Home | Nguyet San | Phat Thanh | Nha Sach | Dong Chua Cuu The 100 NĂM GIÁO PHẬN PHÁT DIỆM Vũ Sinh Hiên (Kỳ 2 và hết)
Ðức Cha Alexandre Marcou, tên Việt là Thành, quốc tịch Pháp, sinh năm 1857, thụ phong linh mục năm 1879. Sang Việt Nam năm 1880, thụ phong giám mục giáo phận Tây Ðàng Ngoài (Hà Nội) năm 1895 và chính thức nhận giáo phận Phát Diệm từ ngày 8-2-1902. Ngài được thừa hưởng gia tài kiến trúc vĩ đại của cụ Sáu để lại (và đã hoan hỉ "bàn giao" lúc còn sinh thời). Nhưng công việc đặt nền móng cho một giáo phận thì vẫn phải là khởi đầu. Chỗ thờ phượng thì đã có, còn cần phải xây dựng các cơ sở sinh hoạt và đào tạo. Ngài cho xây Nhà Chung Phát Diệm, Ðại chủng viện Thượng Kiệm, lập trường Thử lúc đầu ở Phát Diệm, sau được dời vào Ba Làng, xây bệnh viện Phú Vinh và Tiểu chủng viện Phúc Nhạc. Song song với việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, Ðức Cha Thành vẫn đặt lên hàng đầu việc tổ chức các sinh hoạt thiêng liêng đạo đức. Ngài phát động phong trào học và thi kinh bổn (mà ngày nay được gọi là các lớp giáo lý, các khóa học Kinh Thánh), tái lập Hội Mân Côi và khuyến khích việc xưng tội rước lễ. Ngài tổ chức đại hội Thánh Thể từ ngày 27 đến 29 tháng 4 năm 1928 với sự hiện diện của các Ðức Giám mục Hà Nội, Hưng Hóa, Bùi Chu và khoảng trên 50.000 giáo dân tham dự, đặc biệt là cuộc rước kiệu Thánh Thể từ Hướng Ðạo về Phát Diệm. Ngài cho cải tổ dòng Mến Thánh Giá, mời các nữ tu dòng Ðức Bà Truyền Giáo về đảm trách bệnh viện Phú Vinh, mời các sư huynh dòng thánh La Salle về dạy học. Ngài yêu cầu để được mở các trường tư thục Công Giáo và khi đã được nhà cầm quyền chấp thuận với điều kiện là ban giám đốc và các giáo viên phải có bằng sơ học yếu lược, ngài khuyến khích các cha, các thầy đại chủng sinh và kẻ giảng, các chú ở Tiểu chủng viện, các nữ tu đi thi lấy bằng "ngoài đời." Ðiều nổi bật hơn cả là Ðức Cha Marcou Thành, sau khi đã đặt nền móng cho giáo phận mới vùng duyên hải Bắc Kỳ này, đã tấn phong vị giám mục phó, Ðức Cha Louis de Cooman (tên Việt là Hành), năm 1918, đang đảm trách chức vụ giám đốc Ðại chủng viện Thượng Kiệm. Trước và sau lễ tấn phong này là hàng loạt các thầy Ðại chủng sinh được gửi đi du học, sau này đã là những trụ cột của Phát Diệm: đi Pénang thì có Ðức Cha Phan Ðình Phùng, cha chính Mai Học Lý, cha chính Vũ Hiếu Cúc; đi Roma thì có Ðức Cha Phạm Ngọc Chi, cha Ðinh Ngọc San, cha Lãng, . Ðích thân Ðức Giám mục giáo phận đã truyền chức gần 100 linh mục trong suốt nhiệm kỳ 33 năm của ngài (1902-1935). Phát Diệm cũng còn là quê hương của một số đông các giám mục trong Hội Thánh Việt Nam: Ðức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng, các giám mục Gioan Phan Ðình Phùng, Phaolô Bùi Chu Tạo, Phêrô Phạm Ngọc Chi, Phêrô Phạm Tần, Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, Phaolô Nguyễn Minh Nhật, Giuse Nguyễn Phụng Hiểu, Ðức Giám quản Antôn Trần Lộc, Ðức Viện phụ Tađêô Ðiện và các Ðức ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ, J.B Nguyễn Gia Tường, Ðaminh Vũ Văn Thiện, Phanxicô Trần Văn Khả và Phaolô Nguyễn Quang Thiều. Mới đây, có thêm Ðức Cha Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, giám mục Ðà Nẵng. Có thể phải chăng là do thôi thúc của Thánh Linh, vị giám mục dầy công với Phát Diệm đang ấp ủ một toan tính hợp tình hợp lý: chia Ðịa phận Phát Diệm làm hai, đặt khung cảnh tòa giám mục rất Việt Nam này vào tay một vị giám mục Việt Nam. Thì đây, một tín hiệu: sau hàng loạt các cố chính (ngày nay gọi là tổng đại diện) là các thừa sai người ngoại quốc thì vào năm 1932, Ðức Cha Marcou Thành đã đặt cha Phêrô Hoàng Duy Côn làm cha chính địa phận, cha tổng đại diện người Việt đầu tiên của giáo phận Phát Diệm và có lẽ của cả nước. Với việc vị giám mục Việt Nam tiên khởi là Ðức Cha J.B Nguyễn Bá Tòng về coi sóc giáo phận, kể từ đây tất cả các cha chính địa phận của Phát Diệm đều là người Việt Nam. Sau cha Hoàng Duy Côn là các cha chính Gioan Phan Ðình Phùng, Luca Mai Học Lý, Giuse Nguyễn Xuân Thu, Phaolô Nguyễn Ðức Liêm, Giuse Lê Quý Thanh, Giuse Nguyễn Thiện Khuyến, Phêrô Vũ Hiếu Cúc, Phaolô Nguyễn Quang Thiều. Linh mục tổng đại diện hiện nay là cha Giuse Vũ Công Hoàng, chính xứ Văn Hải. Ðể chuẩn bị trao quyền giám mục giáo phận Phát Diệm cho Ðức Cha J.B Nguyễn Bá Tòng, từ năm 1932 Ðức Cha Marcou Thành đã cho "di tản" các linh mục người Pháp vào Thanh Hóa công tác tại giáo phận mới này sẽ được tách ra khỏi giáo phận Phát Diệm vào ngày 7-5-1932 và sẽ đặt dưới sự coi sóc của Ðức Cha De Cooman Hành. Bản thân Ðức Cha Marcou Thành cũng sẽ chính thức trao quyền cho Ðức Cha phó J.B Nguyễn Bá Tòng vào năm 1935 và về nghỉ hưu trong Thanh Hóa. Thế nhưng khi ngài qua đời ngày 7-12-1939, Phát Diệm đã đón vị chủ chăn nhân ái này về an nghỉ tại Cung Thánh Nhà Thờ Lớn, để giáo dân Phát Diệm có dịp thường xuyên kính viếng. Vị giám mục tiên khởi người Việt Nam vốn gốc Nam bộ, sinh ngày 7-8-1868 tại Gò Công và đang là chính xứ Tân Ðịnh khi được chọn làm giám mục và được tấn phong tại Roma cùng với 3 vị giám mục Trung Quốc và 1 vị người Ấn Ðộ ngày 11-6-1933 do chính Ðức Thánh Cha Pio XI. Ðức Cha J.B Nguyễn Bá Tòng làm giám mục phó Phát Diệm trong 2 năm và làm giám mục chính kể từ ngày Ðức Cha Marcou vào Thanh Hóa nghỉ hưu, năm 1935. Vị giám mục người Việt Nam nổi tiếng là một nhà hùng biện, giọng nói oai phong, lời văn trau chuốt, nhất là khi ngài nói tiếng Pháp mà ngay chính người Pháp cũng ít ai sánh kịp. Ngài đã thuyết giảng tại Ðền thờ Thánh Phêrô tại Roma, Nhà thờ Ðức Bà ở Paris thì quả là xứng đáng khi tiếng ngài lại vang vọng trong ngôi Nhà Thờ Lớn của cụ Sáu Trần Lục. Vị giám mục từ miền Nam ra đã bắt tay ngay vào việc mở mang giáo phận của đồng bằng Bắc bộ. Trước tiên là các công tác mục vụ. Chỉ 1 năm sau ngày về Phát Diệm, Ðức Cha Tòng đã phong chức linh mục cho cha Giuse Lê Quý Thanh, người sau này sẽ là giám mục phó của Ðức Cha Bùi Chu Tạo. Ba năm sau, 1937, ngài phong chức linh mục cho cha Phaolô Bùi Chu Tạo, người sẽ là giám mục vác khổ giá của Phát Diệm. Và cứ thế, trong 10 năm coi sóc giáo phận (1933-1943), ngài đã tung vào cánh đồng Phát Diệm trên 50 thợ gặt, trong đó có nhiều vị cừ khôi, được ngài cử đi học ở Roma hoặc Ðại chủng viện Xuân Bích - Hà Nội. Cũng chính ngài đã cho thành lập nhà dòng kín Trì Chính, nhà tập dòng Mến Thánh Giá Lưu Phương và xây hội quán phía tây Nhà Thờ Lớn, dùng cho các buổi trình diễn văn nghệ, chiếu bóng hoặc diễn tuồng thương khó. Ðức Cha Tòng cho lập hội Nghĩa Binh Thánh Thể quy tụ các em thiếu niên, lập phong trào Công Giáo Tiến Hành dành cho thanh niên, hội Tông Ðồ Cầu Nguyện dành cho người lớn và hội Các Bà Từ Thiện dành cho bậc hiền mẫu. Về mặt xã hội, nương theo đường lối của cụ Doanh Ðiền Sứ Nguyễn Công Trứ, Ðức Cha Tòng đã đề nghị với chính phủ để được khẩn hoang khu Cồn Thoi, quai đê Kim Tùng (cũng có người gọi là đê Nhà Chung), lấn biển làm ruộng, kêu gọi dân chúng khắp nơi về lập ấp, thành lập các xứ Tân Khẩn, Tùng Thiện và Cồn Thoi (lúc đầu được gọi là Kim Tùng, giữ tên Ðức Giám mục như một cử chỉ tri ân). Khi nhận chức vụ giám mục chính giáo phận, Ðức Cha Nguyễn Bá Tòng đã đặt cha Gioan Phan Ðình Phùng làm cha chính địa phận, rồi không bao lâu sau cất nhắc ngài lên làm giám mục phó, ngày 3-12-1940. Cứ những tưởng là một mai đây, Phát Diệm sẽ được trao cho người Phát Diệm (Ðức Cha Phùng người Trì Chính), nhưng than ôi, vừa mới nhận chức giám mục chính được 5 tháng, kể từ 27-12-1943, thì nhân một buổi kinh lý nhà dòng Châu Sơn, ngày 28-5-1944, Ðức Cha Phan Ðình Phùng qua đời đột ngột lúc tuổi đời mới 53. Qua đời ở Châu Sơn, vậy phải có một người Châu Sơn "đổi mạng," hy sinh làm giám mục Phát Diệm. Người ấy sẽ là Ðức Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ, vị giám mục dòng đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam, vóc dáng khắc khổ, đúng chuẩn dòng khổ tu, xuất hiện vào một thời điểm buộc vị chủ chăn phải đương đầu với nỗi đoạn trường của Tổ Quốc và Dân Tộc.
IV. PHÁT DIỆM - THEO VẬN NƯỚC NỔI TRÔI Cách Mạng Tháng Tám nổi lên và nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời. Giữa những ngổn ngang của Ðất Nước mới giành được chính quyền từ tay thực dân Pháp, nội tình vẫn còn hỗn loạn, lễ tấn phong giám mục cho cha Tađêô Lê Hữu Từ được tổ chức long trọng tại Phát Diệm ngày 28-10-1945. Hiện diện trong buổi lễ có phái đoàn chính phủ VNDCCH do thủ tướng Phạm Văn Ðồng cầm đầu, trong đoàn còn có cố vấn Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Ðại vừa thoái vị và được ông Hồ Chí Minh mời làm cố vấn chính phủ. Cũng phải kể đến sự có mặt của ông Võ Nguyên Giáp, khi đó là thành viên trong nội các chính phủ. Khi Pháp quay trở lại chiếm nước Việt Nam, chính phủ Việt Minh kêu gọi toàn dân tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống. Phát Diệm dưới sự lãnh đạo của Ðức Cha Lê Hữu Từ đã không chấp hành lệnh tiêu thổ, tuy vẫn cương quyết kháng chiến chống Pháp và nằm trong Mặt Trận Việt Minh. Ðể tranh thủ đồng bào Công Giáo Bùi Chu - Phát Diệm, đích thân CT Hồ Chí Minh về Phát Diệm vấn an vị tân giám mục vào cuối năm 1946. Trong cuộc gặp gỡ này, cả chủ lẫn khách nói năng dè chừng để tìm hiểu nhau. Tuy vậy trong chỗ riêng tư, Ðức Cha Lê cũng đã tỏ ra khá thẳng thắn: "Tôi và toàn dân Công Giáo Phát Diệm đoàn kết và triệt để ủng hộ cụ trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giành độc lập cho Tổ Quốc Việt Nam, nhưng nếu cụ là Cộng Sản, thì tôi chống cụ và chống cụ từ phút này." CT Hồ Chí Minh thì vẫn điềm đạm lấp lửng: "Thưa cụ, toàn dân đoàn kết và đã đoàn kết chống thực dân Pháp, giành độc lập cho Việt Nam thì thế nào cũng thắng. Ðến khi toàn dân toàn thắng thì sẽ có cuộc phổ thông đầu phiếu, lúc đó toàn dân sẽ định đoạt, cụ và tôi khỏi phải lo" (theo lời kể của ông Nguyễn Ðức Hiệp, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Kim Sơn, đăng trong Kỷ yếu Phát Diệm 1891-1991, trang 207). Mới nghe qua thì quả là đúng quá đi chứ. Ý dân là ý Trời qua cuộc phổ thông đầu phiếu, mọi quốc gia dân chủ trên thế giới đều đi theo quy trình này. Thế nhưng, phải nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Có cuộc phổ thông đầu phiếu nào mà cử tri đi bầu tới 99,9%, nếu lỡ quên, hoặc cố tình quên (không đi bầu cũng là một cách thể hiện thái độ chính trị trong sinh hoạt dân chủ) thì loa phóng thanh réo tên làng trên xóm dưới. Cái tiếng loa trong sinh hoạt dân chủ ở nước ta nó rùng rợn vô cùng nhất là nếu tiếng loa lại kêu đúng tên mình. Số cử tri là thế, lại bầu cho một danh sách ứng cử viên đã được "Hội nghị liên tịch hiệp thương" thì chuyện toàn dân kia đã biến thành của Ðảng (lại là độc Ðảng nữa chứ), quả là đe dọa. Ðức Cha Lê Hữu Từ thừa hiểu điều này, bởi một trong những thư Luân lưu nổi tiếng nhất trong số 96 lá thư của Ngài gửi toàn giáo phận là lá thư số 39 ngày 17.4.1949 về "Vấn đề Cộng sản." Sở dĩ Ðức Cha Lê đã viết nhiều thư như vậy trong thời gian vắn vỏi chín năm coi sóc giáo phận Phát Diệm là vì do chiến tranh, Ngài đã không đến được tất cả các giáo xứ, nên Ngài đã dùng thư để thông tin và giáo dục đoàn chiên của Ngài. Trong lá thư quan trọng này, Ngài đã minh định: ". Chúng tôi đứng ngoài các đảng phái chính trị, chỉ trích Cộng sản là chỉ trích Cộng sản, không liên can gì tới Chính phủ . Ðàng khác, phản đối Cộng sản không phải là đi với Pháp .." Sau đó Ngài đề cập tới từng vấn đề nhỏ: Cộng sản với vấn đề Thiên Chúa - Cộng sản với vấn đề Tôn giáo - Cộng sản với Luân lý - Cộng sản với gia đình - Cộng sản với Quốc gia - Cộng sản với nhân cách con người - Cộng sản với vấn đề Tư sản. Cũng lạ là sao ngay từ hồi ấy, Ðức Cha đã am tường rành rẽ sinh hoạt của xã hội Xã hội Chủ nghĩa, điều mà nhiều người Miền Nam chỉ sau 1975 mới sáng mắt sáng lòng, chứ còn trước đó, nếu có "nghiên kíu" "25 năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Miền Bắc" như nhà sử học Trương Bá Cần đã làm (Nguyệt san Ðối Diện, số 14-15-16, ra tháng 8-9-10, Saigon 1970) thì cũng chỉ là qua sách vở, báo cáo, thống kê của nhà nước ngoài ấy. Còn Ðức Cha Lê thì ngay từ 1949 đã biết trong chi tiết: ". Vào các cửa hiệu, không phải muốn mua gì thì mua. Ðồ vật đã chỉ ở trong ‘bông’, bạn không có quyền chọn đẹp xấu, đưa cái gì phải lấy cái ấy, đưa bao nhiêu thì biết bấy nhiêu. Mà không phải muốn vào hiệu nào thì vào. Bạn vào cửa hiệu đã ghi sẵn trên ‘bông’, vào các hàng khác, không ai bán cho bạn đâu. Các cửa hàng chia ra nhiều hạng. mỗi cửa hiệu có thứ vé riêng." Chỉ sau 1975, người viết ra Hà Nội, ngồi la cà ở các quán nước chè xanh với vài miếng kẹo lạc, dăm cái bánh ú, nải chuối tiêu, . mới nghe được những câu ca dao của vỉa hè Hà Nội: Tôn Ðản là của vua quan Hỏi ra thì được biết cửa hàng mậu dịch dành cho các vị ở trong Trung Ương Ðảng là ở phố Tôn Ðản. Ở phố Nhà Chung có cửa hàng mậu dịch dành bán cho các cán bộ trung cấp như Giám đốc Sở, Cục trưởng, v.v. Thế nhưng, khi CT Hồ Chí Minh được tiếp đón tại nhà hát lớn của giáo phận, ông đã tỏ ra vô cùng bén nhạy và dứt khoát trong lúc tiếp xúc với quần chúng để làm công tác tư tưởng. CT Hồ Chí Minh đến gần một cụ già và hỏi: "Cụ cho tôi biết ở Việt Nam có bao nhiêu giáo phận?" Ông cụ lúng túng: "Thưa, có chừng 10 giáo phận - Thế chúng ta có bao nhiêu giám mục bản xứ? - Thưa cụ, có 3 giám mục Việt Nam." CT Hồ Chí Minh kết luận ngay: "Như thế thì ít quá. Chúng ta phải tranh đấu cho có nhiều giám mục Việt Nam, để cho nước Việt Nam độc lập thì Giáo Hội Việt Nam cũng phải độc lập"(sđd trang 208). Không biết câu chuyện này có lọt vào tai Ðức Cha Lê lúc ấy không, nhưng không thấy vị giám mục nói năng gì thêm về vấn đề đấu tranh cho có giám mục bản xứ và việc độc lập của Giáo Hội Việt Nam trong Hội Thánh toàn cầu. Một người như CT Hồ Chí Minh đã từng đi khắp năm châu bốn bể, đã hiểu nhiều điều thì vấn đề độc lập của Giáo hội Công giáo ở một quốc gia nào đó cũng phải là điều mà ông am tường rành rẽ. Giáo hội độc lập theo quan điểm như CT Hồ Chí Minh là điều không thể có được, hoặc nếu có thì chỉ có được ở . bên Tàu. Giáo hội Công Giáo là Giáo hội toàn cầu. Những cố gắng tách rời người Việt Nam Công Giáo ra khỏi sự hiệp thông với Ðấng kế vị Thánh Phêrô là hão huyền. Không biết các linh mục "yêu nước" ngày trước như các cụ Vũ Xuân Kỷ, Nguyễn Thế Vịnh, Võ Thành Trinh có trong đầu ý định này không chứ còn các linh mục "Ðoàn Kết" ngày nay sẽ chẳng dại gì mà gảy một khúc đàn ngang cung. Chuyện này đã trở thành hoang tưởng rồi. Cũng trong buổi gặp gỡ này, CT Hồ Chí Minh đã lớn tiếng xác nhận Ðức Cha Lê Hữu Từ là cố vấn của chính phủ. Người viết xin được thêm rằng, khi cụ già nói 10 giáo phận là ý cụ muốn nói những giáo phận miền Bắc chăng, nếu kể toàn quốc vào thời điểm ấy, số giáo phận đã là 15. Sau năm 1954, số giáo phận ở miền Bắc không thay đổi, nhưng tại miền Nam đã phát triển thêm 10 giáo phận mới: Cần Thơ (1955), Nha Trang (1957), Long Xuyên - Ðà Lạt - Mỹ Tho (1960), Ðà Nẵng (1963), Xuân Lộc và Phú Cường (1966), Ban Mê Thuột (1967) và Phan Thiết (1975). Như vậy, hiện nay trong cả nước có 25 giáo phận. Từ ấy, CT Hồ Chí Minh và Ðức Giám mục cố vấn thường xuyên trao đổi thư từ, nhất là từ khi Phát Diệm trở thành Khu An Toàn, đồng bào các nơi tản cư về. Trong hoàn cảnh hỗn quân hỗn quan ấy, những phần tử bất hảo đã thừa nước đục thả câu, gây chia rẽ giữa các thành phần trong dân chúng. Ðã có nhiều cuộc đụng độ đáng tiếc xảy ra giữa giữa dân quân tự vệ của Phát Diệm và các cán bộ của chính quyền. Trong thư gửi Ðức Cha Lê ngày 2-3-1947, CT Hồ Chí Minh đã viết: ". Tôi cám ơn thơ cụ ngày 17-2-1947. Tôi đã ra lệnh thả 7 người cụ nhận. Tôi có nhận được một ít tài liệu. Sau khi nghiên cứu kỹ thì thấy rõ 3 điều: Thứ nhất, đồng bào Công Záo rất gét thực zân Fáp, rất yêu nước. Thứ hai, đồng bào Công Záo gét Cộng Sản. Thứ ba, một số đồng bào Công Záo nhẹ zạ, vì vậy có người lợi zụng chỗ đó mà gây mối chia rẽ. Bọn này nói: Chính Fủ là Việt Minh, Việt Minh là Cộng Sản. Ðiểm 1, chúng ta sẵn biết, không cần bàn. Ðiểm 2, lý tưởng zuy thần và học thuyết zuy vật không hợp nhau, là lẽ tất nhiên. Song, như cụ và tôi đã nói: Trong một zân tộc văn minh, tư tưởng tự zo, tuyên truyền thì tha hồ nhưng tuyệt đối chớ nói xấu nhau. Tự zo tuyên truyền chứ không fải tự zo vô lễ. Ðiểm 3, một mặt vì đồng bào Công Záo có người nhẹ zạ. Một mặt vì cán bộ hạ cấp của chính fủ không khéo. Hai điều đó nhập lại, làm căn cứ cho bọn khuấy rối lợi zụng." Về phần mình, trong cương vị giám mục, Ðức Cha Lê đã viết một bức thư gửi các linh mục trong giáo phận ngày 23-3-1947, căn dặn: "Xin các cha đừng nói gì đến chính trị, nhất là trong nhà thờ. Dân chúng nhiều người trình độ trí thức còn thấp kém chưa hiểu nổi những nhời cao xa các cha nói vì ý ngay lành. Do đó sinh ra nhiều chuyện không hay." Ngài cũng công nhận trong lá thư này là: "Trong lúc Quốc Gia hữu sự này có rất nhiều việt gian len lỏi vào mọi nơi, riêng trong tỉnh ta, nhất là hai phủ Yên Khánh và Kim Sơn mà tuyên truyền, mà dò thám." Sự hợp tác giữa Việt Minh và Công Giáo Cứu Quốc ở Phát Diệm chấm dứt kể từ ngày 16-10-1949, ngày mà quân đội Liên Hợp Pháp nhảy dù xuống nghĩa địa Lưu Phương khiến Ðức Cha Lê và Phát Diệm rơi vào tình thế khó xử. Bản thân Ðức Giám mục định rút về Nho Quan để khỏi lãnh trách nhiệm về sau: "Tôi có ý muốn trốn khỏi Phát Diệm bằng thuyền để lên miền rừng núi Nho Quan, song các cha can. Tôi đã khóc nhiều vì lo, vì buồn và đành chiều ý các cha." (trích Hồi ký của Ðức Cha Lê, Ðoàn Ðộc Thư và Xuân Huy, sđd, trang 223-228). Về phía quân nhảy dù toàn người Việt, do một viên đại úy người Việt cầm đầu đã giữ một thái độ rất nhún nhường. Viên đại úy đã sẵn lòng mặc thường phục, không mang vũ khí, cầm thư của Quốc trưởng Bảo Ðại vào yết kiến Ðức Giám mục, mặc dù "tôi không hề có một tiếp xúc nào với chính phủ Bảo Ðại . trước mặt Chúa, tôi không hề có ý làm một việc gì hay nói một lời nào có tính cách như là yêu cầu một quân đội nào đến cứu giúp. Việc này xảy ra hoàn toàn ngoài ý muốn của tôi." (Thư Luân Lưu số 47, ngày 20-10-1949). Về phía Việt Minh, Phát Diệm được coi như đã vào vùng Tề. Việt Minh lui vào chiến khu, tiếp tục kháng chiến chống Pháp đến ngày giành được thắng lợi sau trận Ðiện Biên Phủ vào năm 1954. Ngày 8-12-1951, lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngày mà Ðức Cha Lê đã chọn để dâng giáo phận cho Ðức Mẹ, nhân lúc các linh mục và giáo dân tụ họp về Phát Diệm đông đảo khác thường thì Việt Minh về, khởi đầu là vài tiếng "tắc, bọp," rồi thì rộn rã súng lớn và bộc phá, cả Phát Diệm rúng rính. Lần đầu tiên người Phát Diệm nếm mùi bom đạn. Cha Phaolô Nguyễn Quang Thiều biết trước do được giáo dân đưa tin bộ đội đã về án binh quanh vùng Phát Diệm. (Cha Thiều cũng được người ta gọi là cụ Sáu Việt Minh vì khi còn là Phó tế, Cha đã hăng hái trong việc đánh Pháp hăng hái đến độ đã xin Ðức Cha Lê cho chịu chức linh mục chậm một năm so với các bạn đồng lớp). Ðức Cha Lê và các cha cho là tin vịt và gán cho địa chỉ xuất phát của nguồn tin này là cụ Sáu Việt Minh. Khi tiếng súng nổ ngay đàng sau Nhà Chung và bộ đội đã vào bên trong khu thánh đường, lại cũng cha Thiều ra gặp anh em bộ đội ở trước Phương Ðình, yêu cầu họ rút khỏi khuôn viên nơi thờ phượng. Bộ đội chấp hành ngay yêu cầu này, một dịp để tranh thủ lòng dân. Vả lại, gọi là về giải phóng Phát Diệm, nhưng chỉ đến rồi đi, để lại kinh hoàng cho . khu An Toàn! Như vậy là giáo phận Phát Diệm bị chia thành hai vùng: vùng Tề và vùng giải phóng. Ðức Cha Lê khuyến khích các linh mục xung phong ra phục vụ các cộng đoàn thuộc vùng kiểm soát của Việt Minh. Cha Phaolô Nguyễn Quang Thiều xung phong đi đầu. Cha bảo: "Năm 1946-1947, giáo dân Phát Diệm đã tặng tôi danh hiệu cụ Sáu Việt Minh thì từ nay bước ra đi hẳn với Việt Minh . để rồi nên nạn nhân Việt Minh." Hôm ra đi là ngày 3-3-1952, dưới sự bảo lãnh của cha Nhân, chính xứ Hoàng Mai, từ vùng Việt Minh về tòa giám mục. Sau khi chịu chức linh mục ngày 31-10-1947, cha Thiều chọn cho mình khẩu hiệu "STA," những chữ cái đầu của 3 từ "Spina Triumphis Aptior," gai góc thích hợp hơn cho chiến thắng, hoặc nói một cách dễ hiểu là để tới chiến thắng, phải đạp lên chông gai. Cha Thiều cũng phóng tác ra Pháp ngữ: Souffrir Tout par Amour: Chịu đựng tất cả vì tình yêu. Từ "STA" trong tiếng Latinh cũng có nghĩa là: Hãy đứng thẳng lên. Ra với Việt Minh, cha Thiều vỡ mộng. Cha Nhân đã chả bảo lãnh được ai, còn chính bản thân ngài cũng đi Nam năm 1954. Cha Thiều ở Hoàng Mai được vài ngày thảnh thơi chờ cứu xét, rồi bị mời làm việc, tiếp theo là chuỗi ngày tù ngục khắp các trại giam liên khu ba, dưới gông cùm của cai ngục Lý Bá Sơ, cho đến ngày 12-12-1954 mới được cho về Hà Nội. Ðã có lúc (tháng 5-1953), nhân một lần chuyển trại, anh em tù tưởng là cha Thiều bị đem đi bắn. Một bạn tù được tha về tới Kim Sơn loan tin, báo Ðời Sống của cha Bênađô Phạm Văn Quy đã đăng cáo phó và lễ mồ cầu cho cụ Sáu Việt Minh được cử hành do chính Ðức Cha Lê chủ lễ. Ðã có lúc, các linh mục của bốn giáo phận tập trung trong cùng một trại giam, đó là lúc ở phòng 5Ð, phòng Phản Ðộng, từ tháng 10-1953 đến tháng 2-1954 gồm các cha: Thuyết, Luật, San, Vinh, Cung, Hào, Vĩnh, Hoàn, Huyền, Huân, Cử, Vũ, thầy Chính và bốn cha dòng khổ tu Châu Sơn. Tổng cộng là 17 linh mục và 1 thầy. Chắc các cha còn sống hôm nay không thể quên được cái đêm Noel 1953: cha Huân, chính xứ Quảng Phúc vừa qua đời (13-12) vì bị bệnh kiết lỵ, cha J.B Hoàn, cha linh hướng Tiểu chủng viện Trung Linh (Bùi Chu) đang hấp hối. Cả phòng buồn rười rượi, nhưng cán bộ yêu cầu hát mừng Noel, cả phòng 5Ð, phòng Phản Ðộng, đã nghẹn ngào đồng ca bài "Ðêm Ðông" của Hải Linh. Cha Hoàn mấp máy môi hát theo để rồi chỉ vài giờ sau đó, vào lúc nửa đêm, ngài nhập vào với ca đoàn các thiên thần trên Thiên Quốc.
V. PHÁT DIỆM - HÔM NAY VÀ NGÀY MAI Sau Hiệp định Genève 1954, nước Việt Nam bị chia cắt làm hai, lấy sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Kẻ trước người sau, các linh mục giáo phận Phát Diệm lần lượt vào Nam, chỉ còn lại 34 linh mục so với con số 124 ra đi, trong đó có Ðức Cha Lê và cha chính Lý. Vào năm 1954, con số giáo dân của Giáo phận vào khoảng 110 ngàn thì đã có 60 ngàn di cư vào Nam. Tòa Thánh đặt cha Phaolô Bùi Chu Tạo làm Giám quản giáo phận từ ngày 30.11.1956 và đến ngày 26.4.1959, ngài chính thức được thụ phong giám mục tại Hà Nội do Ðức Cha Giuse Trịnh Như Khuê truyền chức. Trong suốt 42 năm coi sóc giáo phận (1956-1998), ngài đã có hai vị giám mục phó giúp ngài điều hành giáo phận và đều đã qua đời: Ðức Cha Giuse Lê Quý Thanh (1964-1974) và Ðức Cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến (1977-1981). Vị giám mục phó thứ ba là Ðức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến (1988- .) và đã nhận chức giám mục chính từ 1.11.1998 để cây đại thụ của giáo phận là đức cha già Phaolô Bùi Chu Tạo được nghỉ hưu, sau những đắng cay chồng chất. Vâng, đúng thế, vị cha già của giáo phận Phát Diệm trong 42 năm, cay đắng từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ. Trên đoạn đường vài chục thước, từ Nhà Chung ra nhà thờ dâng lễ, lúc về luôn có vài tên côn đồ lẽo đẽo kiếm chuyện, hỏi những câu tưởng chừng như vớ vẩn để Ðức Cha phải lên tiếng: "Cụ già đi đâu đây?" Ðức cha Bùi Chu Tạo cứ điềm nhiên đếm bước, đến cổng Nhà Chung, đức cha nhỏ nhẹ: "Nhà tôi đây mà!" Ban đêm, Ðức Cha nghỉ trong phòng thì ngoài hành lang, bọn côn đồ ngang nhiên đi lại, nói năng xỏ xiên. Cánh cửa phòng Ðức Cha vẫn im ỉm để ngậm đắng nuốt cay, như mật đắng cách đây 2000 năm đã được thấm vào miếng bọt biển và đưa lên tận miệng Người bị đóng đinh trên núi Sọ. Ðối với Ðức Cha, Tòa Giám Mục đã là "Trại Giam Mới" theo cách nói của các tay chơi chữ. Ðang yên giấc, bỗng nghe có tiếng chặt cây ngoài vườn, Ðức Cha già chậm chạp rời phòng: "Tôi đói, tôi chặt ít cây về bán được không?" - lại bọn côn đồ - "Thôi, anh cầm ít tiền về đong gạo, còn để cho cây nó sống với." Họ thản nhiên nhận tiền mà đâu có hay rằng chính cụ già trong ngôi Nhà Chung mênh mông này cũng đã phải trải qua nhiều lần những ngày hết gạo hết tiền, phải sống nhờ những gói quà, túi cơm được ném từ ngoài tường rào vào, hoặc khúc cá tô canh qua cổng sau. Những bàn tay nhân đức đã không dám lộ diện (cũng chỉ vì sợ bọn côn đồ), nhưng cảm thông và thấu hiểu nỗi đoạn trường của vị cha già trong "trại giam mới." Không biết bọn côn đồ này có phải là hậu duệ của bọn côn đồ mà vào thập niên 40 đã phá phách xóm làng Phát Diệm, rồi đổ vấy cho tự vệ không đây? Thảo nào mà, khi mỗi lần tiễn một Ðức Cha phó về Quê Thật, Ðức Cha già lại một lần kiệt lực vì lại phải đơn côi vác thập giá, tưởng chừng cũng sẽ nối bước hai vị phó. Ấy vậy mà, Chúa đã gìn giữ ngài cho đến hôm nay như một chứng nhân kiên cường, như một đại thụ tỏa bóng rợp giáo phận, có thể tiếp chuyện mọi thành phần dân Chúa từ khắp nơi về nhân dịp đại lễ này. Deo Gratias! Ðức Giám Mục đương nhiệm Giuse Nguyễn Văn Yến sinh ngày 26.12.1942 tại Vĩnh Trị, giáo phận Hà Nội, nhưng chỉ cách Phát Diệm một chuyến đò ngang. Từ Phát Diệm xuống đò Xanh, bên kia bờ là Ðông Cao, là Vĩnh Trị, rồi ba cây số nữa là Kẻ Chanh, nhiệm sở đầu tiên của tân linh mục Nguyễn Văn Yến vào năm 1977. Trẻ trung và nhiệt tâm, ngài đã đi làm mục vụ khắp giáo phận, chủ tọa ngày chầu lượt, dọc ngang từ Văn Hải, Cồn Thoi, lên Hòa Lạc, Hướng Ðạo dâng lễ các ngày Chúa Nhật và lễ trọng. Ngài chú trọng nhiều đến phong trào học hỏi giáo lý, đào tạo các giáo lý viên, in sách giáo lý cho từng cấp lớp: Rước Lễ lần đầu, Thêm Sức, Sống Ðạo, . Tiếp tục những công trình đã được khởi sự từ thời Ðức Cha già Bùi Chu Tạo, Ðức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến cho xây ngôi nhà nguyện mới trong khuôn viên Nhà Chung, xây Tòa Giám Mục mới và Nhà Xứ Phát Diệm, sửa chữa Nhà Hát Lớn bị bom từ 1972 và hàng loạt các nhà thờ được xây mới hoặc trùng tu: Cồn Thoi, An Ngải, Vô Hốt, Quảng Phúc,. sau những năm tháng dài xuống cấp vì chiến tranh và vì những khó khăn từ nhiều phía. Trong toàn giáo phận, số giáo dân hiện nay là 130.000 người, thế nhưng số linh mục thì quá ít, 28 vị cả già lẫn trẻ. Sau năm 1954, số linh mục ở lại với giáo phận là 34, các vị nối tiếp nhau về nhà Cha sau bao nhiêu những khó nhọc và khổ đau, đến năm 1990 thì chỉ còn lại 6 vị, trong đó có đức cha già Bùi Chu Tạo. Cũng nên biết rằng, phải đợi đến 26 năm sau hiệp định Genève, Ðức Cha Bùi Chu Tạo mới truyền chức thêm được 2 tân linh mục. Hiện nay, Giáo phận được chia thành 9 giáo hạt: Ninh Bình, Phát Diệm, Tôn Ðạo, Phúc Nhạc, Cách Tâm, Bạch Bát, Văn Hải, Ðồng Chưa và Vô Hốt, gồm 65 giáo xứ mà 64 nằm gọn trong tỉnh Ninh Bình. Duy nhất giáo xứ Khoan Dụ nằm trong huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình và có trên 10.000 tín hữu thuộc dân tộc Mường, do cha già Nguyễn Chu Trình, chính xứ Xích Thổ kiêm nhiệm. Gần đây, cha già đã được sự trợ giúp của một linh mục trẻ, cha Phaolô Hanh, người thường xuyên có mặt ở Khoan Dụ. Một câu hỏi được đặt ra là tại những giáo xứ ở miền xa xôi này của Giáo phận, giáo dân thì đông mà linh mục lại quá ít. Thực ra cũng là điều dễ hiểu, bởi vùng này trước đây là vùng rừng thiêng nước độc. Thời gian kế tiếp là chiến tranh triền miên. Nay thì đã khác, một mai sẽ có nhiều linh mục lên miền cao này nếu việc thụ phong và thuyên chuyển các linh mục được dễ dàng hơn. Hôm về thăm Khoan Dụ, móng nhà thờ mới được đào, ngổn ngang gạch cát sắt thép, người viết mường tượng ra những khối lượng công việc khổng lồ đòi hỏi Phát Diệm những nỗ lực ghê gớm không chỉ riêng ở Khoan Dụ mà khắp nơi trong giáo phận. Thế nhưng, hình như những công việc xây dựng này chưa hẳn là mối quan tâm hàng đầu của Ðức Giám mục đương nhiệm. Trong thư mục vụ Năm Thánh Phát Diệm (19.4.2001-8.2.2002) gửi các thành phần dân Chúa trong giáo phận, đề ngày 21.1.2001, sau khi đã ôn lại vài nét lịch sử của giáo phận, kiểm điểm tình trạng hiện nay của giáo phận, Ðức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến đã viết: ". Chúng ta hy vọng việc mừng Năm Kỷ Niệm 100 Năm thành lập Giáo phận Phát Diệm: Trước hết, sẽ củng cố sự hiệp thông trong Giáo phận, giữa giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân qua việc ôn lại quá khứ tốt đẹp của Giáo phận, cũng như qua các nghi lễ, những cuộc hành hương sẽ được tổ chức. Tiếp đó sẽ là dịp để chúng ta sáng suốt nhìn vào tình trạng hiện nay của Giáo phận với những ưu khuyết điểm. Nhờ vậy, chúng ta sẽ thấy rõ hơn những gì mà mỗi người, mỗi gia đình, mỗi giáo xứ và toàn thể Giáo phận cần phải làm trong tương lai." Chúng tôi thiết nghĩ Giáo phận Phát Diệm cũng đang cần một thuyền trưởng tài ba, một chính sách sáng suốt để lèo lái con thuyền Giáo phận, không chỉ là cơ sở vật chất mà còn hơn thế nữa, trên tất cả, quan trọng hơn cả là NGHE TIN MỪNG - SỐNG TIN MỪNG - LOAN TIN MỪNG cho muôn dân. Người người trong ngoài Phát Diệm nhìn vào Ðức Giám mục đương nhiệm với nhiều hy vọng và thầm nguyện: Dominus Tecum, xin Chúa ở với Ðức Cha. Hôm nay, giông tố đã qua, chỉ còn lại những cơn bão rớt, đường đi tới của Dân Tộc và của Nhân Loại là sự tiến bộ, văn minh trong tự do và dân chủ. Con đường độc đạo này buộc mọi thế lực cầm quyền phải uốn mình đi theo, cho dù là đôi lúc, đôi nơi cố tình chậm chạp và uyển chuyển, gọi là "có định hướng." Giáo phận Phát Diệm phải xứng đáng với bề dày lịch sử, những hiển hách và những khổ đau đã qua. Mong lắm thay! Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |