Home | Nguyet San | Phat Thanh | Nha Sach | Dong Chua Cuu The Ðức Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II: Tổng Thống George W. Bush (Bản dịch của Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL)
Tôi hân hoan được cùng với tất cả các nhà lãnh đạo Giáo Hội và các vị quí khách tham dự cuộc khánh thành Trung Tâm Văn Hóa hôm nay. Tôi rất lấy làm vinh dự được có mặt nơi đây. Khi Hồng Y Wojtyla đến diễn đàn tại Viện Ðại Học Công Giáo đây năm 1976, có mấy ai nghĩ rằng cuộc đời của Ngài sẽ diễn ra như thế nào, hay cuộc sống của Ngài sẽ hình thành lịch sử ra sao. Năm 1978 hầu hết thế giới chỉ biết Ngài như là một vị Giáo Hoàng Người Balan vậy thôi. Có những dấu hiệu cho thấy một cái gì đó khác hẳn và đặc biệt hơn thế nữa. Sau khi nghe vị Tân Giáo Hoàng ban phép lành đầu tay ở Quảng Trường Thánh Phêrô, một phóng viên đã đánh điện về cho vị chủ bút của mình như sau: "Ðây không phải là một vị Giáo Hoàng từ Balan, mà là một vị Giáo Hoàng từ Galilêa". Từ ngày ấy đến nay, đời sống của vị Giáo Hoàng này đã viết lên một trong những câu truyện khởi hứng nhất trong thời đại chúng ta. Chúng ta nhớ lại cuộc thăm viếng của vị Giáo Hoàng này lần đầu tiên ở Balan năm 1979, thời điểm đức tin đã trở thành sức kháng cự và bắt đầu làm sụp đổ nhanh chóng chủ nghĩa cộng sản đế quốc. Vị linh mục trẻ trung, hiền lành, một thời đã bị Ðảng Nazi bắt lao động cưỡng bức, đã trở thành đối thủ của chính thể chuyên chế bạo tàn và là một chứng nhân cho niềm hy vọng. Vị lãnh đạo cuối cùng của Liên Bang Sô Viết [Mikhail Gorbachev] đã gọi Ngài là "thẩm quyền luân lý đệ nhất trên hoàn cầu". Chúng ta hãy nhớ việc Ngài đến thăm một tù nhân, an ủi con người đã bắn ngài. Bằng việc lấy thứ tha đáp lại bạo lực, Vị Giáo Hoàng này đã trở thành một biểu hiệu của sự hòa giải. Chúng ta hãy nhớ lần vị Giáo Hoàng viếng thăm Manila vào năm 1995, ngỏ lời với một đám đông nhất trong lịch sử loài người, cả hơn 5 triệu người nam, nữ và trẻ em. Chúng ta hãy nhớ rằng, 50 năm trước đây, là một linh mục, ngài đã di chuyển bằng xe ngựa đến dạy dỗ trẻ em ở các làng mạc hẻo lánh. Giờ đây, ngài đã hôn đất của 123 nước và đang dẫn dắt đoàn chiên cả tỉ người tiến vào ngàn năm thứ ba. Chúng ta nhớ lại vị Giáo Hoàng viếng thăm nước Israel với sứ mệnh đem lại sự hòa giải và lòng tương kính nhau giữa Kitô hữu và người Do Thái. Ngài là vị Giáo Hoàng tân thời đầu tiên vào trong hội đường của người Do Thái, hay đến viếng thăm xứ sở của người Hồi Giáo. Ngài luôn luôn hòa hợp việc thực hành khoan dung với nhiệt huyết bảo vệ chân lý. Chính Giáo Hoàng Gioan Phaolô thường nói: "Không có gì là ngẫu nhiên đối với dự án của Ðấng Quan Phòng". Và có thể đó là lý do tại sao con người này đã trở thành vị Giáo Hoàng với một sứ điệp mà thế giới chúng ta cần phải lắng nghe. Ðối với người nghèo khổ, bệnh hoạn hay hấp hối, Ngài mang đến cho họ sứ điệp về phẩm vị con người cũng như về tình liên đới với nỗi khổ đau của họ. Cho dù họ có bị người đời quên lãng, ngài cũng nhắc nhủ họ là Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi họ. Ngài đã nói ở South Bronx thế này: "Anh chị em đừng chán nản tuyệt vọng. Thiên Chúa để ý đến đời sống của anh chị em, và Ngài luôn săn sóc anh chị em, kêu gọi anh chị em đến những điều tốt lành hơn, kêu gọi anh chị em hãy sống thắng vượt hơn". Ðối với thành phần giầu sang phú quí, vị Giáo Hoàng này mang đến cho họ sứ điệp là giầu sang phú quí mà thôi chỉ là một thứ thỏa mãn giả tạo. Ngài dạy rằng, của cải thế gian này chẳng là gì nếu không có lòng nhân ái. Chúng ta, mỗi người và hết mọi người trong chúng ta, được kêu gọi chẳng những đi theo đường lối của mình mà còn phải mở đường cho người khác đi nữa. Ðối với thành phần có quyền lực, vị Giáo Hoàng này mang đến cho họ sứ điệp về công lý và nhân quyền. Và sứ điệp này đã làm cho các nhà cầm quyền độc tài phải lo sợ và sụp đổ. Sứ điệp của Ngài không phải là một thứ lực lượng quân đội hay một thứ kỹ thuật hoặc một thứ giầu sang. Nó là một quyền lực không thể ngờ được của một con trẻ trong máng cỏ, của một con người trên thập giá, của một người đánh cá đơn sơ đã mang sứ điệp hy vọng đến Rôma. Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mang sứ điệp giải phóng ấy đến tận cùng thế giới. Khi đến Cuba năm 1998, Ngài đã được chào mừng bằng các biểu ngữ với hàng chữ: "Fidel là Cách Mạng!" Thế nhưng, như sử gia của vị Giáo Hoàng này nhận định: "Trong vòng 4 ngày sau đó, Cuba đã xảy ra một cuộc cách mạng khác". Chúng ta tin tưởng cuộc cách mạng hy vọng được vị Giáo Hoàng đây khởi sự ở quốc gia này sẽ sinh hoa kết trái trong thời đại chúng ta. Phần chúng ta có trách nhiệm tranh đấu cho phẩm giá của con người, cũng như cho tự do tôn giáo, vào bất cứ khi nào chúng bị chối bỏ, từ Cuba đến Trung Hoa tới Nam Sudan. Còn tại xứ sở của chúng ta đây, chúng ta không được coi thường những lời vị Giáo Hoàng này ngỏ với chúng ta. Trong cuộc viếng thăm Hoa Kỳ lần thứ tư, Ngài đã khôn ngoan và cảm xúc nói về những điểm mạnh và điểm yếu của chúng ta, về những thành quả và nhu cầu của chúng ta. Vị Giáo Hoàng này đã nhắc nhở chúng ta rằng, trong khi tự do là đặc điểm của quốc gia chúng ta thì trách nhiệm phải là đặc điểm của đời sống chúng ta. Ngài thách thức chúng ta làm sao để có thể sống đúng với khát vọng của mình, trở thành một xã hội công bằng chính trực, nơi đón nhận tất cả mọi người, coi trọng mọi người và bảo vệ mọi người. Và khi lên tiếng bênh vực văn hóa sự sống, Ngài đã nói một cách hùng hồn hơn bao giờ hết. Văn hóa sự sống là một thứ văn hóa đón nhận, một thứ văn hóa không bao giờ mang tính cách loại trừ tẩy chay, không bao giờ phân tranh chia rẽ, không bao giờ thất vọng chán chường và luôn luôn khẳng định tính cách thiện hảo của sự sống qua mọi thời điểm của nó. Với văn hóa sự sống, chúng ta phải dành chỗ cho người xa lạ. Chúng ta phải an ủi kẻ bệnh tật. Chúng ta phải chăm sóc người già yếu. Chúng ta phải tiếp đón người di dân. Chúng ta phải dạy cho con cái chúng ta tỏ ra dịu dàng với nhau. Chúng ta phải yêu thương bênh vực trẻ em vô tội đang chờ ngày chào đời. Trung Tâm được chúng ta khánh thành hôm nay đây đang cử hành sứ điệp của vị Giáo Hoàng này, cử hành niềm an ủi cũng như nỗi thách đố của nó. Nơi đây là biểu hiệu cho phẩm giá con người, cho giá trị của mọi sự sống cũng như cho chân lý rạng ngời. Nhất là, theo lời của Ngài Giáo Hoàng, nó biểu hiệu cho "niềm vui tin tưởng giữa một thế giới trăn trở". Tôi xin cám ơn Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn Washington làm địa điểm cho Trung Tâm này. Nó mang lại niềm hãnh diện và thỏa đáng nhu cầu cần thiết. Chúng tôi xin cám ơn về sứ điệp này. Chúng tôi cũng xin cám ơn vị sứ giả, vì tấm lòng tha thiết riêng tư của cùng với sức mạnh mang tính ngôn sứ của Ngài; vì tư cách tốt lành cùng với tính cách thanh liêm chính trực của Ngài; vì các tặng ân về tinh thần và trí tuệ Ngài chia sẻ; vì lòng can đảm về lãnh vực luân lý của Ngài, chống lại chế độ chuyên chế bạo tàn cũng như chống lại niềm tự mãn của chúng ta. Vị Giáo Hoàng này bao giờ cũng chỉ cho chúng ta thấy được những gì là tồn tại và thấy được một tình yêu giải cứu. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa về con người hiếm có này, một người tôi tớ của Thiên Chúa và là một anh hùng của lịch sử. Tôi cũng xin cám ơn tất cả mọi quí vị đã xây cất lên Trung Tâm của lương tri và phản tỉnh tại thủ đô của đất nước chúng ta đây. (L’Osservatore Romano, tuần san ấn bản Anh ngữ, 28/3/2001) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |