Home | Nguyet San | Phat Thanh | Nha Sach | Dong Chua Cuu The
Muc Vu | Bao Moi | Bao Cu | Quang Cao | Mua Bao


100 NĂM GIÁO PHẬN PHÁT DIỆM

Vũ Sinh Hiên

(Kỳ 1)

CHUẨN BỊ CHO NGÀY HỘI LỚN

Chúng tôi đặt bút viết những dòng này vào những ngày sau Tết Tân Tỵ. Miền Bắc năm nay lạnh khác thường, những đợt gió mùa đông bắc ào ạt tràn xuống, đem theo khí lạnh, có hôm 10 độ. Buổi tối, thu mình trong hai, ba lớp áo ấm mà vẫn lập cập run trên lan can khu Nhà Chung Phát Diệm, mưa phùn giăng giăng mờ mịt làm nhòa nhạt ánh đèn cao áp sáng trưng khu Nhà Thờ Lớn, từ đó vọng lại rõ mồn một tiếng đục đẽo. Cánh thợ vẫn lặng lẽ hoàn tất một hoa văn trên gỗ, đẽo cho xong một con mộng dự tính thay vào những cột kèo, đòn tay đã bị mối mọt.

Trên 100 năm rồi còn gì! Không chỉ mưa nắng, chuyện của Trời, mà còn chiến tranh nữa, chuyện của Người. "Năm 1953, súng đại bác của Pháp đã bắn trúng vào gian cuối phía đông làm gãy một tầu mái là một phiến gỗ lim lớn. Ngày 15-8-1972, máy bay Mỹ đã thả một chuỗi 8 quả bom, suốt từ Nhà Chung ra tới ao hồ mạn đàng tây. Trong số đó có 4 quả khoét những hố sâu: một quả rơi giữa sân đường kiệu Nhà Thờ Lớn về phía tây, thẳng chỗ giáp giới hai nhà thờ cạnh, làm đổ nhà thờ cạnh phía bắc và làm xiêu ghé nhà thờ phía nam, tung lên mái Nhà Thờ Lớn, cả mái trên mái dưới 36 viên đá thước. Ngói vỡ bay gần hết .". (trích bài giảng của đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo trong Thánh lễ khai mạc kỷ niệm 100 năm Nhà Thờ Lớn Phát Diệm ngày 7-10-1990). Lúc này, ngôi Nhà Thờ Lớn đã được dỡ tung mái, người ta mới nhận thấy nhiều cột kèo phải được đại tu hoặc thay mới, hơn dự đoán trước đó, phải thay mấy cây cột gỗ lim trên gian cung thánh: cũng lim, cao trên 11m, chu vi một người ôm không xuể, được mua về từ xa, rất xa, tận bên Lào. Những cây cột phía cuối nhà thờ cũng đã bị mối mọt ăn rỗng, phải đổ composite vào mới mong đứng vững với thời gian. Cả triệu viên ngói được công ty gốm Hạ Long (Quảng Ninh) thực hiện riêng cho Nhà Thờ Lớn Phát Diệm trong dịp trùng tu này. Rồi đây thì mái nhà thờ có chỗ sẽ đỏ au, tương phản với nét cổ kính của cung thánh, của Phương Ðình, của các nhà thờ phụ, của cả quần thể khu Thánh Ðường Phát Diệm; Ðức cha Giuse Nguyễn Văn Yến đã mường tượng ra quang cảnh này và thoáng nghĩ ngợi trong câu chuyện trao đổi với người phương nam, nhưng không có cách nào khác. Rồi thời gian sẽ lại phủ rêu rong như mưa gió đã làm trên 100 năm qua đối với tác phẩm kiến trúc này của cụ Sáu Trần Lục.

Thế đấy, Phát Diệm đang chuẩn bị mừng kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Giáo phận. Không phải mới từ hôm nay, mà ngay từ đầu năm 1999, khi vừa chính thức nhận chức Giám mục chính tòa Giáo phận Phát Diệm (1-11-1998) thay Ðức cha già Phaolô Bùi Chu Tạo nghỉ hưu, Ðức cha Giuse Nguyễn Văn Yến đã cho bắt đầu công trình đại tu Nhà Thờ Lớn, mà việc đầu tiên là đại tu Phương Ðình. Vào dịp giỗ lần thứ 100 cụ Sáu Trần Lục (6-7-1899), Ðức Giám mục Giáo phận đã dâng lễ tạ ơn sau khi hoàn tất việc trùng tu Phương Ðình trong vỏn vẹn có 6 tháng. Có người bỡ ngỡ: Kỷ niệm rồi cơ mà! Không, rồi là rồi 100 năm Nhà Thờ Lớn (1891-1991), chứ không phải ngày thành lập Giáo phận (19/4/1901 - 19/4/2001). Cũng có người tưởng là phải hơn 100 năm cơ đấy, Phát Riệm cơ mà, địa linh nhân kiệt, quá khứ dày cộm, chuyện Ðời chuyện Ðạo kể mãi không xong.

 

Phát Diệm: Thuở Ban Ðầu

Kể ra Tin Mừng đã được loan truyền cho Phát Diệm từ lâu, từ những ngày đầu của lịch sử Hội Thánh Công Giáo tại Việt Nam. Ðất Ðại Việt vẫn được ví như cái bao lơn nhìn ra biển Ðông, trên đó ngược xuôi từ Nam lên Bắc, từ Bắc xuống Nam các tàu buôn Bồ Ðào Nha. Trên Bắc thì có giáo phận Macao, phần đất thuộc Trung Hoa là nhượng địa của Bồâ Ðào Nha từ 1557 đến 1999. Dưới Nam thì có giáo phận Goa, phần đất thuộc Ấn Ðộ đã là nhượng địa của Bồ Ðào Nha từ năm 1510 đến 1961. Hai giáo phận xa xôi của Hội Thánh Công Giáo ở vùng Viễn Ðông này đã là cứ điểm của các thừa sai thường đáp các chuyến tàu buôn của Bồ Ðào Nha trên các hải trình lúc bấy giờ.

Từ biển cảø mênh mông nhìn vào Ðại Việt, các thừa sai đã có ý định đem Tin Mừng loan báo cho "dân ngoại" chưa hề quen biết ở dải đất chữ S này. Các ngài đã lên bờ ở vùng Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ thuộc tỉnh Nam Ðịnh, miền đất láng giềng của Phát Diệm, vào năm 1533, theo như sử sách triều Nguyễn có ghi lại trong "Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục", trước cả thời điểm thánh Phanxicô Xaviê đặt chân lên đất Nhật Bản tại Kagoshima ngày 15-8-1549. nhưng chỉ đến rồi đi, vội vã theo các con tàu mà mục đích đến đây là để buôn bán, trao đổi hàng hóa. Phải đợi sang đầu thế kỷ 17, các linh mục dòng Tên mới khởi sự đặt nền móng lâu dài cho Hội Thánh Công Giáo giữa lòng con cháu Lạc Việt. Ở Ðàng Trong với linh mục Francisco Buzomi (1615) được mệnh danh là "Tông đồ xứ Nam" và ở Ðàng Ngoài với linh mục Alexandre de Rhodes (1627) được mệnh danh là "Tông đồ xứ Bắc", Ông Tổ của chữ quốc ngữ đấy!

Cái chuyện Ðàng Trong, Ðàng Ngoài của quê hương Ðại Việt mình, sử sách thường đặt tên là thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới. Ðàng Ngoài từ biên giới Hoa - Việt đến sông Gianh do họ Trịnh làm chủ; Ðàng Trong từ bờ nam sông Gianh đến Quảng Nam và sau này mở rộng đến mũi Cà Mau do họ Nguyễn trấn đóng. Cả hai họ đều giương cao ngọn cờ phù Lê, nhưng chinh chiến tương tàn, trăm họ điêu linh trên 200 năm.

Thực tế Ðại Việt là thế, nhưng Giáo Hội không hề coi hai phần lãnh thổ là hai quốc gia riêng biệt, bởi hai bên bờ sông Gianh vẫn là một màu da, một phong tục, một ngôn ngữ, mặc dù các thừa sai vẫn phải khéo léo cư xử với đôi bên cho phải phép, tránh dị nghị. Chính vì vậy mà khi các thừa sai ở Ðàng Ngoài đề nghị giáo quyền Ðàng Trong "chi viện" một vài vị nói thông thạo tiếng Việt, cha Ðắc Lộ đã được chỉ định đảm trách nghĩa vụ này. Ngài đã không chọn giải pháp vượt sông Gianh cho gần gũi mà đã đáp tàu về Macao, rồi từ Macao đến Ðàng Ngoài để tránh nghi ngờ của các chúa. Ngài lên bờ đúng ngày lễ thánh Giuse 19-3-1627 ở cửa Bạng, Ba Làng thuộc tỉnh Thanh Hóa. Gặp lúc chiến thuyền của chúa Trịnh xuôi Nam để giao tranh với chúa Nguyễn, ngài được lệnh lưu lại Thanh Hóa để chờ chúa Trịnh, trên đường về của cuộc hành quân sẽ mời ngài cùng ra kinh đô Kẻ Chợ, tức Thăng Long Hà Nội. "Ðã qua đi hai tháng, kể từ khi chúa Ðàng Ngoài đi giao chiến với Ðàng Trong để chúng tôi ở lại trong tỉnh Thanh Hóa. Ở đây, chúng tôi đã chinh phục được 200 giáo dân, một đoàn nhỏ mọn nhưng đầy nhiệt huyết và tinh thần ơn thánh và ma quỷ phải sợ hãi" (A.de Rhodes: Lịch sử vương quốc Ðàng Ngoài, bản dịch của Hồng Nhuệ, tủ sách Ðại Kết, 1994, trang 96).

Ba Làng của Thanh Hóa với Hảo Nho của Ninh Bình lại là láng giềng gần, cho dù phải ngăn cách bởi cửa sông Ðáy, cửa Thần Phù đấy, chỉ nhắc đến tên, người xưa cũng đã rùng mình rồi:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm

Nhưng nếu một năm trước đó, 1626, thừa sai Baldinotti đã vào được Ðàng Ngoài qua cửa Ba Lạt của sông Hồng, sóng gió không kém thì cửa Thần Phù cũng chẳng phải là điều đáng ngại đối với cha Ðắc Lộ. Ngài đã đem Tin Mừng đến Hảo Nho trong khoảng thời gian này, bởi sau đó theo chúa Trịnh về kinh đô ngài chẳng còn cơ hội nào trở lại vùng này cho đến ngày bị trục xuất khỏi Ðàng Ngoài năm 1630 "Từ nơi chúng tôi làm trụ sở thứ nhất, việc rao giảng Phúc Âm được truyền bá đến vùng lân cận và các thôn xã gần đó cũng bắt đầu trở lại" (sđd trang 92). Trong số "các thôn xã gần đó" có thôn Van Nô (thường được gọi là Văn Nho, có lẽ do cách phát âm của cha Ðắc Lộ lúc đó chưa được chuẩn), sau này được gọi là Hiếu Nho, rồi Hảo Nho: "Ở một thôn bên kia sông gọi là Van Nô có một bà lão xưa kia thờ mê tín, nhưng từ khi nhận Ðức Tin với phép Rửa Tội thì hết sức nhiệt thành chinh phục mọi đồng hương. Bà đã sửa soạn được một số đông tin theo đạo thật, nhờ lời đầy lửa nóng cũng như nhờ những việc bác ái mà bà đạo đức Lina (người ta gọi bà như vậy) không ngừng thi thố." (sđd trang 93).

Hoặc có thể cha Ðắc Lộ đã dùng đường sông Thanh Hóa - Ðiền Hộ - Hảo Nho mà loan báo Tin Mừng cho Hảo Nho, nơi mà sau này sẽ thuộc Giáo phận Phát Diệm. Ngay cả đối với giáo xứ láng giềng Ðiền Hộ, tuy ngày nay thuộc giáo phận Thanh Hóa nhưng đường về Phát Diệm vẫn gần hơn. Thuộc giáo phận Thanh Hóa bởi về phương diện hành chánh, Ðiền Hộ là đất Thanh Hóa Nội. Chuyện kể rằng ngày xưa quan tỉnh Ninh Bình, còn được gọi là Thanh Hóa Ngoại, ngồi chung chiếu bạc với quan tỉnh Thanh Hóa, cháy túi, đã cắt Ðiền Hộ cho Thanh Hóa để trừ nợ. Chả biết thực hư ra sao nhưng có điều rất thật là ngày nay cửa Thần Phù chẳng còn chút vang bóng dữ dằn nào của ngày xưa. Bây giờ:

Sông Thần Phù làm ao thả cá

Núi Thần Phù lấy đá nung vôi

Ðứng trước nhà thờ Hảo Nho, rồi trên đường từ Hảo Nho vào Ðiền Hộ, ngắm các ngọn núi đá vôi hôm nay không còn lênh đênh trên biển cả nữa mà nổi lên giữa cánh đồng ranh giới Ninh Bình - Thanh Hóa, sông Càn chỉ còn là một lạch nước lững lờ, người viết cố tìm xem có thấy cái hang kỳ bí thuở xưa đã đưa Từ Thức nhập cõi tiên. Tục truyền, Từ Thức đã nhập tiên giới qua một trong những hang động của Thần Phù. Ở cõi tiên sung sướng trăm bề, năm tháng qua nhanh, nhưng vẫn nhớ cõi trần có lũy tre, bờ ao, nương dâu, nong tằm, cái đói cái nghèo thân thương da diết. Chàng trai giang hồ nhất định giã biệt cõi Tiên, giã biệt nhung lụa và người yêu tiên để về lại cõi Trần. Thế mới biết trần gian cũng hấp dẫn lắm ru! Than ôi, về đến làng chẳng ai biết chàng, lâu quá rồi, chỉ còn vài cụ già hồi trẻ có được nghe kể về một chàng Từ Thức bỏ làng đi biệt không về. Thế thôi. Chàng Từ Thức lãng mạn kia có phải người Hảo Nho, Phát Riệm không nhỉ?

Ở Thần Phù, đất lấn biển. Ở Kim Sơn - Phát Diệm cũng thế. Trước đó là ở Tiền Hải, Thái Bình, công trình của Trời và của cụ Doanh Ðiền Sứ Nguyễn Công Trứ. Trời đã cho sú, vẹt mọc dày đặc ven biển rồi phù sa sông Hồng, sông Ðáy, sông Càn đổ ra, đọng lại trong đám rễ cây chằng chịt và hòn Lẹ, hòn Thông ngoài khơi chắn lối. Người ta bảo vùng Kim Sơn là nơi có tốc độ bồi của phù sa nhanh vào bậc nhất nhì trên thế giới. Sau năm 1954, nhà nước miền Bắc cho quai đê Bình Minh 1 vào năm 1957, rồi bẵng đi một thời gian khá dài vì chiến tranh không có thời giờ quai đê Bình Minh 2 theo đúng tiến độ bồi đắp của phù sa, cứ sự thường là trên dưới 10 năm một lần. Phải đợi mãi đến 1990 mới bắt đầu quai đê Bình Minh 2. Người ta đặt tên cho hai con đê này là Bình Minh, bởi ở đây có nông trường Bình Minh, có thị trấn Bình Minh mà người viết đã được dừng chân vào một ngày đầu Xuân Tân Tỵ, tại một quán rượu ven đường, ly rượu gạo Kim Sơn ngon ngang ngửa với đế Long An Nam Bộ.

Bên trong hai con đê Bình Minh là đê Nhà Chung đã do Ðức cha Nguyễn Bá Tòng điều động thực hiện vào 1945, âu cũng là cách tạo công ăn việc làm cho dân chúng lúc mất mùa đói kém. Dọc theo con đê Nhà Chung này là những xứ đạo mà tên xứ còn nhắc đến vị giám mục Việt Nam tiên khởi. Ngày nay thì tốc độ bồi đắp của phù sa còn nhanh hơn nữa, bởi rừng đầu nguồn của các con sông đã bị phá trụi, chẳng còn gì níu kéo, các dòng sông thoải mái tải phù sa về duyên hải. Cũng có mặt tích cực: lại quai đê, quai đê bằng phương tiện cơ giới, không chỉ để trồng cói, trồng lúa mà be bờ thành những vuông tôm, thu nhập gấp 4 - 5 lần trồng lúa. Nhưng tiên khởi vẫn là công trình của cụ Doanh Ðiền Sứ, cụ cho quai đê Ðường Quan năm 1829, kêu gọi dân lập làng lập ấp, trồng cói thay sú vẹt trong khi chờ đợi mưa từ thượng nguồn về rửa phèn vùng đất mới. Khi đất đã được thuần hóa, dân chúng trồng lúa, cứ thế lấy cói lấn sú vẹt, lấy lúa lấn cói . thành Núi Vàng (Kim Sơn) dễ như chơi.

Người dân Phát Diệm - Kim Sơn, rạch ròi hơn nữa là Cồn Thoi, Tân Khẩn, Như Tân, Văn Hải, . ghi lòng tạc dạ công ơn của cụ Nguyễn Công Trứ, người đã thề rằng làm trai trong trời đất thì "phải có danh gì với núi sông". Cụ nhận lệnh vua Minh Mạng đi khai hoang lập ấp vùng duyên hải Thái Bình (Tiền Hải), Nam Ðịnh (Giao Thủy, Hải Hậu) và Ninh Bình (Kim Sơn), cụ đã để lại cho hậu thế một kho tàng vô tận, một phương thức lấn biển làm giàu, một giải pháp giãn dân cho châu thổ sông Hồng đất hẹp người đông. Ðền thờ cụ đó, ngay trên đường dẫn vào Phát Diệm, có mấy ai khi đi qua ghé vào thắp nén hương tưởng nhớ cụ? Xin Ơn Trên trả công cho cụ Doanh Ðiền Sứ, đón cụ vào Cõi Phúc vĩnh hằng như một hiền nhân đã giúp ích cho đời. Cụ qua đời tại quê nhà, Uy Viễn-Hà Tĩnh ngày 7-12-1858, đúng vào năm ở Kẻ Trừ có một tu sỹ Công Giáo được lãnh nhận chức phó tế, tức là chức sáu trước khi lên chức linh mục. Từ đó, người người gọi cụ là cụ Sáu Trần Lục. Chính nhân vật lẫy lừng này sẽ thừa hưởng gia tài của cụ Doanh Ðiền Sứ ở Kim Sơn, sẽ làm đẹp phần đất lấn biển và thiết lập cơ sở hạ tầng cho giáo phận Phát Diệm.

 

Phát Diệm Với Cụ Sáu Trần Lục

Vị "Tông đồ xứ Bắc", cha Ðắc Lộ sau lần cuối cùng bị trục xuất khỏi Ðại Việt ngày 3-7-1645 về lại châu Âu "nhưng lòng và trí lúc nào cũng để cả ở xứ Nam cũng như xứ Bắc", theo lời ngài tự thuật trong cuốn sách "Hành Trình và Truyền Giáo" (Divers Voyages et Missions) được ấn hành năm 1653. Trong một cuốn sách khác ngài lại viết: "Tôi luôn luôn quyến luyến đất nước thân yêu này, trái tim tôi hình như muốn thoát ra khỏi lồng ngực để trở về kết hiệp với các bạn đồng sự nghĩa thiết hiện nay đang ở trong ngục và với tất cả Kytô hữu tốt lành của tôi" (A.de Rhodes: Tường trình về Ðàng Trong, 1685, trang 8).

Về lại châu Ậu, ưu tư hàng đầu của ông tổ chữ quốc ngữ là vận động để có được các giám mục ngay tại Ðàng Trong và Ðàng Ngoài để kịp thời đào tạo lớp linh mục bản xứ, kế thừa và đảm trách công cuộc truyền bá Tin Mừng. Quả là một ý tưởng táo bạo và khai phá, mà phải là do một thừa sai từng trải đã vào sinh ra tử Ðàng Trong Ðàng Ngoài, đã chứng kiến các giáo đoàn vắng bóng linh mục ròng rã trong nhiều năm, lênh đênh trên biển cả với bao hiểm nguy và nhiêu khê từ Ma cao đến Cửa Bạng của các phương tiện giao thông thời bấy giờ. Chính cha Ðắc Lộ cũng đã được Vatican đề nghị lãnh nhận chức vụ này, nhưng ngài đã khiêm tốn từ chối. Có lẽ vì tên tuổi ngài đã được liệt vào . sổ bìa đen của cả Ðàng Trong lẫn Ðàng Ngoài, những miền đất mà ngài và các bạn thừa sai đã nhiều lần ra ra vào vào, ẩn ẩn hiện hiện làm bực bội các chúa chủ nhà.

Rồi thì mộng ước bấy lâu cũng thành hiện thực. Hội Truyền Giáo Paris (Société des Missions Etrangères de Paris - viết tắt là MEP) được hình thành. Ngày 29-7-1658, Ðức Thánh Cha Alexandre VII đã tấn phong giám mục cho hai linh mục của hội: cha Francois Pallu, người được chỉ định coi sóc giáo phận Ðàng Ngoài và cha Pierre Lambert De La Motte, người sẽ trông coi giáo phận Ðàng Trong. Ngay năm sau, ngày 9-9-1659, Tòa Thánh thiết lập hai giáo phận Ðàng Trong và Ðàng Ngoài, lấy sông Gianh làm ranh giới, theo hiện tình chính trị lúc đó của Ðại Việt.

Năm 1958 tại trụ sở của MEP tại Paris, người ta đã tổ chức lễkỷ niệm 300 năm ngày thành lập Hội, cũng là ngày hai hội viên đầu tiên được phong chức giám mục và được sai sang cánh đồng truyền giáo Ðại Việt. Một linh mục Việt Nam đang theo học ở Paris đã có mặt trong lễ kỷ niệm long trọng này. Ông cho biết tại buổi lễ, một linh mục của MEP đã cho hay là ngay từ hồi đó, giữa thế kỷ 17, hai Ðức cha Pallu và De La Motte đã mạnh dạn đề nghị với Tòa Thánh là không những chỉ phong chức linh mục cho các ứng viên bản xứ mà nếu cần, do hoàn cảnh thời cuộc đòi hỏi, cả chức giám mục cũng nên được trao cho người Việt Nam để đáp ứng kịp thời nhu cầu truyền giáo. Tòa Thánh đã không chấp nhận vì cho rằng trong hoàn cảnh hồi ấy, chọn được một người đủ điều kiện để làm linh mục đã là quý rồi, khó có linh mục bản xứ nào sẽ đủ trình độ học vấn (nhất là tiếng . Latinh!) để làm giám mục. Dẫu sao mãi đến năm 1933 mới có được vị giám mục tiên khởi của Hội Thánh Việt Nam: Ðức Cha J.B Nguyễn Bá Tòng của Phát Diệm.

Như vậy, kể từ khi giáo sĩ Inêkhu đặt chân lên quê hương Ðại Việt cho đến lúc có được hai giáo phận tiên khởi của Hội Thánh Công Giáo tại Việt Nam, phải mất 126 năm (1533-1659). Lúc này, Phát Diệm thuộc giáo phận Ðàng Ngoài, rồi giáo phận Tây Ðàng Ngoài, bởi chỉ 20 năm sau, 1679, Ðàng Ngoài được chia thành Ðông Ðàng Ngoài, tức Hải Phòng và Tây Ðàng Ngoài, tức Hà Nội, lấy sông Lô và sông Hồng làm ranh giới. Giáo phận Tây Ðàng Ngoài tiếp tục được chia thành nhiều giáo phận khác nữa: Nam Ðàng Ngoài (Vinh-1846), giáo phận Ðoài (Hưng Hóa-1895), giáo phận Thanh (Phát Diệm-1901), rồi sau cùng là giáo phận Thanh Hóa-1932 được tách ra từ giáo phận Phát Diệm. Từ giáo phận mẹ (Tây Ðàng Ngoài-Hà Nội) phân chia thành các giáo phận con, không có nàng con nào được chuẩn bị kỹ lưỡng và đầy đủ về cơ sở, được "làm đẹp" (Phát Diệm) như nàng Phát Diệm. Phát Diệm trực thuộc Hà Nội từ thời Ðức Giám mục tiên khởi F. Pallu đến thời Giám mục Gendreau Ðông (1892-1935), tất cả là 15 vị giám mục. Chính trong thời kỳ vị giám mục thứ 15 này, ở vùng biển Kim Sơn, cha Trần Lục đang là chính xứ Phát Diệm. Công trình kiến trúc của cụ Sáu Trần Lục đã lẫy lừng, cuộc đời của cụ cũng lẫy lừng không kém.

Cậu Phêrô Hữu - tên cha Trần Lục khi còn bé - là con thứ của một gia đình 5 trai, 2 gái, sinh năm 1825. Năm 20 tuổi, cậu vào Tiểu chủng viện Vĩnh Trị, 30 tuổi vào Ðại chủng viện Kẻ Non, 33 tuổi lãnh chức phó tế. Cùng năm này, 1858, ngày 13-7 khi cụ Sáu đang ở Lan Mát (nay là thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) với đức cha Jeantet Khiêm thì quân triều đình về vây làng. Ðây là thời kỳ cấm đạo gay gắt của triều vua Tự Ðức mà đỉnh cao là sắc lệnh phân sáp năm 1861: mỗi gia đình Công Giáo đều phải phân tán vào các làng bên lương, đàn ông, đàn bà, trẻ em sinh sống riêng theo từng giới, cha mẹ vợ chồng con cái phải ly tán mỗi người mỗi ngả. Quan quân triều đình về Lan Mát với dụng ý tìm bắt các đạo trưởng. Cụ Sáu lập kế ra nộp mình, tự xưng là đạo trưởng để đức giám mục thoát qua ngả khác. Thầy Triêm - tên mới của cụ Sáu từ khi vào Tiểu chủng viện Vĩnh Trị - bị bắt giải về Phủ Lý, bị đánh đòn dã man, buộc bỏ đạo, nhưng ngài cương quyết không chịu. Thầy bị giam ở Hà Nội 6 tháng, rồi bị đày lên Lạng Sơn. Chẳng bao lâu, các quan Lạng Sơn đã nhận ra những nét trí thức trong cư xử của người tù cụ Sáu, đã sử dụng vốn liếng học thức của thầy Triêm vào công việc sổ sách, dạy học các con quan và dành cho thầy đôi chút dễ dãi trong cuộc sống lưu đày.

Lúc này thì cơn bách hại đạo Chúa ở đồng bằng đang gay gắt, Ðức cha Retord Liêu tạ thế trong một hang núi ở Ðồng Bầu, tỉnh Hòa Bình. Hôm người viết về thăm Khoan Dụ, đứng trên đồi hướng tầm nhìn về Ðồng Bầu, cách đó độ 4 cây số đường chim bay đã hứa với lòng mình sẽ lên tận cái hang ở đó vị giám mục thứ 11 của giáo phận Tây Ðàng Ngoài đã trút hơi thở cuối cùng ngày 22-10-1858. Ðức cha già Jeantet Khiêm kế vị nhưng cũng đã đau yếu nhiều sau những cuộc di dời, trốn chạy trong rừng thiêng nước độc, ngài phong chức giám mục phó cho cha Theurel Chiêu năm 1859. Vị tân giám mục đã kể câu chuyện phong chức của mình lúc bấy giờ: "Một hôm tôi đang trốn ở trong chuồng trâu thì được lệnh đức giám mục đòi. Ngày hôm sau nữa là ngày phong chức của tôi. Nghi lễ không có gì là sang trọng. Các cố đương trốn ẩn, không ai dám thò ra nên hai cụ (tức linh mục người Việt - VSH) tạm xung chức giám mục bồi phong. Gậy của tôi là một đoạn tre chặt ở bụi gần đấy, rồi phất giấy trang kim, trên đầu quấn một cái ngù bằng rơm. Tôi không có bít tất và cũng không thể tìm đâu được đôi bao tay. Hai giờ trước khi mặt trời mọc thì lễ tất. Ðấy, lễ phong chức giám mục ở Bắc Kỳ như thế đấy!" (trích bài diễn văn của Ðức cha Nguyễn Bá Tòng về cụ Sáu Trần Lục, được đăng trong tuyển tập TRẦN LỤC, 1996, trang 530 ).

Thì ra vào thời điểm này, tại giáo phận Ðông Ðàng Ngoài, gần giáo xứ Ninh Cường, trong thổ cư của cụ trùm Chi cũng đã diễn ra lễ phong chức giám mục cho Ðức cha Berrio Ochoa Vinh vào đêm 13 rạng 14 tháng 6 năm 1858. Thánh giám mục Ochoa Vinh đã kể lại buổi lễ phong chức của ngài trong thư gửi linh mục Orge ở Manila. Cũng mũ giấy, gậy tre, nhưng có vẻ tươm tất hơn đức cha Theurel Chiêu: "Chiều áp lễ tấn phong, thấy rằng mới chỉ có độ một nửa khăn áo cần dùng trong nghi lễ, Ðức Giám Mục đại diện Tông Tòa (khi đó là đức cha Sampedro Xuyên - VSH) và con phải vội vàng hai tay kim chỉ đóng vai thợ may. Tạ ơn Chúa, tới đúng giờ đã định, chúng con cũng có ít khăn áo xứng đáng". Ai có về Ninh Cường nhớ ghé thăm khu vườn nhà cụ trùm Chi xưa kia, nay đã được cha chính xứ Ninh Cường cho dựng một nhà nguyện nhỏ để làm kỷ niệm. Về sau này, lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam còn ghi lại nhiều lễ tấn phong giám mục không kém phần độc đáo. 1960, cha Ðaminh Ðinh Ðức Trụ đã nhập vai người đạp xích lô từ Thái Bình lên Hà Nội để được Ðức Tổng Giám mục Trịnh Như Khuê tấn phong giám mục ngày 25-3-1960. Về lại Thái Bình, Ðức cha Trụ đạp xe đạp sang Bùi Chu để phong giám mục cho cha Giuse Phạm Năng Tĩnh ngày 10-11-1960. Ở Lạng Sơn, Ðức cha Phạm Văn Dụ chỉ được tấn phong "chui" sau 19 năm đợi chờ nhì nhằng, kể từ khi được Tòa Thánh bổ nhiệm giám mục chính tòa Lạng Sơn. Cũng là nhờ cuộc di tản khỏi Lạng Sơn về Bắc Ninh trong cuộc chiến với Trung Quốc năm 1979.

Giám mục được phong "chui" thì linh mục tại sao lại không nhỉ? Nên lắm chứ. Nhân cụ Sáu được dành cho nhiều dễ dãi trong đi lại, Ðức cha Jeantet Khiêm sai người bí mật mang lên Lạng Sơn cho thầy Triêm một bức thư và 3 nén bạc. Bức thư là chỉ thị của giám mục gọi cụ Sáu về miền xuôi để được phong chức linh mục. Còn 3 nén bạc để thầy Sáu tùy nghi sử dụng quà cáp cho quan và làm lộ phí. Thế là ung dung trên lưng ngựa, cụ Sáu về Kẻ Trừ (nay là giáo xứ Từ Châu, giáo phận Hà Nội) lãnh sứ vụ linh mục, rồi lại đường hoàng quay về trình diện nơi lao tù. Cứ như là một chuyến về thăm quê vậy thôi.

Trong thời gian bị quản thúc, cụ Sáu - linh mục Triêm - cha Trần Lục đã được nhà cầm quyền địa phương trao cho việc chỉ huy quân dân Lạng Sơn chống lại cuộc vây hãm của Lê Phụng, người tự nhận là hậu duệ nhà Lê, đứng lên khôi phục ngai vàng xưa và tung hoành thành công ở một số tỉnh vùng trung du, nhưng Lê Phụng thất bại ở Lạng Sơn. Công đầu trong chiến thắng này phải là của linh mục - tù nhân Trần Lục. Cụ Sáu đã minh oan cho Ðức cha Retord Liêu, cho các giáo sĩ và tín hữu Công Giáo, bởi vì trong tuyên truyền của Lê Phụng, y đã khoác lác là được sự hỗ trợ của Giáo Hội Công Giáo chống lại triều đình.

Lệnh tha đạo năm 1862 được vua Tự Ðức ban hành, các tù nhân ở Lạng Sơn, trong đó có cha Trần Lục được về quê cũ. Cha Trần Lục trình diện Ðức Giám mục Jeantet Khiêm ở Kẻ Sở và nhận bài sai đi coi các xứ ở Thanh Hóa. Ðến 1865, ngài về làm chính xứ Phát Diệm. Ðây sẽ là mảnh đất để nhân vật lẫy lừng này thi thố tài năng giúp Ðạo giúp Ðời.

Ở Phát Diệm, linh mục chính xứ Trần Lục, ở tuổi 40, ngay từ buổi đầu đã âm thầm hoạch định một đồ án tổng thể cho khu vực này. Trong suốt 10 năm trời, cụ tập trung vật liệu để chuẩn bị xây dựng những công trình kiến trúc như ta thấy ngày hôm nay. Tuy nhiên, cụ Sáu vẫn không thể hoàn toàn dốc hết tâm lực cho công việc của một linh mục chính xứ. Ngoài việc lo chống lại bọn giặc cướp đang quấy phá vùng biển Kim Sơn, cụ Sáu còn được mời tham gia phái đoàn của đức cha Sohier Bình do vua Tự Ðức cử ra Hà Nội điều đình với Pháp, để trả lại các tỉnh mà quân đội của Francis Garnier đã chiếm đóng. Cụ được vua Tự Ðức tưởng thưởng 1 kim khánh và 5 kim tiền. Ðến thời vua Ðồng Khánh, cụ lại được ban sắc phong làm Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ đi trấn an nhân dân các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, do những lộng hành của phong trào Văn Thân. Từ đó, người ta gọi cha Trần Lục là "cụ Lớn Khâm". Ðến 1899, đang lúc nằm trên giường bệnh, cụ lại nhận được sắc của vua Thành Thái phong Thượng Thư hàm Bộ Lễ. Sau cùng là vào 1925, tức 26 năm sau khi cụ đã qua đời, vua Khải Ðịnh truy phong cụ là Nam Tước Phát Diệm.

Ðược 4 triều vua trân trọng, nhất là dưới triều Tự Ðức sau những đắng cay ngục tù, công dân Trần Lục vẫn hoan hỷ đưa vai gánh vác việc nước mà không chút ân oán nhỏ nhen, nhưng sau đó lại vội vã quay về Phát Diệm. Chỗ của cha Trần Lục là ở đây trong cương vị mục tử, chứ không phải để làm quan. Từ chối làm quan, đơn giản chỉ vì cụ Sáu là tu sỹ, lại là tu sỹ Công Giáo. Những năm tháng đã qua đều minh chứng rằng người Công Giáo không được trọng dụng trong cơ cấu của triều đình. Hơn nữa cụ Sáu không thuộc giới khoa bảng, cụ có học triết lý thần học là để thực thi sứ vụ linh mục. Có ra làm quan trong giai đoạn ngắn chỉ là để vâng lệnh vua.

Về Phát Diệm, cụ Sáu làm gì nhỉ? "Ðể thấy công lao và tài ba của ngài, chúng tôi xin lưu ý mọi người là: thửa đất chúng ta đang ngồi đây, bấy giờ là đất phù sa, bãi lau, bãi sậy, nói tắt là bãi biển. Ðể xây cất ngôi nhà thờ này, ngài đã mất 10 năm sắm vật liệu, gỗ lấy ở Bến Thủy (Nghệ An) cách 200km, hoặc từ Hồi Xuân (Thanh Hóa) đem về làm cột. Nhà Thờ Lớn có 48 cây cột, trong đó có 16 cây cao tới 11m, nặng tới 7 tấn. Ðá thường thì lấy ở Thiện Dưỡng cách 30km, thứ quý lấy ở Núi Nhôi - Thanh Hóa cách 70km, có phiến nặng trên 20 tấn. Gỗ đá ấy cứ chất lên bè mảng chở về, tới nơi chờ nước thủy triều lên thì kéo lên bến, từng trăm bè nối đuôi nhau mà vào" (trích bài giảng của Ðức cha Bùi Chu Tạo trong Thánh lễ kỷ niệm 100 năm Nhà Thờ Lớn Phát Diệm). Và cứ như thế trên khu đất rộng 100m dài 200m, có tường bao bọc chung quanh, cụ Sáu đã cho xây dựng Nhà Thờ Lớn, Phương Ðình, 4 nhà thờ cạnh, Nhà Thờ Ðá, 3 hang đá nhân tạo và một hồ lớn ngay trước Phương Ðình, mà ở giữa hồ là tượng Chúa Giêsu Vua.

Công trình này gợi ý cho Ðức cha Gendreau Ðông chia địa phận. Ngài sai Ðức Giám mục phó giáo phận Tây Ðàng Ngoài là Ðức cha Marcou Thành về tham quan toàn cảnh Nhà Xứ Phát Diệm và dò ý cụ Sáu về việc thiết lập một tòa giám mục tại đây. Cụ Sáu vô cùng sung sướng, có lẽ đây là nỗi vui mừng lớn nhất vào những năm tháng cuối đời cụ, vui hơn cả khi lãnh nhận chức Thượng Thư hàm Bộ Lễ. Chỉ chưa đầy 2 năm sau, ngày 19-4-1901, Ðức Thánh Cha Lêô XIII ban hành sắc chỉ thành lập giáo phận Bắc Kỳ Duyên Hải (Tonkin Maritime), thường được gọi đơn giản là giáo phận Thanh, tách ra từ giáo phận Tây Ðàng Ngoài (Hà Nội) và sẽ được gọi là Giáo phận Phát Diệm từ 1924, gồm hai tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa và huyện Lạc Thủy thuộc tỉnh Hòa Bình. Ðến 1932, Giáo phận Thanh Hóa được tách ra khỏi Giáo phận Phát Diệm. Từ ấy, Phát Diệm chỉ còn bao gồm tỉnh Ninh Bình và huyện Lạc Thủy của tỉnh Hòa Bình.

Ðức Giám mục tiên khởi của Giáo phận Phát Diệm không ai khác hơn chính là vị giám mục phó của giáo phận Tây Ðàng Ngoài, Ðức cha Marcou Thành, người đã về chơi Phát Diệm và đã "chấm" Phát Diệm làm Tòa Giám mục của Giáo phận mới.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com