạo Hồi giáo. Tất cả những người này cần được thả tự do và di tản khỏi Kasui và Teor gấp".
III. TRUNG ÐÔNG: KHÔNG CÓ MÙA GIÁNG SINH Các cộng đoàn Kitô hữu ở Trung Ðông chịu đau khổ rất lâu. Những cuộc xung đột ở Liban, cuộc nổi dậy của dân quân Hồi giáo ở Ai Cập, và căng thẳng tái tục giữa người Palestine và người Do Thái đã góp phần làm nên bầu khí thù địch trong vùng. Một ví dụ mới đây về những vấn đề mà người Kitô hữu phải đương đầu, đó là khi lính Do Thái bắn vào chiếc xe hơi của một giám mục Công Giáo tại một trạm kiểm soát ở vùng Tây Ngạn (West Bank). Tường thuật của hãng Thông tấn AP hôm 09.01.2001 cho hay Ðức Cha Boulous Marcuzzi, giám mục phụ tá của Giêrusalem và là vị lãnh đạo cao cấp hàng thứ hai của Công Giáo ở vùng Ðất Thánh, từ Nazareth đi xe thăm một linh mục bị đau ở làng Zababde ở phía bắc vùng Tây Ngạn do nhà cầm quyền Do Thái kiểm soát thì gặp một trạm kiểm soát của quân đội Do Thái. Theo lời của ChaElie Kurzum, thư ký của Ðức Cha Marcuzzi và lái xe ngày hôm đó: "Tôi không thấy bảng ‘Dừng lại’ nhưng tôi lái chậm lại khoảng 6 dặm Anh/giờ qua các khối xi măng chặn đường". Khi Cha Kurzum đang lái như thế, hai người lính Do Thái cầm súng chạy ra và bắn ba phát, một phát đạn lên trời và hai phát đạn sát xe hơi. Cũng theo lời Cha Kurzum, xe hơi ngài đang lái có bảng số ngoại giao và cắm cờ Toà Thánh. Khi Cha Kurzum dừng lại kêu gọi người lính đừng bắn thì được trả lời: "Hãy đi chỗ khác nếu không tôi sẽ bắn một viên đạn vào đầu". Ðức Cha Marcuzzo tức khắc đi đến một đồn lính gần đấy và khiếu nại với viên sĩ quan chỉ huy. Vị chỉ huy này xin lỗi, và đồng ý đưa Ðức Cha Marcuzzo qua trạm kiểm soát. Vị sĩ quan cũng đồng ý sẽ nói với binh lính là vị giám mục sẽ quay về trong vòng 1 tiếng và sẽ được phép qua trạm. Tuy nhiên, sau khi thăm vị linh mục ốm đau, Ðức Cha quay trở lại trạm kiểm soát thì xe bị chặn lại và bị chĩa súng. Lần này, Cha Kurzum lui xe và đi về Nazaret bằng con đường khác vòng vèo hơn.
Giáng Sinh tại Bêlem Trong những tuần gần cuối năm 2000, nhiều vụ xung đột đã xảy ra khiến việc tổ chức Giáng Sinh ở Bêlem gần như không có. Cuộc rước Giáng Sinh hằng năm của Thượng phụ Công Giáo Michel Sabbah của Giêrusalem đêm 24.12.2000 được tiến hành mà không có âm nhạc. Cũng thế, những cuộc hoà nhạc ngoài trời theo truyền thống và đốt pháo bông đã bị hủy bỏ và đèn Giáng Sinh được thắp sáng ở mức tối thiểu. Mặc dầu hàng triệu Mỹ kim đã được đổ ra để làm đẹp thành phố Bêlem cho dịp Giáng Sinh 2000, trong những tháng gần đây chỉ có một số ít khách hành hương đã can đảm không ngại các cuộc đương đầu đẫm máu giữa người Palestine và Do Thái để đến viếng Bêlem nằm trong khu vực kiểm soát của người Palestine. Bêlem và những làng lân cận đã trở thành những bãi chiến trường giữa các lực lượng Do Thái và dân quân Palestine. Kể từ lúc bùng nổ xung đột giữa hai phe, để trả đũa, Do Thái đã cản đường đi Bêlem và các thị trấn Palestine khác khiến nền kinh tế Palestine kiệt quệ và ngăn chặn đa số du khách và người hành hương đến viếng Bêlem. Theo Nhật báo New York Times ra hôm 24.12.2000, những cuộc xung đột gần đây càng làm gia tăng nỗi lo lắng của các giáo hội Kitô về việc phân chia lãnh thổ giữa dân Palestine và Do Thái trong tương lai sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của tín hữu. Theo tờ báo này, mùa hè vừa qua, khi các nhà thương thảo của Do Thái và Palestine thảo luận những đề nghị về việc chia sẻ và phân chia Cổ Thành, các giám mục Chính thống và Công giáo nêu mối quan tâm về việc những người Kitô hữu địa phương không được tham khảo ý kiến về đường biên giới mới mà có thể ảnh hưởng đến đời sống cộng đoàn, nhà thờ, và những địa điểm hành hương. Cộng đoàn Kitô hữu gốc Ả rập mặc dầu nhỏ bé nhưng có nhiều ảnh hưởng hiện có khoảng 50.000 ở Ðông Giêrusalem và Tây Ngạn, đó là chưa kể đến 120.000 tín hữu khác trong lãnh thổ Do Thái, đa số ở vùng Galilê thuộc miền bắc.
Một Cộng Ðoàn Thu Nhỏ Ðiều quan ngại hơn nữa đối với các Kitô hữu ở Ðất Thánh là họ hiện đang đương đầu với mối đe doạ tuyệt diệt ở đây. Năm 1983, người Kitô hữu chiếm 13% số dân Palestine. Con số đó giờ giảm xuống còn 2%. Do bạo động lan tràn trong vùng, nhiều người Kitô hữu đã chọn con đường di dân qua các quốc gia khác. Trong một bầu khí nguy hiểm gia tăng, các vị lãnh đạo Kitô giáo ở vùng Ðất Thánh phải đối phó với một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Thượng phụ Công Giáo Latinh ở Giêrusalaem là Ðức Michel Sabbah hiện đang đóng một vai trò quan trọng trong việc đòi hỏi "phẩm giá và quyền lợi" cho người Palestine, và "phục hồi" Ðông Giêrusalem, kể cả Cổ Thành, về tay người Palestine. Quan điểm của Thượng phụ Sabbah ít ra được Toà Thánh ủng hộ một phần. Theo lời Ngoại trưởng Toà Thánh là Ðức Tổng Giám mục Jean-Louis Tauran, Ðông Giêrusalem là "một lãnh thổ bị [Do Thái] chiếm đóng theo Quyết nghị 242 của Liên Hiệp Quốc" sau cuộc chiến 1967. Vị quản thủ Ðất Thánh là Cha Giovanni Battistelli thuộc Dòng Phanxicô, chịu trách nhiệm trông coi những khu vực thánh do Công Giáo kiểm soát, cũng bày tỏ một mối quan tâm. Với bổn phận bảo vệ và khuyến khích khách hành hương đến viếng thăm vùng, Cha Battistelli quan tâm đến khía cạnh tôn giáo của kỹ nghệ du lịch mà hiện đang suy sụp. Trong khi đó, con số những người Kitô hữu địa phương càng ngày càng giảm sút cũng đặt ra một mối quan tâm sâu xa hơn. Trước hiện trạng chung này, đa số Kitô hữu ở Ðất Thánh thuộc về Giáo hội Chính thống Hy Lạp và các Giáo hội Tây phương vốn không ưa nhau hiện có những mối quan hệ đằm thắm hơn. Các nhà lãnh đạo các giáo hội đã cùng với vị Thượng phụ Chính thống Armêni lên án việc đổ máu và kêu gọi các phe trở lại bàn thương thảo. Những lời nói này của các vị lãnh đạo Kitô giáo phản ảnh tình trạng báo động trong vùng Ðất Thánh khi về số người Kitô hữu ngày càng sút giảm và mối thất vọng ngày càng gia tăng.
Xung Khắc tại Liban Tại Liban, không xa Bêlem bao nhiêu, cuộc sống của người Kitô hữu cũng gặp nhiều khó khăn. Nhật báo New York Times hôm 23.12.2000 tường thuậ rằng, Ðức Thượng phụ Công giáo Maronite là Ðức Hồng y Nasrallah Pierre Sfeir, 80 tuổi, đã từng tuyên bố quốc gia Liban đang là tôi đòi của nước Syria láng giềng và hiện chẳng có chủ quyền hay độc lập gì cả. Cuộc nội chiến ở Liban đã kéo dài hơn 10 năm. Cuộc chiếm đóng Nam Liban của người Do Thái mới kết thúc 7 tháng trước đây. Ðức Thượng phụ Sfeir tuyên bố, giờ đã đến lúc Syria rút quân khỏi Liban và ngừng can thiệp vào đời sống chính trị của Liban. Cũng theo New York Times, lời nói của vị thượng phụ không chỉ làm nổi bật vấn đề quyền hành của Syria, nhưng cũng cho thấy nỗi đau xót của người Kitô hữu trong việc phân chia quyền hành chính trị giữa 17 phe Hồi giáo và Kitô giáo. Ðối với người Kitô hữu Liban, đặc biệt là Giáo hội Maronite đã từng khiến sự chia rẽ trong nước trở nên trầm trọng khi liên minh với Do Thái trước đây, cuộc nội chiến đã đi kèm với những cuộc đánh nhau quyết liệt mà chỉ kết thúc vào năm 1990. Theo hiến pháp, chức tổng thống vẫn dành cho người Kitô hữu thuộc Giáo hội Maronite cũng như chức thủ tướng dành cho người Hồi giáo Sunni và chủ tịch quốc hội thuộc về người Hồi giáo Shiite. Nhưng kể từ khi hiệp ước Taif năm 1989 được ký kết giữa phe Hồi giáo và Kitô giáo nhằm kết thúc nội chiến, quyền hành tổng thống đã bị giảm bớt, và tại Quốc hội, thay vì việc chia các ghế theo cách thức cũ là 6 ghế cho Kitô hữu và 5 ghế cho người Hồi giáo, thì nay việc phân chia đồng đều cho hai bên. Không ai biết được chính xác thành phần tôn giáo của dân Liban bởi vì gần 70 năm nay, không chính phủ nào muốn liều gây xáo trộn chính trị khi làm kiểm tra dân số. Nhưng người ta nghĩ rằng dân số theo Kitô giáo hiện chiếm khoảng 1/4 tổng số dân. Syria đã đưa khoảng 30.000 binh lính ở Liban đến thung lũng Bekaa cách đây 8 năm mặc dầu không có yêu cầu của các tổng thống Liban do Syria đặt lên. Syria cũng có một số gián điệp không được tiết lộ làm việc tại Liban. Trong khi các lãnh tụ dân quân Kitô giáo như Samir Geagea và Michel Aoun hiện đang bị cầm tù hay lưu vong, các nhóm dân quân Hồi giáo lại chiếm những vị trí cao trong chính phủ Liban. Mặc dầu được bảo đảm 50% số ghế trong Quốc hội Liban, các cuộc bầu cử bị Syria vận dụng mánh khoé khiến các chính trị gia Kitô giáo độc lập thực tế bị gạt ra ngoài chính trường.
IV. KẾT LUẬN Vào chiều Chúa nhật 07.05.2000, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II cùng nhiều đại diện của các giáo hội Kitô khác đã cử hành Nghi thức Tưởng Niệm Nhân Chứng Ðức Tin của thế kỷ 20 tại Hí trường Coliseum, Rôma, nơi nhiều Kitô hữu thời Giáo hội tiên khởi đã bỏ mình ra để minh chứng cho niềm tin vào Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế duy nhất. Trong nghi thức tưởng niệm này, Ðức Thánh Cha đã nói: "Thế kỷ vừa kết thúc được đánh dấu bằng bóng tối. Có rất nhiều Kitô hữu thuộc mọi hệ phái, chủng tộc và tuổi tác đã làm chứng cho đức tin và chịu những cuộc bách hại tàn khốc, phải ở tù với mọi hình thức tước đoạt; nhiều người đã đổ máu mình ra để giữ lòng trung thành với Ðức Kitô, Giáo Hội, và Tin Mừng." Theo một ủy ban của Toà Thánh lo việc thu thập tên tuổi những người đã bỏ mình vì Ðức Kitô trong thế kỷ 20, danh sách tổng kết khoảng 13.400 vị và đã được trình lên Ðức Thánh Cha hôm 04.12.2000, trong đó có đến 70% thuộc Âu châu và những nước thuộc Liên Xô cũ. Dĩ nhiên, danh sách này tiêu biểu cho một phần rất nhỏ những người đã đổ máu đào để minh chứng cho Ðức Kitô và còn rất nhiều chứng nhân đức tin mà danh tánh có lẽ sẽ không bao giờ được biết rõ. Nhưng những cuộc tử đạo của họ là "lời chứng hùng hồn nhất minh chứng đức tin của [người Kitô hữu] là thật, vì đức tin có thể giúp con người dám đương đầu với cả sự chết khủng khiếp nhất, và vì đức tin vẫn hết sức đẹp ngay cả giữa bao bách hại tàn khốc nhất" (Incarnationis Mysterium, 12). Vì thế, cho dù thế kỷ 21 đã được khởi đầu bởi những dấu hiệu bách hại, chắc chắn rằng hồi ức về các nhân chứng đức tin của thế kỷ 20 sẽ tạo "trong tâm hồn các tín hữu hôm nay có cả niềm cảm phục trước sự tử đạo của các ngài lẫn lòng khao khát được nhờ ơn Chúa mà theo gương của các ngài, khi hoàn cảnh đòi hỏi". (Incarnationis Mysterium, 12). (từ bài The New Martyrodm: A Special Report của Cơ quan Thông tấn Zenit)Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |