Home | Nguyet San | Phat Thanh | Nha Sach | Dong Chua Cuu The
Muc Vu | Bao Moi | Bao Cu | Quang Cao | Mua Bao


VIỆT NAM GIÁO SỬ

Lm Phan Phát Huồn, CSsR

PHẦN THỨ NĂM
NHỮNG NĂM TRƯỞNG THÀNH

(1933-1960)

CHƯƠNG 32

CUỘC DI-CƯ VĨ-ÐẠI

(Tiếp theo)

1. Ba-Làng đẫm máu.

Phong trào di cư càng sôi nổi thì Việt-Cộng càng cho thi hành mọi thủ đoạn dã man để ngăn cản di cư, chúng đã dùng súng liên thanh bắn xả vào một cuộc biểu tình đòi di cư của 8,000 người tại nhà thờ Ba Làng. Dân Ba- Làng vẫn cương quyết đòi ra đi; trong đám dân vô tội đó một cảnh tượng não lòng đã diễn ra: ở giữa là trẻ con đàn bà, các cụ già và những người ốm yếu, xung quanh là thanh niên với hai bàn tay không võ khí, họ xiết chặt nhau lại, cả một khối 8,000 người quần nâu áo vải ấy sát lưng vào nhau thành một vòng tròn khổng lồ với ý chí sắt đá là cương quyết đi tìm tự do mặc dù cho những loạt đạn của Việt-Cộng bắn tưới vào họ để giải tán.

Vụ Việt-Cộng tàn sát đồng bào di cư Ba-Làng đã làm chấn động dư luận thế giới, nhiều nước đã đánh điện phản đối hành động dã man của Cộng-sản. Tổng Thống Ngô-Ðình-Diệm đã gửi cho thế giới và các nước công-giáo bức thông điệp vô tuyến truyền thanh nói về vụ Ba-Làng kể trên (8).

 

2. Trà Lý (9).

Ở Trà Lý Việt-Cộng tàn sát đồng bào di cư một cách dã man, lúc đồng bào vùng này rục rịch muốn vào Nam, cán bộ Việt-Cộng chận hết các ngả đường bộ, thành thử chỉ còn mặt bể là lối thoát duy nhất của dân Trà Lý. Họ kiên nhẫn đợi chờ trong gần một tháng, một ngày nọ, mấy chiếc tầu chiến chở đồng bào di cư bỏ neo ngoài khơi Trà Lý, lập tức chiều hôm đó 2,000 người tụ họp tại bờ biển để sẵn sàng thuyền bè vượt biển lánh nạn. Việt-cộng nghe tin, liền bắn chìm hết thuyền bè của họ, họ đứng ở tất cả một bãi cát thấp ngang mặt bể; nước thủy triều dâng lên rất nhanh chóng, đồng thời phía trên bờ Việt-Cộng nã súng tới tấp vào đám dân lành vô tội ấy.

Phút chốc nước đã dâng ngang ngực họ, chơi vơi trong sóng gió, một cảnh tượng ghê rợn hãi hùng chưa từng thấy đã diễn ra, có những bà mẹ nâng cao đứa con lên trên mặt nước đọc thất thanh những lời kinh cầu Chúa.

Việt-Cộng trên bờ, bắc loa gọi và hứa sẽ cho thuyền ra chở vào, nhưng hàng trăm câu trả lời "Thà chết chứ không thể sống dưới chế độ Cộng sản." Và họ đã chết thật, một số đàn bà con trẻ và những người ốm yếu đã bị nước cuốn đi, những người khác ngoi ngóp trên làn sóng bạc. Cảnh tượng đau lòng đến cực-độ. Sau cùng đoàn dân di cư ấy gặp một thuyền đánh cá, họ nhờ thuyền đó đi báo tin cho các tầu ngoài khơi chỉ một loáng sau tầu Le Capricieux và nhiều chiếc khác đã tới cứu thoát được 1,445 người, tất cả thủy-thủ đã quăng phao và liều chết tận-lực với dân di cư; một sĩ quan trong tầu Le Capricieux đã kể lại rằng, chính mắt ông trông thấy thiếu-phụ ôm hai đứa con bị sóng cuốn ra bể mà không ai vớt kịp.

 

3. Cửa-Lò.

Cửa-Lò là một làng nhỏ miền duyên-hải cách Hải-Phòng chừng 300 cây số. Dân làng chuyên hai nghề chài-nông và đã từ lâu sống một đời hạnh-phúc giữa những mảnh đất phì-nhiêu.

Một vị bô-lão trong làng nói: "Từ ngày Việt-Cộng tràn về với danh hiệu Việt-Minh cứu-quốc, với phương pháp cải-cách điền-địa chúng tôi chỉ còn nghèo khổ và đói rách. Chúng tịch thâu đến cả mớ cá mà chúng tôi cần để sống. Chúng mở những lớp học tập về " xã-hội cấp-tiến. Nghĩa là dậy chúng tôi tố-giác, tố-giác những người cùng huyết nhục, chúng dạy những cách tự kiểm-thảo gây cho họ nhiều sợ-sệt và gieo nghi-kỵ lẫn nhau.."

Dân Cửa-Lò chỉ còn một nguyện-vọng, trốn thoát. Nhưng Việt-Cộng nhất định canh gác. Ý định trốn thoát được ngấm ngầm dự thảo qua từng cửa miệng, dân làng ngầm chở lương thực xuống thuyền, và sau cùng ngày khởi hành đã ấn định vào một đêm không trăng.

Kế-hoạch trốn thoát chỉ khuyết một điểm: làm thế nào đánh lừa bộ-đội để dân chúng xuống thuyền? Ðó là điều em Mai-Văn-Thịnh tình nguyện đảm nhiệm.

Mai-văn-Thịnh là một em bé mới 12 tuổi (10), là người con còn sống sót của gia-đình lâu đời ở Cửa-Lò. Cha mẹ cậu đã sớm chết trong thời chiến tranh. Mai-văn-Sâm, anh cậu mang tội làm trưởng đoàn Thanh-niên Công-giáo đã bị tẩm dầu săng thiêu đốt dưới gốc cây.

Mai-văn-Thịnh nay tự hiến thân ở lại lập kế đánh lừa bộ đội. Thật là công tác hiểm nghèo, nhưng là chút mưu-kế cuối cùng của làng Cửa-Lò. Rồi đêm ấy tới 1156 nguời tàng ẩn trong bóng đêm chờ hiệu lệnh; hiệu lệnh đây là những đám lửa bốc cháy khắp nơi cuối xóm ngược chiều với đoàn người ra đi. Khi ấy Mai-văn-Thịnh chạy cùng làng kêu cưú hỏa; lôi kéo cả bộ đội Việt-Minh đi chữa cháy. Lúc ấy 1156 người nam, phụ, lão, ấu lặng lẽ xuống thuyền và mất hút vào đêm tối. Số phận của em Mai-văn-Thịnh rồi đây ra sao, thật chúng ta không dám nghĩ tới.

Cuộc hành trình kéo dài năm đêm va năm ngày. Thiếu dụng-cụ chèo chống và nhiều ngày thiếu thức ăn nước uống, mà đoàn người cũng tới được Hải-Phòng. Kể cũng là sự lạ!

Ðứng trên bong một chiếc tầu đưa họ về miền Nam, đoàn người giờ đây sự sống đã trở lại, đang êm nhẹ hát lời kinh: "Lạy Chúa chúng con chuộng vẻ đẹp nhà Chúa. Lạy Chúa chúng con mến đền thờ, nơi ngự trị vinh hiển của Chúa. Xin cho đời chúng con trôi qua bình an trong Chúa" (11).

 

4. Kilinsky

Nói đến cuộc di-cư vĩ-đại của dân-tộc Việt-Nam mà không nói đến vụ Kilinsky tức là để thiếu sót một chi-tiết tuy không quan trọng nhưng sẽ làm chúng ta mất một quan-niệm xác-đáng về những hành-động của Việt-Minh nhằm ngăn cản đồng bào di cư vào Nam.

Khoảng tháng 5-1955, Ủy-hội quốc-tế sau một kỳ hội họp đã chấp thuận những phương-tiện cụ thể để đồng bào được dễ dàng di chuyển vào Nam hoặc ra Bắc.

Nhưng đến lúc phải áp-dụng những điều mà Ủy-Hội đã ấn-định, Việt-Minh khước từ không cho phép dân di-cư xuống tầu vào Nam. Chiếc tầu này là một chiếc tầu của Pháp. Việt-Minh chỉ cho phép dân di-cư xử-dụng chiếc Kinlinsky, một chiếc tầu Ba-Lan (12). Dân di cư khấp khởi xuống tầu nhưng nổi vui mừng của họ không được lâu dài. Trên tầu Việt-Minh và nhân viên Cộng-sản Ba-Lan không cho dân di cư uống nước hay ăn uống gì cả mặc dù theo lời của các nhà chức-trách Ủy Hội Quốc Tế trước lúc tầu nhổ neo đã có chở lên tầu đủ gạo cơm cho dân di-cư dùng. Trong lúc đi đường, Cộng-sản chất dân di-cư vào gầm tầu chật như mấm mòi, không đếm xỉa gì đến nhân mạng.

Trong lúc hành trình có đến 7 đồng bào phải bỏ mạng. Lúc đến cửa Ðà-Nẵng nhà cầm-quyền Việt-Nam đòi xem sổ dân số di-cư, Việt-Minh từ chối không giao sổ và quả quyết trên tầu chỉ có 3,387 di cư, nhưng kỳ thực Việt-Minh cho xuống tầu 3,515 người trong đó có nhiều tay gián-điệp Cộng-sản.

Không thể nào kể hết tất cả những sáng-tác lạ lùng dã man để ngăn cản đồng-bào Bắc-Việt đi tìm tự-do ở miền Nam (13).

 

5. Tội ác vô thần.

Sau đây là nhận xét khách quan của Bác-sĩ Thomas Dooley. Bác-sĩ đã được gởi đến Hải-Phòng để săn-sóc các bệnh-nhân di-cư vào Nam 1954-1955. Bác-sĩ nói rằng: "Bây giờ vấn đề khâu nối những đàn ông bị cắt xẻo, đàn bà bị cắt vú, cả đến trẻ con bị chặt đốt ngón tay., đối với tôi đã quá quen. Nhưng càng ngày tôi càng xác tín điều này; là đem những cực hình dã-man người di cư phải chịu so với lòng tin hải hà của họ đối với Thiên-Chúa thật chả thấm vào đâu."

Một đêm nọ có người cấp bách mời tôi đến một làng gần bức màn tre (14), sau quãng chừng 15 cây số tôi xuống xe và đi về một túp lều tranh . trước mặt mập mờ, dưới ánh dầu lạc tôi nhìn nhận có đôi vợ chồng và nhiều trẻ đang cầu nguyện.

Về sau tôi mới nhận rõ một người đang nằm trên cáng tre, bệnh nhân đang rên-rỉ và đôi môi trong trầm lặng thấm thĩ lời kinh. Tôi lật chiếc mền bẩn trên mình bệnh nhân, cả một khối thịt đen thui từ vai đến chân hiện rõ dưới mắt tôi. Da bụng đã căng và phồng, to như quả bóng. Tôi tiêm một mũi thuốc Moóc-phin và tìm cách rút mủ nơi vết thương, bà già ngồi bên cạnh cho tôi hay đó là em bà, một vị linh-mục coi một họ nhỏ bấy giờ đã sa tay Cộng-Sản. Chúng cho ngài biết, ngài chỉ làm lễ được vào 6 giờ sáng, đúng lúc mà dân làng phải tụ họp để nghe giải-thích về đời sống mới. Nhưng ngài cứ làm lễ kín vào nữa đêm nên Cộng-Sản điên người nhất quyết phen này phải trừng phạt.

Chúng treo ngược ngài lên sườn nhà thờ, hai tay gần chấm đất, chúng lấy gậy đánh và đánh cách riêng vào chỗ hiễm, Ngài chẳng nhớ chịu hình phạt đó bao lâu, sáng mai mấy anh em giúp lễ còn thấy ngài vẫn bị treo lủng lẳng như thế mãi, các em xúm nhau cắt giây cho ngài, đoạn các em ghép vội các bè tre đem ngài dấu tạm cạnh bờ sông, chiều tối đến các em vội lội xuống và kéo bè đến nhà chị của ngài tron lãnh vực còn tự do.

Thế mà ngài không chết, thật kỳ lạ. Ngài còn giữ chức Tuyên-Úy cho trại chúng tôi một thời gian khá lâu nữa.

Tôi còn đuợc chứng kiến một cảnh thương tâm khi 7 em và một thanh niên tìm đến bệnh-viện chúng tôi. Anh thanh-niên mặt mày hốc-hác, gần như bất-tỉnh, mấy em đã ngất-ngư, nửa sống nửa chết. Hai tay đầy mủ và đang bị chiếc đũa dài cắm vào lỗ tai lòi ra cao quá đầu hai trẻ trong bọn.

Ðây là câu truyện:

Anh thanh-niên là ông giáo, Cộng-sản vào lớp bắt gặp thầy trò đang xướng kinh Lạy Cha. Chúng ra hiệu bảo cả lớp đọc lại và hài hước nhấn ở câu: ‘Cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ’. Ðoạn chúng hỏi trẻ:

- Ai cho các em gạo? Chúa à? Hay Chính-phủ nhân-dân? Chúa làm gì có mà cho. Chính-phủ nhân-dân cho chúng em.

 Dạy xong bài học ấy chúng dẫn cả thầy lẫn trò ra sân để giở thủ đoạn khác:

Chúng nắm chặt tay và vò đầu mấy em bé đoạn anh chỉ-huy trưởng bình thản lấy đũa thọc sâu vào tai các em bé, đâm thũng lá nhĩ và lỗ tai vị giáo viên, một đứa cầm kìm kéo lưỡi giáo viên dài ra còn đứa kia lấy dao cắt đứt.

Không biết thế nào mà 5 em rút đũa ra được, còn hai em kia tôi phải nhờ một mủi moóc-phin mới được. Tôi không chữa gì cho lỗ tai các em được nhiều hơn là làm cho lỗ tai bớt hôi. Còn vết thương của thầy giáo khá nặng. Thầy mất nhiều máu cần phải sang máu mà tôi đâu còn đủ dụng-cụ. Nhưng tôi cũng khâu lại được đôi phần, còn bao nhiêu tôi đặt cả hy-vọng vào linh-dược của pênixilin và bàn tay lân-ái của Thiên-Chúa (15).

Cả 7 người đều khỏi chết, ông giáo rồi đây sẽ không bao giờ cầu-nguyện lớn tiếp. Bảy em học-sinh suốt đời chỉ nghe lời Chúa phán tự đáy lòng.

 

Chú thích:

1. Trần-Quốc-Bảo: Cuộc di-cư vĩ-đại: trg 29, Saigon 1955.

2. The Regufees of North Việt-Nam: The Beginning of the exodus, trg 1.

3. Trần-Quốc-Bảo; Op-cit: trg. 33.

Missionaires d’Asie, p. 33-36 Paris Mars 1955.

Missions Catholiques, p.2 Paris Mars 1955.

4. Trần-Tam-Tĩnh: Thập Giá và Lưỡi Gươm, trg 103-104, TP Hồ Chí Minh 1978.

5. Trần-Quốc-Bảo: Cuộc di-cư vĩ-đại, trg 45, Saigon 1956.

6. Hồi ấy gọi là rạp Norodom.

7. Tính đến ngày 2-11-1954 linh mục đã thâu thập 2,580 đơn của trên 14,000 người muốn ra đi.

8. Trần-Quốc-Bảo: Cuộc di-cư vĩ-đại, trg 50-52.

9. Trần-Quốc-Bảo: Cuộc di-cư vĩ-đại, trg 54.

Thomas Dooley: Ðợt sóng di-cư của người Việt-Nam. Nhóm xxxx Việt-Nam

phỏng-dịch - Ủy-ban hộ định-cư xuất-bản - trg 28-29, Saigon 1956.

10. Thomas Dooley: Ðợt sóng di-cư, trg 25.

11. Thomas Dooley: Ðợt sóng di-cư, trg 25-27.

12. La lutte contre les activités subversives Communistes au Việt-Nam, trg 11.

13. Muốn biết đầy đủ xem Thomas Norman trong Manchester Guardian, ngày 3-4-1956.

14. Biên-giới ngăn khu vực Quốc-gia và khu-vực Cộng-sản.

15. Thomas Dooley: Ðợt sóng di-cư, trg 19-20.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com