| |
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN. 25-021-2001 : LƯỠI LÀ LỬA. CHÚA NHẬT I MÙA CHAY. 04-03-2001 : HÀNH TRÌNH CUỘC ÐỜI. CHÚA NHẬT II MÙA CHAY. 11-03-2001 : NHỮNG CÂU CHUYỆN BIẾN HÌNH. CHÚA NHẬT III MÙA CHAY. 18-03-2001 : CƠ HỘI CUỐI CÙNG. Chúa Nhật VIII Thường Niên 25-02-2001 LƯỠI LÀ LỬA "Ðừng ca tụng người nào trước khi nghe người ấy nói, vì lời nói là sự thử thách của con người (Hc 27:7). Có một câu chuyện khôi hài giả tưởng về ba cha xứ tình cờ gặp nhau trong một cuộc tĩnh tâm hàng năm. Ðây là dịp họ có thể ngồi lại chuyện trò và chia sẻ cho nhau những nhược điểm cá nhân cũng như những kinh nghiệm giải quyết các vấn đề. Bầu không khí rất thoải mái và an toàn cho một cuộc tâm sự mà không hề sợ ai nghe thấy hoặc quấy rầy: Người thứ nhất thú nhận mình có tật nghiện bia rượu không thể chừa được. Ngài cũng kể ra rất nhiều chi tiết về cách thức làm thế nào có thể che đậy tính xấu đó. Ví dụ như để sẵn một bao thuốc lá trong xe, nếu lỡ bị cảnh sát chận lại sau lúc uống rượu thì ngài sẽ đốt thuốc lên, phì phà cho đầy khói. Hẳn nhiên, viên cảnh sát sẽ chỉ ngửi thấy mùi thuốc lá chứ không phải mùi rượu. Như thế nếu có bị "ticket" thì cũng chỉ là lái quá tốc độ hay không đúng luật giao thông. Chứ nếu bị bắt vì tội uống rượu thì xấu hổ lắm. Nhất là khi giáo dân biết được tin cha xứ say rượu lái xe bị ông cò tóm được thì còn gì thể diện. Cha xứ thứ hai thổ lộ cho hai cha kia biết mình là người rất mê cờ bạc, ngay cả việc lấy ngân quĩ nhà xứ để giải quyết cho cơn mê đó. Không hiểu sao cứ ngồi vào sòng, cầm những lá bài lên, là tay nó "đã" làm sao! Hoặc những tiếng kêu leng keng nơi mấy cái máy kéo, nghe hấp dẫn không thể tả! Ngài chia sẻ sự lo lắng không biết phải xử sự thế nào khi có người bắt gặp mình đang chơi bài, hoặc phát giác việc ngài dùng tiền nhà xứ cho việc đỏ đen. Ðến phiên cha xứ thứ ba. Ngài có vẻ miễn cưỡng khi phải chia sẻ. Sau một hồi lâu ngập ngừng, ngài mới lên tiếng thố lộ mình là người có tính ngồi lê đôi mách. Cha tâm sự: "Tôi không làm sao giữ kín được một điều gì! Hễ nghe cái gì thì chừng một giờ sau mọi người sẽ biết hết. Ngay cả chuyện của hai cha!" Lầm lỗi, thiếu sót là bản chất của con người. Ai cũng có khuyết điểm, nhưng không phải ai cũng có thái độ đúng đắn cần thiết đối với khuyết điểm của mình và của kẻ khác. Thói thường, người ta hay phủ nhận bao che lầm lỗi của mình, nhưng rất thích nhắc đến hoặc bàn tán về lỗi lầm của người ta. Lắm khi chuyện không có gì nhưng lại được cái lưỡi phóng ra thật lớn. Và hậu quả của nó thì tai hại không thể kể hết được. Thánh Giacôbê đã phải viết thư nhắc nhở những người Kitô hữu trong cộng đoàn tiên khởi của ngài rằng: "Những chiếc thuyền dầu lớn thế nào, có bị cuồng phong đẩy mạnh làm sao, chúng đều được hướng dẫn bởi một bánh lái bé tí, đến đâu tuỳ ý người hoa tiêu. Cũng vậy, lưỡi chỉ là phần mình cỏn con, mà vinh vang được nhiều điều vĩ đại. Kìa, tàn lửa nhỏ thế mà đốt cháy cả đám rừng lớn! Lưỡi là lửa! Thế giới chứa đựng bất lương, đích thị cái lưỡi đặt giữa phần mình của ta. Nó làm hoen ố toàn thân, làm bốc cháy cả bánh xe luân hồi, do chính hoả ngục nhóm lên. Vì thú vật, chim muông, rắn rít, cá biển mọi loài, nhân loại đều trị được, và đã trị được. Còn cái lưỡi, không ai trong loài người có thể trị nổi. Một tai hoạ vô phương trấn tĩnh. Nó đầy những nọc độc giết người. Nhờ nó ta chúc tụng Thiên Chúa là Cha, và nhờ nó ta chúc dữ người ta vốn được dựng nên theo hình ảnh của Ngài. Cũng bởi một miệng mà phát xuất ra vừa lời chúc tụng, vừa lời chúc dữ. Hỡi anh em, để xảy ra như thế là không được" (Gc 3:4-10). Trong 10 điều răn Ðức Chúa Trời, có hai điều liên quan đến chiếc lưỡi: "Chớ kêu tên Ðức Chúa Trời vô cớ" và "Chớ làm chứng dối". Kinh Thánh có đến 150 lần nói về chiếc lưỡi, phần thân thể mà người ta có thể gây ra chiến tranh hay mang lại hoà bình, đốt lên hoả ngục hay tặng ban thiên đàng. Thánh Inhaxiô từng nói rằng nếu một người tiết lộ tội trọng kín ẩn của tha nhân, nếu không phải vì lợi ích cấp bách cho những người khác, thì mắc tội trọng. Nếu tiết lộ tội nhẹ thì mắc tội nhẹ. Nếu nói tật xấu của kẻ khác thì chính là đưa cái xấu của mình ra. Về vấn đề tai hại của tật nói xấu, trong hạnh Thánh Philip Neri có kể: một hôm có người đàn bà vào xưng tội "hay nói hành người khác." Cha giải tội bảo bà làm việc đền tội bằng cách đi ngay ra chợ mua một con vịt mang về cho ngài, và trên đường về, bà cứ vừa đi vừa nhổ cho sạch hết lông con vịt đó. Bà kia hí hửng tưởng chuyện gì chứ việc này thì chuyên môn quá. Không chừng lại được một bữa tiết canh. Nhưng sau khi nhổ sạch lông con vịt và trình diện trước cha giải tội, bà được bảo hãy đi gom số lông kia lại. Ôi thôi, gió thổi hết rồi, còn đâu! Cố gắng cả ngày bà ta cũng chỉ gom không tới 1/10 số lông. Lúc này cha giải tội mới bảo: Nói hành kẻ khác cũng giống vậy thôi; nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy; lời nói ra rồi gom lại không được đâu. Và tai hại của những lời nói không tốt thì khó mà cứu chữa được. Bạn không bắn một viên đạn nào, cũng chẳng thả một quả bom nào, nhưng bạn có thể hủy diệt kẻ khác bằng một lời nói. Sự cáo gian, vu khống, chỉ trích, đã đảo, ngồi lê đôi mách về một người vắng mặt đều là những thái độ và việc làm mang tính chất tàn phá, chia rẻ, và huỷ hoại nhân phẩm con người. Ðiều đó hẳn là không xứng hợp với Tin Mừng Phúc Âm. Tin Mừng mời gọi hãy tìm kiếm hoà giải, xây dựng hiệp nhất và xây dựng con người. Tin Mừng khuyên bảo hãy thực thi những điều đó bằng cách thế trực diện, kín đáo, tôn trọng nhân phẩm của kẻ có lỗi: "riêng ngươi và người anh em". Nếu không thành công thì mới cậy thêm người khác hay cộng đoàn. Tin Mừng còn hướng ta đến một việc làm thiết thực hơn. Ðó là cầu nguyện. Vì nói đến cộng đoàn là nói đến cầu nguyện. Lời nguyện cầu sẽ mang lại yêu thương, tha thứ, xây dựng và hiệp nhất. "Ðâu có hai, ba người họp lại nhân danh Ta, thì có Ta ở giữa họ". Ở đâu có Chúa Giêsu ở đó chắc chắn sẽ có yêu thương, tha thứ và dựng xây. Chân thành xét mình, không chừng Chúa Giêsu không còn "ở trong" mà phải "ở ngoài" chúng ta. Lắm khi chẳng ai thấy được Chúa trong tôi, vì miệng lưỡi vấp phạm quá nhiều. Những lời la mắng, thô lỗ, hành tỏi, bêu xấu, chửi xa nhiếc gần đã đẩy Chúa khuất xa tâm hồn. Vì đương nhiên, với tâm tình thái độ như thế làm sao có tôi thể chân thành hay thoải mái thốt lên lời ca ngợi được. "Cây tốt không sinh quả độc, còn cây độc không lẽ sinh quả tốt" (Lc 6:43). Thánh Giacôbê cũng từng xác nhận: "Làm sao mạch nước do cùng một lỗ, lại phun ra cả nước ngọt lẫn nước mặn được?" (Gc 3:11). Một miệng lưỡi lại có thể phát xuất ra vừa lời chúc tụng, vừa lời chúc dữ được sao? Tất nhiên nếu thiếu lời êm đẹp với tha nhân thì lời ca ngợi Thiên Chúa nơi miệng tôi sẽ biến chất, có khi còn giả hình: "miệng thì nam mô mà bụng là một bồ dao găm". Cho nên để lời ca tụng, cầu xin của ta được bay tới Chúa chắc chắn nó phải không tì ố bởi những lời chia rẻ, hủy hoại hay làm mất nhân phẩm của tha nhân. Lạy Chúa, biết bao lần miệng lưỡi chúng con đã gieo đắng cay, hận thù, đau khổ. Thay vì phải loan Tin Mừng bình an thì chúng con lại đi báo tin buồn bất hạnh. Lắm khi tin của chúng con cũng giật gân lắm, nhưng xét cho cùng thứ tin đó đã xuất phát từ tính chất xấu xa, nhỏ nhoi, ích kỷ, và tự tôn của chúng con, chứ không phải khởi đi từ tấm lòng nhân ái bao la của Chúa. Từ nay, xin cho tâm hồn và đôi môi con biết rung cảm ngợi ca tình Chúa, biết đem ủi an và niềm vui đến cho mọi người, đồng thời biết mang Tin mừng yêu thương và sựï sống về với gia đình. "Ai biết làm chủ miệng lưỡi, người đó là thánh" (Gc 3:2). Chúa Nhật I Mùa Chay 04-03-2001 HÀNH TRÌNH CUỘC ÐỜI
Trước đây, mỗi lần đọc bài Phúc âm "Chúa Giêsu vào hoang địa chịu ma quỉ cám dỗ", tôi đều nghĩ đến nỗi cảm thông sâu xa mà Ðức Giêsu đã chia sẻ với nhân loại trong thân phận con người. Ðời là một cuộc chiến đấu và chọn lựa. Trong kiếp người, Ðức Giêsu cũng không ra khỏi thông lệ đó. Chắc hẳn Ngài không chỉ đơn thuần hiểu thấu nỗi đau khổ nơi thân xác lẫn tinh thần của kiếp nhân sinh, nhưng Ngài còn cảm được những khó khăn, yếu đuối, và gian nan trước bao cuộc chiến của con người với ma quỉ, xác thịt, và thế gian. Ðức Giêsu cũng trải qua cuộc chiến như ai. Ngài cũng chịu thử thách giống Ađam ngày xưa trong vườn Ðịa đàng. Ngài cũng đón chịu cám dỗ như Dân Do thái trong hoang địa. Nhưng Ađam thì sa ngã, chạy theo những lôi cuốn của giác quan và quyền lực. Dân Do thái thì bất trung, dám thử thách và chống lại Thiên Chúa khi tôn thờ "cái bụng" và thần ngoại. Riêng Ðức Giêsu, Ngài đã chiến thắng và mang lại cho con người một niềm hy vọng tươi sáng và hướng đi huy hoàng: Chọn lựa và tin tưởng Thiên Chúa, con người sẽ chiến thắng Satan. Ðể có thể làm nên cuộc chọn lựa chính xác và tin tưởng vững vàng những gì mình lựa chọn, tôi cần có sự tĩnh lặng tâm hồn. Nếu đời là một cuộc chiến và chọn lựa liên lỉ, tôi lại phải không ngừng tìm vào "hoang địa", để nơi đó luôn xác định cho lối đi, đích tới và phương tiện tiến bước của đời mình. Lần này, khi đọc lại bài Phúc âm "Chúa Giêsu chịu cám dỗ" qua lăng kính "đi vào tĩnh lặng để xác định một sự chọn lựa", tôi đón nhận được từ Lời Chúa một nguồn sinh lực mới, làm phong phú cho hành trang đức tin, trên con đường hy vọng. Chúa Giêsu đi vào hoang địa, nơi đó trong thinh lặng và nguyện cầu, Ngài xác định con đường mình sẽ đi: con đường cứu độ nhân loại. Ðích tới của việc cứu độ đó không phải là mang lại cơm bánh cho con người. Ðối với Ðức Giêsu, cứu độ hay giải phóng không phải là việc cung cấp cho người ta phúc lợi vật chất: "Người ta sống không chỉ nhờ bánh" (Lc 4:4). Ðây chính là lầm lẫn của thần học gia Leonard Boff, khi quá chú tâm đến việc giải phóng con người khỏi cái nghèo thân xác mà quên mất nỗi tiều tuỵ bần cùng của tâm linh, một sự bần cùng mà chỉ có Chân Lý Yêu Thương mới giải phóng được mà thôi. "Chân Lý sẽ giải phóng con người." Nhưng chân lý đó ở đâu nếu không phải là từ Lời Chúa. Thế nên yếu tố mà Ðức Giêsu chọn lựa để cứu độ con ngườøi chính là Lời: "Người ta sống không chỉ nhờ bánh, nhưng là nhờ vào mọi lời xuất từ miệng Thiên Chúa" (Mt 4:4). Mà Ðức Giêsu chính là Lời của Thiên Chúa. Như thế, Ngài tự khẳng định: không ai khác, không một điều gì khác, ngoại trừ Ngài, chính là con đường cứu thoát duy nhất cho nhân loại. Sau khi đã nhìn ra con đường giải thoát chân chính và duy nhất, chỉ được tìm thấy nơi Ngôi Lời Thiên Chúa, Ðức Giêsu đã làm một cuộc chọn lựa khác: chọn lựa phương tiện. Ðối với Ngài, phương tiện cứu độ không phải là phép lạ. Nhảy từ trên đỉnh cao của đền thờ xuống mà không hề hấn gì thì quả là một phép lạ cả thể đấy chứ. Không chừng nhờ phép lạ như vậy mà nhiều người sẽ phục sát đất và tin nhận mình là Ðấng Thiên Sai. Nhưng Chúa Giêsu không chọn phép lạ. Trong hoang địa, Chúa Giêsu đã xác định phép lạ không phải là phương thế tuyệt hảo để cứu độ con người. Ngài thấy trước rằng khi thiếu niềm tin, khi mất chân lý, thì phép lạ hay bất cứ một sự thần thông biến hoá nào cũng không mang lại ơn cứu độ. Trái lại, chỉ gây ra tình trạng hủy diệt nhân phẩm và làm tàn lụi sự sống con người. Thế nên, phương thế cứu độ không phải là phép lạ, nhưng là niềm tin. Một niềm tin vững vàng vào Thiên Chúa chính là phương thế mang ơn cứu độ. Biết bao lần Chúa Giêsu chữa lành què quặt, đui mù, đau yếu, phung hủi... và Ngài chẳng bao giờ tuyên bố: "Phép lạ của Ta đã cứu chữa con" nhưng luôn là: "Lòng tin của con đã cứu chữa con." Như thế niềm tin vào Chúa Giêsu chính là phương thế cứu độ bảo đảm nhất. Ðã có con đường và phương tiện di chuyển, nhưng đâu là cùng đích cho cuộc hành trình? Xin thưa: Thiên Chúa. Ðức Giêsu chỉ rõ: "Ngươi phải bái lạy Thiên Chúa, và chỉ thờ phượng một mình Người" (Lc 4:8). Trong thinh lặng và cầu nguyện của mùa Chay Thánh, người tín hữu được mời gọi nhìn lại hành trình cuộc đời. Thử hỏi, nẻo đường tôi đi có được soi sáng bởi Chân lý Tin mừng, hay chỉ là gian dối lọc lừa? Niềm tin trong tôi đang dẫm chân tại chỗ hay vững vàng tiến bước? Ðích cùng của đời tôi chính là Thiên Chúa Tình Yêu, hay miếng cơm, xác thịt, đồng tiền, uy quyền, danh dự. Có quyết tâm đi vào sa mạc lòng mình, với những hy sinh, cầu nguyện, bố thí, giúp đỡ đồng loại, Có chân thành nhìn lại và trả lời với chính mình về con đường, phương tiện, và đích tới trong đời, Có chọn lựa, tin tưởng, và phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa, Tôi mới mong có được một mùa Chay ý nghĩa và tràn đầy sức sống nội tâm, hứa hẹn một ngày Phục sinh vinh quang. Chúa Nhật II Mùa Chay 11-03-2001 NHỮNG CÂU CHUYỆN BIẾN HÌNH Tác giả cuốn sách The Seven Habits of Highly Effective People, Steve Covey, trên một chuyến xe điện ngầm tại thành phố New York vào một sáng Chúa nhật, đã thu được một kinh nghiệm sống rất quí như sau. Steve kể: Mọi người ngồi yên lặng. Vài kẻ đang đọc báo. Số khác đang chập chờn ru giấc ngủ. Số khác nữa đang suy nghĩ miên man. Thật là một cảnh yên tĩnh, thanh bình. Tàu dừng lại tại một nhà ga. Một người đàn ông và mấy đứa nhỏ, có lẽ là con ông ta, bước lên. Lập tức bầu khí yên bình bị phá tan. Những đứa bé la hét om sòm. Chúng vất đồ đạc qua lại. Thậm chí còn lấy báo của người khác vò lại ném nhau. Thật là phiền hà hết sức! Nhưng sao người cha của mấy đứa bé kia lại không có phản ứng nào? Steve cảm thấy bực bội khó chịu trước thái độ của cha con những người khách mới. Anh ta không thể hình dung ra được trên đời này lại có những kẻ vô cảm và vô tâm như gã đàn ông kia. Con cái quậy phá làm phiền biết bao nhiêu người, thế mà vẫn cứ ngồi im. Steve quan sát và thấy nhiều hành khách khác cũng có vài nếp nhăn khó chịu. Cuối cùng, khi sức kiên nhẫn đã vượt mức tối đa, Steve bèn lên tiếng với người bố: "Thưa ông, con ông đang làm phiền nhiều người lắm đấy. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông không làm gì để kiềm chế chúng một chút." Người đàn ông nhướng mắt nhìn Steve như vừa sực tỉnh lại từ một ưu tư trầm lắng. Nén tiếng thở dài, ông ta nói: "Tôi thành thật xin lỗi. Tôi cũng không biết phải làm sao. Chúng tôi mới rời khỏi bệnh viện nơi mẹ chúng nó vừa qua đời cách đây một giờ. Tôi suy nghĩ mãi mà không biết cuộc đời rồi đây sẽ ra sao khi không còn nhà tôi, và chắc là chúng nó cũng không biết chịu đựng thế nào khi chẳng còn có mẹ." Steve kết luận bài viết của mình: "Bạn có thể tượng tưởng được cảm giác của tôi lúc đó như thế nào không? Ngay lập tức tôi thấy mọi sự đổi khác. Vì thấy mọi sự đổi khác nên thái độ của tôi cũng đổi theo. Cơn khó chịu bực bội trong tôi biến mất. Thay vào đó là niềm cảm thông cho nỗi đau của người chồng mất vợ và những đứa con mất mẹ." Nhờ "thấy" được chiều sâu tâm hồn của cha con người đồng hành mà Steve đã thắng vượt những khó chịu bực bội trong mình, và sau đó đã đến với họ bằng tâm tình cởi mở chân thành. Phải chăng trong đời sống, người ta cũng cần có con mắt nội tâm để "thấy" được nền tảng và ý nghĩa của cuộc đời hầu có những thái độ và cách sống thích hợp? Phải chăng nhờ sự biến hình trên núi Tabor, các môn đệ đã "thấy" được hình ảnh phục sinh vinh quang của Ðức Giêsu, để từ đó họ bớt nao núng khi bước vào nẻo đường thánh giá và đón nhận khổ nạn với Ngài? Phải chăng đời ta và đời người cũng cần những giây phút biến hình để dung nhan Thiên Chúa, trong tha nhân và nơi mình tôi, được bừng sáng, đón nhận, và tin yêu hơn? Trong một bài báo tự thuật, Malcolm Muggeridge có kể lại việc nhóm chuyên viên truyền hình của anh ta cố gắng thực hiện một bộ phim tài liệu về Mẹ Têrêsa Calcutta. Họ muốn quay cảnh mẹ cùng các chị nữ tu Bái ái đang làm việc trong căn nhà Hấp Hối, bên cạnh những kẻ sắp từ biệt cõi đời. Thế nhưng nhóm của Malcolm đã gặp phải một vấn đề khó khăn: căn phòng họ tính quay phim hơi tối, không đủ ánh sáng cần thiết cho việc thâu hình, mà trong nhà lại không có một ổ cắm điện nào cả. Tuy nhiên, sau khi bàn thảo, họ quyết định cứ tiến hành thu hình trong cảnh tranh sáng tranh tối của căn phòng Hấp Hối. Nhưng rồi, kết quả, trước bao cặp mắt ngạc nhiên, những thước phim thâu được lại tuyệt vời quá sức tưởng tượng. Ánh sáng trong các hình ảnh đạt đến mức độ hoàn hảo. Dường như đã có một luồng sáng ấm dịu nào đó phát ra trong lúc họ đang quay phim. Malcolm, người mà sau này trở thành một Kitô hữu, lúc bấy giờ đã bị thuyết phục hoàn toàn với ý nghĩ là ánh sáng đã phát ra từ tình thương mà người ta có thể bắt gặp khắp nơi trong căn nhà Hấp Hối kia. Malcolm viết lại trong nhật ký của mình: "Chính tình yêu đã chiếu sáng, một thứ ánh sáng giống như hào quang trên đầu các thánh mà tôi từng được xem thấy." Phải chăng đó cũng là thứ ánh sáng mà Ðức Giêsu đã tỏ cho ba môn đệ thân tín là Phêrô, Gioan và Giacobê khi Ngài biến hình trước mặt các ông? Trong cuộc biến hình này, các môn đệ được nghe một lời phán bảo: "Ðây là Con Ta yêu dấu, kẻ Ta đã chọn, các ngươi hãy nghe lời Ngài" (Lc 9:35). Trong chương kế tiếp, Thánh sử Luca đã khéo léo trình bày việc "nghe lời" Ðức Giêsu không gì khác hơn là ra đi rao giảng Tin mừng Tình thương. Chương 10 đã kể việc Chúa sai 72 môn đệ lên đường truyền giáo, đồng thời cũng làm nổi bật giáo lý của Ðấng Cứu Thế qua câu hỏi "giới răn nào trọng nhất" của một luật sĩ và qua câu chuyện "Người Samari Nhân Hậu" như những minh hoạ cho giáo lý yêu thương. Cao điểm của cuộc biến hình là lời mời gọi "Hãy nghe Ngài". "Nghe Ngài" là để tiếp nối những cuộc biến hình khác, giữa cuộc đời này, bằng tình yêu. Chính nhờ tình yêu mà Mẹ Têrêsa đã biến những thân xác tanh hôi, đau yếu, bị bỏ rơi, nên những con người có đầy đủ phẩm giá và đáng tôn trọng. Chính nhờ tình yêu mà mẹ đã biến đổi tâm hồn của Malcolm, một kẻ "coi trời bằng vung", nên cung điện tươi xinh cho Thiên Chúa ngự trị. Không phải Chúa Giêsu đã từng nói: "Chính nơi điều này mà mọi người sẽ biết các ngươi là môn đệ của Ta: ấy là các ngươi có lòng mến thương nhau" (Gn 13:35)? Chính với yêu thương, cảm thông, cứu giúp, chia sẻ mà tha nhân thấy được dung mạo của Ðức Kitô trong cuộc đời của bạn và tôi. Ước gì tình yêu thương nhau sẽ biến hình đời ta và biến đổi đời người. Ước gì tình yêu đó cũng giúp chúng ta thắng vượt bao gian nan, trắc trở, và khổ giá trên đường đời, để tiến đến một ngày mai Phục sinh tươi sáng. Chúa Nhật III Mùa Chay 18-03-2001 CƠ HỘI CUỐI CÙNG Nếu hôm nay có người đến nói với bạn: "Anh chỉ còn đúng một năm nữa để sống thôi", thế bạn sẽ làm gì trong năm cuối cùng đó của cuộc đời. Bạn sẽ tự nhủ: "Ồ, ta cứ sống đi đã. Lúc nào chết tính sau", hay bạn sẽ tính toán: "Dẫu sao thì cũng còn 365 ngày nữa. Tới ngày thứ 300, ta bắt đầu chuẩn bị cũng còn kịp chán." Nếu đó là thái độ sống của bạn thì e rằng bạn đang sa lưới của Satan rồi đó. Một tinh thần và thái độ trì hoãn sẽ mang lại biết bao tai hoạ. Ðể đến ngày mai những gì nên làm hôm nay là tự đánh mất tương lai của chính mình. Không có cám dỗ nào nguy hiểm cho bằng tư tưởng: "đời còn dài, ngày mai còn kịp". Một ngụ ngôn kể lại việc ba quỷ con đến chào tướng quỷ là Satan trước khi lên trần gian tập sự. Chúng trình bày cho Satan những mưu đồ của mình trong việc phá huỷ hạnh phúc con người. Quỷ con thứ nhất đến trình rằng: "Em sẽ bảo với người ta là không có Thiên Chúa đâu. Thế nên đừng lo phải đi nhà thờ nhà thánh gì cả." Satan trả lời: "Như thế thì chẳng lừa được mấy người đâu, vì họ dư biết là có một Thượng đế, Ðấng Tối cao trên muôn loài muôn vật." Quỷ con thứ hai vội tiến lên trình bày sách luợc của mình: "Em sẽ rỉ tai người ta là không có hoả ngục đâu. Thiên Chúa là Ðấng yêu thương nên làm gì có chuyện Ngài dựng nên hoả ngục để hành hạ con người."Nghe thế Satan trầm tư một chút rồi nói: "Nhưng cách này cũng chỉ lừa được một ít người thôi, vì người ta cũng dư biết Thiên Chúa là Ðấng Công minh. Ngài sẽ thưởng phạt theo công phúc của họ. Thế nên mấy ai lại không hiểu là phải có hoả ngục để làm nơi chứa tội." Quỷ con thứ ba lại gần và tâu với thủ lãnh: "Em sẽ nói với loài người rằng không có gì phải vội vã cả, còn lâu Chúa mới trở lại." Satan suy nghĩ, đoạn gật gù và nói: "Hay lắm, bằng cách đó ngươi sẽ tiêu diệt được hàng vạn linh hồn." Thế ra, không có sự lừa dối nào tai hại cho người ta bằng ý tưởng "thời gian còn nhiều", để rồi cứ mãi đắm chìm trong đam mê tội lỗi, rối vợ rối chồng, hững hờ niềm tin, tôn thờ vật chất, sa lầy hưởng thụ. Và cuối cùng, như cây vả không sinh trái, bị chặt xuống và quăng vào lửa đời đời. Thánh Anphongsô từng viết: "Ai cũng biết rằng mình sẽ chết, nhưng khốn thay! Nhiều người nghĩ rằng sự chết còn rất xa. Họ cho rằng những người già cả, ốm yếu mà còn sống được ba bốn năm nữõa, huống chi là mình. Nhưng con hãy biết, đã có biết bao nhiêu người chết một cách bất ưng, khi họ đang ngồi, đang đi, đang ngủ... Có ai trong họ nghĩ rằng mình sẽ chết"(tác phẩm Chân Lý Ðời Ðời). Thánh Phaolô, vị tông đồ dân ngoại từng nhắc nhở các cộng đoàn tiên khởi: "Khi người ta nói: Bình an và chắc chắn! Thì bấy giờ là lúc tiêu diệt thình lình ập xuống trên họ" (1 Thes 5:3). Thế nên hãy biết tỉnh thức, sám hối, và canh tân. Chính Chúa Giêsu cũng đã phán: "Nếu các ngươi không ăn năn sám hối, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt" (Lc 13:3). Sám hối không chỉ là công việc dừng chân trên con đường tội lỗi, nhưng còn là một ý thức về thời điểm hồng ân: "Ðây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ". Sám hối là nhận rõ thời điểm của yêu thương tràn đầy. Tình thương dạt dào tràn đến nỗi Thiên Chúa còn tạo thêm cơ hội và kiên nhẫn đợi chờ: "Xin để cho nó một năm nay nữa, tôi sẽ đào đất chung quanh và bón phân, may ra nó có quả chăng" (Lc 13:8-9a). Có cảm nhận được tình Chúa yêu thương và nỗi mong chờ tha thiết của Ngài, con người sẽ có một cuộc sám hối đích thực. Sám hối là trở về trong yêu thương của Thiên Chúa, một tình yêu tự hiến và vị tha. Cảm nhận được tình yêu như thế sẽ làm phát sinh hoa trái là bao việc lành phúc đức. "Dụ Ngôn Cây Vả" không những lên án thứ cây "ăn hại và làm choán đất", nhưng còn nói rõ yếu tố kết thành bản án. Ðó là thứ cây "không sinh trái". Thế nên sám hối không chỉ là việc thôi không phạm tội nữa, song còn là việc tô điểm tâm hồn bằng những hoa trái thiêng liêng. Thiên Chúa không đến để nhìn một cây vả trơn tru, không gai góc, nhưng Ngài đến là để tìm hoa quả nơi cành của nó. "Xin để một năm nay nữa. Bằng không năm tới ông sẽ chặt nó đi". Thiên Chúa luôn cho tôi cơ hội làm lại cuộc đời. Ngài luôn mở lòng yêu thương mời gọi những ai sa ngã chỗi dậy. Thế nhưng cơ hội thì có hạn. Sẽ đến ngày chỉ còn một cơ hội cuối cùng. Nếu đời tôi còn một năm, hay một tháng, hoặc một ngày nữa thôi thì sao. Thật bất hạnh vô cùng khi tôi đánh mất cơ hội cuối cùng đó. Vì không biết đâu là cơ hội cuối, nên tôi phải xem ngày hôm nay như là "lúc thuận tiện" để nhận ơn cứu độ đời mình. Nếu ngày mai Chúa còn cho sống, thì ngày mai vẫn là một cơ hội không nên đánh mất. Thông thường, mỗi tối trước khi lên giường nghỉ đêm, sĩ tử Dòng Chúa Cứu Thế chúng tôi hay đọc Kinh "Cầu Ơn Chết Lành". Nay xin được ghi lại dưới đây như một chia sẻ chân thành: "Lạy Chúa con, con biết thật con sẽ chết. Có khi con chỉ còn sống được ít phút nữa mà thôi. Có khi đêm nay con vào giường nghỉ mà sáng mai chẳng còn chỗi dậy nữa. Cho nên Chúa dặn bảo con: dọn mình vào giường ngủ như là vào mồ chết vậy. Lạy Chúa con, con biết thật đến giờ lâm chung, con sẽ ước ao chớ gì khi sống, con chẳng có phạm tội, lại hết lòng kính mến Chúa luôn. Lại vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy. Con ước ao sống và chết trong sự kính sợ Chúa. Ôi Chúa con, con xin phó dâng linh hồn con cho Chúa, vì Chúa đã mua nó giá rất cao. Xin chớ để nó ra vô phước mà chẳng nhờ đặng Máu Thánh Chúa đã đổ ra mà cứu chuộc nó. Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp. Lạy Thánh Thiên thần hộ thủ. Lạy Thánh Bổn mạng con. Lạy các Thánh Nam Nữ trên Nước Thiên đàng. Xin hãy chuyển cầu cho con được sống trong sự kính sợ Chúa, chết trong sự yêu mến Chúa, và làm tôi Chúa ở đời này, hầu ngày sau được hưởng cùng Chúa và Ðức Mẹ trên Thiên đàng. Amen. Giêsu, Maria, Giuse. Con xin dâng lòng con, trí khôn con, và sự sống con trong tay ba Ðấng. Giêsu, Maria, Giuse. Xin giúp con trong giờ hấp hối lâm chung. Giêsu, Maria, Giuse. Xin cho con được chết bằng an trong tay ba Ðấng." Thiết tưởng, nếu mỗi tối, khi màn đêm buông xuống, trong không gian tĩnh mịch, với tâm tình cầu nguyện chân thành như trên, đời ta sẽ không thể không sinh hoa trái yêu thương. Và đương nhiên, hoa trái đó sẽ tồn tại cho đến muôn đời.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |