Home | Nguyet San | Phat Thanh | Nha Sach | Dong Chua Cuu The
Muc Vu | Bao Moi | Bao Cu | Quang Cao | Mua Bao


NHỮNG VI TỬ ÐẠO VN THỜI MỚI

Lm. Trần Phúc Long.

Khi tham dự đại lễ tấn phong Hồng y Tổng Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận ở Rôma ngày 21-2-2001, tuy lòng hiên ngang và vui mừng, tôi vẫn cảm thấy và nhìn thấy nơi Tân Hồng y là một vị "tử đạo" như đã từ cõi chết khổ nhục 13 năm trở về với Giáo Hội trong vinh quang. Mũ đỏ, áo đỏ như máu tươi, lại thêm lời nhắn nhủ của Ðức Giáo Hoàng Phaolô II về ý nghĩa màu đỏ khi đặt mũ Hồng y trên đầu, làm tôi nghĩ ngay đến Tông thư "Thiên niên kỷ thứ ba đang đến", trong đó Ðức Giáo Hoàng viết: "Vào thế kỷ chúng ta đang sống, chúng ta lại được thấy các thánh tử đạo, thường không được nhận diện, vì họ là những chiến sĩ vô danh của đại nghĩa. chính là các nạn nhân của Ðức quốc xã, của những hình thức kỳ thị được ngụy trang và của chủ nghĩa cộng sản. Trong quá khứ, các vị tử đạo bị xử tử hay lưu đày biệt xứ. Nhưng ngày nay, các vị tử đạo phải vào các trại cải tạo để lao động khổ sai, không phải chỉ để chết thể xác, mà còn chết về cả tinh thần!" (số 37). Ðức Thánh Cha kể ra 9 hình thức "bắt đạo" của Cộng sản ngày nay. Nếu như vậy, Ðức Hồng y Nguyễn Văn Thuận và nhiều "chiến sĩ vô danh" khác ở Việt Nam đúng là những vị tử đạo thời mới.

Theo thống kê, số các vị đã đổ máu tử đạo vì Ðức Tin tại Việt Nam hơn 300 năm giảng đạo đã có thể lên đến vài trăm ngàn. Trong số này có 117 vị đã được tuyên phong hiển thánh ngày 19-6-1988. Vị tử đạo tiên khởi (26-7-1644) là Thầy Anrê Phú Yên sau nhều năm điều tra và đối chất, mới được tuyên phong Chân phước ngày 5-3-2000 tại Rôma. Ðấy là các vị anh hùng đã đổ máu đào thời vua chúa và Văn Thân sát hại, tính cho đến hết thế kỷ 19. Còn những vị đã "tử đạo" gần chúng ta hơn (thế kỷ 20) một số mới được tôn phong, nhưng Giáo Hội không quên những vị chưa được tôn phong và vẫn công nhận là "chết vì đạo."

 

I. Những Vị Tử Ðạo Thời Mới Ở Nước Ngoài:

Tôi xin kể một số vị:

* Cha Bernard Lichtenberg, quản xứ Nhà thờ Thánh Hedwig ở Bá Linh (Ðức quốc), vì công khai phản đối chính phủ Ðức Quốc Xã đã bắt bớ, tàn sát người Do Thái, nên bị bắt và chết trên đường, bị dẫn độ tới trại tập trung Dachau (1938), nơi đây người ta giết bằng hơi ngạt.

* Cha Phanxicô Chu, dòng Tên, thuộc một gia đình Trung Hoa đạo gốc, và đã chịu chức linh mục năm 1953. Cha Phanxicô đã bị bắt và tống ngục như một "tù nhân lương tâm" vì không chịu ly khai với Giáo Hội Công Giáo và Ðức Giáo Hoàng. Ngài chết rũ tù ngày 26-12-1983, sau 33 năm bị giam cầm, hưởng thọ 71 tuổi. Ngài sống rất thánh thiện trong tù.

* Giám mục Phanxicô Gjini, dòng Phanxicô, và 20 linh mục địa phận bị bắn chết bằng súng đại liên năm 1947 ở nước Albania. Nước này tự xưng là quốc gia vô thần đầu tiên trên thế giới.

* Giám mục John Joseph (gốc Pakistan, cai quản địa phận Falsalabad, Pakistan) bị xô đẩy khỏi xe truck, chết trước Toà án Pakistan năm 1997. Cơ quan thông tin của Nhà nước lại loan tin là ngài tự vẫn khi ngài phản đối cuộc đàn áp Công Giáo do chính quyền Hồi giáo phát động.

* Anh Phêrô Torot, một giáo lý viên ở New Guinea, bị quân đội Nhật chích thuốc độc chết năm 1945 vì anh cực lực phản đối âm mưu của chính quyền xâm lược đặt Công Giáo ra ngoài pháp luật và cổ võ đa thê.

* Cha Brorius Laurinavieius (nước Lithuania), bị 4 công an áo vàng tóm cổ, ném dưới xe vận tải, "tử nạn" ngày 24-11-1981, trong thời kỳ 50 năm Cộng sản thống trị nước này.

* Hai Cha Maurus Kim Pongsik và Lee Kwang (Bắc Hàn) bị Hồng quân Nga sô tại Bắc Hàn bắt cùng 298 bổn đạo và tu sĩ. Năm 1949, họ bị đem tới một hầm trú ẩn phòng không và bắn chết trong đó.

* Cha Anthony Colliar (dòng Columban, người Ái Nhĩ Lan) bị giết cùng nhiều thừa sai khác bởi lực lượng Xô Viết và Bắc Hàn. Cha Collier bị bắt tháng 6 năm 1950 khi đi từ nhà bưu điện. Cha và thân nhân bị trói theo lệnh phải đi ra phía sông và một băng đạn liên thanh nổ vang. Cha phủ mình trên một thân nhân nên người này thoát chết và anh đã là chứng nhân cho cái chết anh hùng của Cha. Ða số các linh mục ở Bắc Hàn, kể cả toàn thể tu viện các cha và thầy Dòng Biển Ðức (Benedictine) bỗng nhiên bị mất tích, không để lại một dấu vết.

Trong khoảng thời gian 1982-1996, Giáo Hội đã tuyên phong 266 tử đạo: 218 vị tử đạo ở Tây Ban Nha do Cộng sản gây ra thời kỳ Cách Mạng 1934-1939, 25 vị tử đạo do chính quyền độc tài Mexico vào các năm 1920-1930, 10 vị tử đạo dưới thời Ðức Quốc Xã.

Bắt đạo, phá đạo và diệt đạo là mục đích tàn bạo của các chủ nghĩa quốc gia quá khích, của phát xít, Ðức Quốc xã, và Cộng sản vô thần. Ngàn ngàn giáo sĩ và tín hữu đã ngã gục "tử vì đạo" vì sự thù ghét đức tin và Giáo Hội ("In odium Fidei et Ecclesiae"). Tuy nhiên "các cửa hoả ngục" từ 20 thế kỷ nay vẫn chưa thắng nổi. Khối Cộng sản Ukraine áp dụng các kế hoạch bách hại tinh vi và qui mô ròng rã 50 năm rồi mà nay đã sụp đổ tan rã, lại còn mời Ðức Giáo Hoàng sang thăm viếng. Ngài sẽ thấy ở Ukraine như đang hân hoan tiến từ các hang toại đạo một Giáo hội hồi sinh, gồm 8 Giám mục, 1000 linh mục, 12.000 nữ tu, 6 dòng tu, cả ngàn chủng sinh trong các chủng viện mới được mở cửa lại.

Còn Việt Nam thì sao? Chúng tôi còn nhớ khi phong thánh năm 1988, Giáo Hội đã lấy ly do 300 năm bị bách hại tàn bạo mà Ðức Tin không bị trù diệt, trái lại vẫn triển nở, đó là "phép lạ" hùng hồn nhất để Hội thánh Việt Nam đáng được những vị Tử đạo tuyên phong Hiển thánh.

 

II. Các Vị Tử Ðạo Thời Mới Ở Việt Nam

Noi gương các Ngài, trong thế kỷ 20 gần chúng ta nhất, Giáo hội Việt Nam cũng đã có những vị tử đạo. Trong bộ sách "25 Giáo Phận Việt Nam, 25 Năm Qua", chúng tôi đã đề cập đến các ngài qua từng địa phận. Từ Bắc xuống Nam, chúng tôi xin lược thuật sau đây:

* Giáo phận Lạng Sơn, địa phận cực bắc của Tổ quốc Việt Nam, năm 1947 có 7 vị tử đạo ở Cao Bằng, do Việt Minh chụp mũ theo Tây, bị giết một cách thê thảm và bí mật. Hai vị thừa sai Maillet và Brébion, 4 linh mục VN là các cha Ngọc, Thao, Ðề, Hào, 1 thầy kẻ giảng và 2 nữ tu (x. "25 Giáo phận VN.", tập II, tr. 60).

* Giáo phận Hưng Hoá là địa phận rộng lớn nhất nước Việt Nam, có nhiều đồng bào sắc tộc Mèo học giáo lý theo đạo. Ông Nguyễn Ðức Hạnh là một trong các giáo lý viên, ở họ đạo Cốc Lếu, Lào Cai. Ông còn thuộc thành phần Ban Hành giáo. Ông bị công an đánh bằng roi điện, dập lá lách và từ trần ngày 15-12-1997, chỉ vì ông dạy giáo lý cho tân tòng Mèo Cốc Lếu (x. "25 Giáo phận VN.", tập II).

* Giáo phận Bắc Ninh, 99 đầu mục bị chôn sống trong một hố mà "chúng" bắt đào (x. "25 Giáo phận VN.", tập III, tr. 162).

* Giáo phận Thái Bình, trong những năm 1946-1948, thời Việt Minh nổi lên, có các vị sau đây đã tử vì đạo: Cha Mai Ðức Tín bị bắn ở Phương Xa; Cha Hồ Quang Luật (Cao Mại) và Cha Trần Quang Hưng (OP) bị đem đến Trại tù Lý Bá Sơ và cả 2 chết ở đó, Thày Tôma Ninh, Thày Bốn Lợi, Thày Thành (Phục Lễ) và nhiều chủng sinh khác bị dẫn đi mất tích vào năm 1948 (x. "25 Giáo phận VN.", tập III, tr. 232).

* Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, dòng Chúa Cứu Thế, chết rũ tù CS ngày 10-7-1959 tại Trại 2 Yên Bình gần Hà Nội. Hồ sơ thụ lý phong Chân phước đã được Toà Thánh chấp nhận

* Huế: Hai Cha dòng Biển Ðức là Francois de Compiège và Pierre David, hai Cha thừa sai MEP là Croissoner và Poncet, cùng với Cha Bửu Ðồng bị Việt Cộng chôn sống sau trận Tổng Công kích Huế dịp Tết Mậu Thân 1968 thất bại (x. "25 Giáo phận VN.", tập IV, tr. 39-42).

* Qui Nhơn: 20 tử đạo gồm đủ thành phần linh mục, tu sĩ nam nữ và tân tòng. Hồ sơ điều tra Phong Thánh được đệ trình Toà Thánh ngày 10-5-1909 (x. "25 Giáo phận VN.", tập III, tr. 306).

* Phú Cường: 27 giáo hữu bị tàn sát ở họ đạo Thị Tính (Dầu Tiếng, Tây Ninh) tháng 7, 1868 (x. "25 Giáo phận VN.", tập IV, tr. 382).

* Cần Thơ: Gần chúng ta nhất và nổi danh nhất hiện thời là Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, cha sở họ đạo Tắc Sậy (tỉnh Bạc Liêu, Giáo phận Cần Thơ) từ 1930-1946. Ngày 12-3-1946 Cha bị Việt Minh giết và ném xác trong một ao. Bộ máy tuyên truyền Cộng sản bóp méo sự thật và đổ lỗi cho quân Nhật bản, trong khi từ ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng Ðồng minh vô điều kiện sau khi bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử và không còn bóng ở vùng Cà Mau nữa. Năm 1946, khi Pháp trở lại đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có những cuộc giao tranh giữa quân viễn chinh Pháp và quân du kích CS từ chiến khu U Minh không xa. Chính VC đã giết Cha Diệp năm 1946. Mộ Cha đã trở thành trung tâm điểm của những cuộc hành hương, có ngày lên đến 20.000 người. Quý độc giả phải đến Tắc Sậy mới thấy rõ Cha Trương Bửu Diệp là một mục tử tốt lành, đã hiến mạng vì đoàn chiên (Ga 10:11-18) và nay còn là "ông cha vẫn hiện ra" để trả tiền gạch của một chủ lò gạch cho một nhà thờ, để tặng thuốc tây cho một gia đình không có tiền mua. Bạn hãy tới Tắc Sậy để chứng kiến tận mắt "Hiện tượng lạ lùng Trương Bửu Diệp", vị tử đạo thời mới.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com