Home | Nguyet San | Phat Thanh | Nha Sach | Dong Chua Cuu The
Muc Vu | Bao Moi | Bao Cu | Quang Cao | Mua Bao


VIỆT NAM GIÁO SỬ

Lm Phan Phát Huồn, CSsR

PHẦN THỨ NĂM
NHỮNG NĂM TRƯỞNG THÀNH

(1933-1960)

CHƯƠNG 32

CUỘC DI-CƯ VĨ-ÐẠI

(Tiếp theo)

5. Tội ác vô thần

Sau đây là nhận xét khách quan của Bác-sĩ Thomas Dooley. Bác-sĩ đã được gởi đến Hải-Phòng để săn-sóc các bệnh-nhân di-cư vào Nam 1954-1955. Bác-sĩ nói rằng: "Bây giờ vấn đề khâu nối những đàn ông bị cắt xẻo, đàn bà bị cắt vú, cả đến trẻ con bị chặt đốt ngón tay., đối với tôi đã quá quen. Nhưng càng ngày tôi càng xác tín điều này; là đem những cực hình dã-man người di cư phải chịu so với lòng tin hải hà của họ đối với Thiên-Chúa thật chả thấm vào đâu."

Một đêm nọ có người cấp bách mời tôi đến một làng gần bức màn tre (14), sau quãng chừng 15 cây số tôi xuống xe và đi về một túp lều tranh . trước mặt mập mờ, dưới ánh dầu lạc tôi nhìn nhận có đôi vợ chồng và nhiều trẻ đang cầu nguyện.

Về sau tôi mới nhận rõ một người đang nằm trên cáng tre, bệnh nhân đang rên-rỉ và đôi môi trong trầm lặng thấm thĩ lời kinh. Tôi lật chiếc mền bẩn trên mình bệnh nhân, cả một khối thịt đen thui từ vai đến chân hiện rõ dưới mắt tôi. Da bụng đã căng và phồng, to như quả bóng. Tôi tiêm một mũi thuốc Moóc-phin và tìm cách rút mủ nơi vết thương, bà già ngồi bên cạnh cho tôi hay đó là em bà, một vị linh-mục coi một họ nhỏ bấy giờ đã sa tay Cộng-Sản. Chúng cho ngài biết, ngài chỉ làm lễ được vào 6 giờ sáng, đúng lúc mà dân làng phải tụ họp để nghe giải-thích về đời sống mới. Nhưng ngài cứ làm lễ kín vào nữa đêm nên Cộng-Sản điên người nhất quyết phen này phải trừng phạt.

Chúng treo ngược ngài lên sườn nhà thờ, hai tay gần chấm đất, chúng lấy gậy đánh và đánh cách riêng vào chỗ hiểm, Ngài chẳng nhớ chịu hình phạt đó bao lâu, sáng mai mấy anh em giúp lễ còn thấy ngài vẫn bị treo lủng lẳng như thế mãi, các em xúm nhau cắt giây cho ngài, đoạn các em ghép vội các bè tre đem ngài dấu tạm cạnh bờ sông, chiều tối đến các em vội lội xuống và kéo bè đến nhà chị của ngài tron lãnh vực còn tự do.

Thế mà ngài không chết, thật kỳ lạ. Ngài còn giữ chức Tuyên-Úy cho trại chúng tôi một thời gian khá lâu nữa.

Tôi còn đuợc chứng kiến một cảnh thương tâm khi 7 em và một thanh niên tìm đến bệnh-viện chúng tôi. Anh thanh-niên mặt mày hốc-hác, gần như bất-tỉnh, mấy em đã ngất-ngư, nửa sống nửa chết. Hai tay đầy mủ và đang bị chiếc đũa dài cắm vào lỗ tai lòi ra cao quá đầu hai trẻ trong bọn.

Ðây là câu truyện:

Anh thanh-niên là ông giáo, Cộng-sản vào lớp bắt gặp thầy trò đang xướng kinh Lạy Cha. Chúng ra hiệu bảo cả lớp đọc lại và hài hước nhấn ở câu: ‘Cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ’. Ðoạn chúng hỏi trẻ:

- Ai cho các em gạo? Chúa à? Hay Chính-phủ nhân-dân?

Chúa làm gì có mà cho. Chính-phủ nhân-dân cho chúng em. Dạy xong bài học ấy chúng dẫn cả thầy lẫn trò ra sân để giở thủ đoạn khác:

Chúng nắm chặt tay và vò đầu mấy em bé đoạn anh chỉ-huy trưởng bình thản lấy đũa thọc sâu vào tai các em bé, đâm thũng lá nhĩ và lỗ tai vị giáo viên, một đứa cầm kìm kéo lưỡi giáo viên dài ra còn đứa kia lấy dao cắt đứt.

Không biết thế nào mà 5 em rút đũa ra được, còn hai em kia tôi phải nhờ một mủi moóc-phin mới được. Tôi không chữa gì cho lỗ tai các em được nhiều hơn là làm cho lỗ tai bớt hôi. Còn vết thương của thầy giáo khá nặng. Thầy mất nhiều máu cần phải sang máu mà tôi đâu còn đủ dụng-cụ. Nhưng tôi cũng khâu lại được đôi phần, còn bao nhiêu tôi đặt cả hy-vọng vào linh-dược của pênixilin và bàn tay lân-ái của Thiên-Chúa (15).

Cả 7 người đều khỏi chết, ông giáo rồi đây sẽ không bao giờ cầu-nguyện lớn tiếp. Bảy em học-sinh suốt đời chỉ nghe lời Chúa phán tự đáy lòng.

 

6. Công-tác thân-vận (16).

Trong số một triệu người miền Bắc gồm đủ mọi từng lớp dân-chúng, sĩ nông công thương, binh, giầu nghèo, trí thức thuộc các tôn-giáo mỗi người di-cư có sẵn ít nhất là một câu truyện về chính bản thân họ để kết án Cộng-sản.

Một bác-sĩ Hoa-Kỳ Trung-úy Thomas Dooley (17) đã làm một bản tường-trình tỉ-mỉ về phương-pháp Việt-Cộng dùng để ngăn-ngừa không cho người miền Bắc di-cư vào Nam. Phương-pháp Việt-Cộng thường dùng để ngăn cản đồng-bào di-cư là công-tác thân-vận.

Phương-pháp này do Trung-ương Ðảng Cộng-sản đề ra, giao cho mặt trận Liên-Việt phối hợp với các đơn-vị đảng thi hành. Mỗi khi một gia-đình có người di-cư thì gia-đình ấy và có khi cả những người họ hàng nội ngoại đều bị phạt vạ, hình phạt nhẹ nhất đầu tiên là bị thâu hồi thẻ tiếp tế mua gạo.

Ít lâu sau công-tác thân-vận được áp-dụng tế-nhị hơn, Việt-Cộng bắt tất cả các trẻ con phải đi học chính-trị, nhồi-sọ chủ-nghĩa độc tài Cộng-sản cho trí-óc non nớt, biến các em thành những cán-bộ tí-hon rất trung-thành với Ðảng. Rồi chúng thả các em về lại với gia-đình, mỗi em là một thám-tử đại tài của Ðảng; hễ một gia-đình nào rục-rịch bàn truyện di-cư thì cho dù kín-đáo đến đâu chúng cũng biết được vì có ai ngờ tai mắt của chúng lại ở ngay trong nhà, ở sát nách mình. Dùng thủ đoạn này, Việt-Cộng đã ngăn cản được nhiều vụ di-cư quan-trọng, như vụ làng Mang-Sơn thuộc quận Duy-Tiên, Hà-Nam, làng này toàn dân Công-giáo, cả làng đều đồng lòng trốn vào Nam, công việc sắp đặt ra đi được tổ-chức bí-mật để che mắt Cộng-sản ngày đêm trà trộn vào làng săn tin.

Cuộc di-cư định khởi hành vào nữa đêm lúc tối trời nhất, toàn làng sẽ nhất tề khăn gói ra Hà-Nội (55 cây) để đòi xuống Hải-Phòng, nhưng trước ba ngày thì mưu-cơ bị bại-lộ, mọi người hoảng-hốt sợ hãi, không hiểu ai phản-trắc, trong khi đó từng đoàn cán-bộ về giải-tán làng bắt bớ đánh đập các thanh-niên công-giáo.

Mãi sau người ta mới vỡ lẽ là do trẻ con trong làng làm nội công cho Việt-Cộng, một bà mẹ nạn nhân vụ nói trên, khi trốn được vào Nam, bà mếu máo thuật lại rằng: "Tôi có ngờ đâu đứa con độc nhất của tôi nó lại đi báo tôi! Tôi bị cán-bộ bắt đánh cho một trận nhừ tử, lúc được tha về nó còn mắng tôi, Bu mà trốn đi là bu phản quốc, phản Ðảng, phản Bác. Bu đi con không đi, con ở lại với Bác, với Ðảng." Bà nói tiếp: "Tôi tủi thân quá mắng nó mấy câu, nó cãi, tôi tát cho nó một cái, nó liền lồng lộn chửi tôi như tát nước, rồi nó dọa đi báo với Ủy-ban; . có đời thủa nhà ai thế không?." Gia-đình bà ta chỉ có hai mẹ con, nhưng bà vào Nam một mình; mỗi lần nhắc đến đứa con độc nhất của bà, bà lại than thở khóc lóc và cuối cùng bà nói như để tự an ủi: "Tôi, bây giờ tôi chỉ còn biết dâng nó cho Chúa, xin Chúa phù hộ mở mắt cho nó để nó đừng theo Cộng-sản." Chẳng những ở Bắc-Việt mà ở cả miền Bắc Trung-Việt, Cộng-sản cũng dùng phương-pháp thân-vận để ngăn cản đồng-bào di-cư.

Nạn nhân của câu truyện này là ông Lê-Thừa 43 tuổi cựu đảng viên Cộng-sản, người làng Liêm-Công, huyện Vĩnh-Linh, tỉnh Quảng-Trị (18), gia-đình ông cả thảy 5 người, hai vợ chồng 3 đứa con (19), nhưng chỉ riêng ông và đứa con trai thuộc thành phần bần-cố-nông, còn vợ ông và hai con gái thì thuộc thành phần địa-chủ; lý do gây nên sự phân cách lạ lùng đó là vì hôm ủy-ban về họp để kiểm định thành-phần nhân-dân, có người báo-cáo, vợ ông là con của một địa-chủ bởi thế vợ ông và hai đứa con gái tức cũng có mang trong người ít nhiều huyết thống địa-chủ.

Riêng đứa con trai của ông tên là Lê-Thứ không bị khép vào thành phần địa-chủ, mặc dầu nó là anh ruột hai em gái nó; bởi lẽ nó là con trai, nó thuộc huyết-thống của Lê-Thừa (20) hơn nữa nó đã vào đảng và rất trung thành với đảng.

Hai tháng sau ngày kiểm-định, có lệnh buộc ông Lê-Thừa phải tự-động tố khổ ông ngoại tức là bố vợ của Lê-Thừa, tuy ông này đã chết hơn 20 năm. Ngày hôm ấy đứa con trai của Lê-Thừa lôi bài vị, bát nhang ông ngoại nó đem ra chuồng trâu đứng kể tội vanh vách (21) rồi lấy roi vụt lia lịa vào bài vị, sau cùng nó đại tiện vào bát nhang và dắt trâu đạp vỡ bát nhang, chà nát bài vị của ông ngoại nó.

Hôm ấy Lê Thi được cả làng tuyên-dương công-trạng "đệ nhất anh hùng bần-cố-nông làng Liêm-Công." Nhưng cũng từ hôm ấy ông Lê-Thừa vụt nảy ý-định ly-khai Cộng-sản và cương-quyết đem gia-đình vượt vĩ-tuyến tìm tự-do.

Nửa đêm tháng 3-1955 ông âm-thầm dắt vợ và hai đứa con gái lần mò tới Bến-Hải, đến bờ sông, không tìm ra một chuyến thuyền nào, ông đành bơi từng chuyến đưa từng người qua sông, chuyến thứ nhất ông đem qua một bọc quần áo vừa để dò khúc sông vừa để nghe ngóng tình hình hai bên bờ, chuyến sau ông bế sang đứa con gái lớn, khi đi về ông phân vân không biết làm sao để đưa cả hai mẹ con sang cùng một chuyến, sợ nhỡ đứa bé khóc thì rầy! Ðang lo nghĩ, bỗng ông hoảng kinh bơi vụt trở lại vì ông nghe tiếng tên Thi quát tháo ở bờ sông bên kia:

- Tôi bắt được quả tang thím (22) trốn nhé, đồ phản-động . Quân phản đảng!

Thốt nhiên có tiếng đứa con út kêu thét lên, rồi tiếng vợ ông la thất thanh!

- Ôi trời ôi, nó bóp cổ em nó., nó giết con tôi trời đất ôi!

- Tao không mẹ con, anh em gì với quân phản Ðảng.

Tiếp theo có tiếng đá, có tiếng ú ớ của vợ ông, rồi một lát sau im bặt. Cầm lòng chẳng được ông liền bơi qua, nhưng khi đến bờ bên kia thì vợ ông đã bị đem đi mất, chỉ còn xác của đứa con gái út của ông nằm áp mặt xuống bãi bùn. Ông đau đớn nghẹn-ngào ôm xác con bơi qua bờ tự-do với một niềm uất-ức vô bờ bến..

Ðể phản-đối hành động trên, một nhóm công-giáo đã gởi lời kêu gọi đến các nước ký Hiệp-Ðịnh Genève, yêu-cầu các nước này chú ý đến các biện-pháp cảnh-sát mà Việt-Cộng đã áp-dụng đối với những người Việt-Nam muốn rời khỏi Bắc-Việt di-cư qua khu vực Quốc-Gia. Lời kêu gọi ấy được gởi đến Tòa Thánh Vatican, tổ-chức Liên-Hiệp-Quốc và các chính-phủ đại cường-quốc. Ðài bá-âm Vatican đã loan-truyền lời kêu gọi ấy có đoạn tố cáo tội-ác Việt-Cộng như sau:

"Những người muốn rời khỏi đất Bắc phải chịu áp-lực hành-hung hăm-dọa bắt giam và xử-tử nữa; trẻ con bị lôi kéo ra khỏi bàn tay người mẹ làm cho các gia-đình không được bán vật cần dùng cho những người tị-nạn v.v."

Ðứng trước tình cảnh đau thương như thế không những hội-đoàn Công-Giáo quốc-tế nhưng toàn thể thế-giới tự-do đều thi đua cứu-trợ đồng-bào di-cư tị-nạn.

 

7. Tổ-chức cứu-trợ đồng-bào di-cư (23).

Thoạt đầu việc cứu-trợ đồng-bào Bắc-Việt di-cư do bộ thanh niên đảm nhiệm. Cán-bộ thanh niên được tung đi khắp các nẻo đường để chỉ dẫn và giúp đỡ đồng-bào lánh-nạn.

Về phía nhân-dân các đoàn thể cách-mạng, hợp-lực với các đoàn-thể công-giáo, các Cha Dòng Chúa Cứu-Thế và các sinh-viên đại chủng-viện, tổ-chức các cuộc tiếp cư tại phi-trường Tân-Sơn-Nhất và bến tầu Saigon.

Nhưng chỉ trong vòng một tháng sau, phong-trào di-cư trở nên mạnh-mẽ vô cùng, các hoạt-động của Quốc-Gia hầu như ngừng hẳn, để mọi ngành chỉ chuyên lo việc di-cư, tiếp-cư cho những lớp sóng người từ miền Bắc ồ-ạt kéo vào Nam.

Trước vấn-đề hệ trọng đó cần phải có một cơ-quan đặc-biệt để chuyên phụ-trách cứu-trợ dân tị-nạn. Chính-phủ liền cho thành-lập "Tổng ủy di-cư tị-nạn, do một vị Tổng-Ủy trưởng điều-khiển, tại mỗi phòng có một vị đại-diện Tổng-Ủy, tổ-chức này đã hoạt-động ráo riết trong suốt thời kỳ di-cư với 3 nhiệm vụ chính là:

- Cứu-trợ, di chuyển đồng-bào tị-nạn.

- Kiểm-soát tiếp-cư.

- Giúp đỡ định-cư cho đồng-bào.

Về mặt vật chất như tầu bè chuyên chở và khai danh sách, phát tiền, gạo, thuốc, vải, làm nhà cửa, khí cụ đào giếng v.v. đều do phủ Tổng-Ủy di-cư trách-nhiệm.

Song song với sự thành-lập tổng-ủy Phủ Di-Cư, một tổ-chức cứu-trợ khác được thành- lập dưới quyền điều khiển của Ðức Giám-Mục Phạm-Ngọc-Chi, lấy tên Ủy-ban Hộ-Trợ Ðịnh-Cư, văn phòng trung-ương đặt tại cạnh nhà thờ Huyện-sĩ, đường Bùi-Chu Saigon.

Hệ thống tổ-chức của Ủy-ban Hộ-Trợ dựa theo hệ-thống tổ-chức Công-Giáo trong 10 địa phận di-cư vào Nam dưới vĩ tuyến 17, có 10 vị linh mục đại-diện và trong mỗi trại định-cư đều có một vị linh-mục phụ-trách, cố nhiên đời sống của đồng-bào trong trại luôn luôn được săn sóc đồng đều không phân biệt lương giáo. Các cán-bộ của Ủy-ban luôn luôn hoạt-động đi sát với đồng-bào di-cư.

Ðối nội Ủy-Ban chuyên lo:

- Hoạt-động nâng cao đời sống tinh-thần và đạo-đức của dân-chúng.

- Giúp chính-phủ lo trật tự trong các trại định-cư.

- Giúp đỡ phủ Tổng-Ủy di-cư trong công việc cấp phát tiền gạo thuốc vải v.v.

Ðối ngoại, Ủy-Ban liên-kết chặt-chẽ với các tổ-chức phước thiện Công-Giáo của các nước bạn một phong-trào ủng-hộ mạnh-mẽ về tinh-thần và vật-chất cho đồng-bào di-cư tại Việt-Nam. Ðồng thời ủy-ban còn là một tổ-chức bênh-vực quyền-lợi của những người đi tìm tự do, điều tra và tố cáo trước dư luận thế-giới tự-do những hành động Cộng-sản cấm-đoán dân tị-nạn.

Ủy-ban thành-lập từ tháng 8 năm 1954, sau 20 tháng tích-cực hoạt động, ủy-ban đã gây được những cơ sở vững chãi cho 286 trại định-cư. Ngày 10 tháng 4 năm 1956 Ðức Giám-Mục Phạm-Ngọc-Chi đã gởi một bức thư luân lưu cho các Linh-Mục trong các trại định-cư, xác nhận kết quả hoạt-động của các vị và sự trưởng thành của các trại định-cư, đồng thời Ngài ra chỉ thị cho các vị Linh-Mục chuyển-giao hoạt-động hành-chính lại cho nhân-dân để chuyên lo về việc giảng-đạo.

Dầu vậy sự kiện trên không có nghĩa là giải tán Ủy-Ban Hộ-trợ Ðịnh-cư, trái lại Ủy-Ban Hộ-trợ Ðịnh-cư vẫn còn tồn-tại, hoạt-động và các linh-mục các nơi sẽ là các vị Cố-vấn đắc lực cho đồng-bào di-cư.

Ngoài hai tổ chức Phủ Tổng-ủy Di-cư và Ủy-Ban Hộ-Trợ Ðịnh-cư ta phải kể đến Văn phòng Viện-trợ Công-giáo Mỹ do Ðức Ông Joseph Harnet đại diện Văn phòng Viện-trợ Công-Giáo Mỹ là gạch nối giữa nhân-dân Công-giáo Hoa Kỳ và đồng bào di-cư Việt-Nam.

Thêm nữa là Văn phòng Thanh-Thương Hội Phi-Luật-Tân và rất nhiều hội-đoàn quốc-tế cứu-trợ dân di-cư Việt-Nam như Rotary Club hoặc Jaycee, Hội Cứu-trợ Công-Giáo Pháp và Ðức do Ðức Cha Rhodain và do Ðức Cha Daniels đại diện. Báo Figaro ở Pháp trong năm 1955 đã lạc quyên giúp dân định-cư được 35,000,000 quan.

Sở dĩ đồng bào đã được di-cư vào Nam một cách mau lẹ vì các nước bạn như Pháp, Mỹ và các nước Tự do khác đã đáp lại lời mời gọi của Thủ-Tướng Ngô-Ðình-Diệm giúp đỡ đồng-bào di-cư. Một cây cầu hàng không Hà-Nội-Saigon dài 1,174 cây số đã được thiết lập, các tầu bè đủ các loại cũng đã góp sức vào việc đưa dân Bắc di-cư vào Nam.

Trước lúc giao thành phố Hải-Phòng cho Việt-Cộng, Thủ-Tướng đã đọc một bài hiệu-triệu thống thiết tại Hải-Phòng; lúc lời hiệu-triệu vừa chấm dứt lá cờ Việt-Nam từ từ hạ xuống và chuyến tầu cuối cùng mang tên là tầu Hải-Phòng quay mũi trực chỉ Nam tiến. Trên tầu chở một chiếc hộp đựng đất thiêng miền Bắc, một kỷ-niệm vô cùng quý giá của cả một dân tộc sống trong thời Nam Bắc phân ly.

Lúc chiếc tầu thành phố Hải-Phòng cập bến Saigon trên 20,000 đồng-bào đã đến dự cuộc rước đất thiêng miền Bắc. Buổi lễ cử hành long trọng, cảnh chiều mưa buồn ảm đạm, lớp mây trắng đục thấp hẳn xuống như ghi một cảnh tang đau đớn của dân tộc Việt-Nam khi đất nước phải phân ly. Tất cả những người đến dự lễ đều lấy làm cảm xúc khi nghe nhắc đến mảnh đất thiêng, tượng trưng cho Lam-Sơn - Bạch-Ðằng - Hà-Hồi - Chi-Lăng, mảnh đất kết chặt tình thắm thiết Trung-Nam-Bắc.

Qua một giấc mơ hãi hùng ghê sợ, một triệu dân miền Bắc nay sống vui tươi dưới chính thể của miền Nam ngập tràn ánh sáng và tự-do. Nhưng lòng dân Bắc xa quê vẫn hướng về cố đô, tin tưởng một ngày toàn dân nước Việt tự-do sẽ tiến ra giải phóng cho quê hương xứ sở đuổi Cộng-sản, tay sai của ngoại quốc để rồi thống nhất giang sơn đất nước (24).

 

Chú thích:

Biên-giới ngăn khu vực Quốc-gia và khu-vực Cộng-sản.

Thomas Dooley: Ðợt sóng di-cư, trg 19-20.

Trần-Quốc-Bảo: Cuộc di-cư vĩ-đại.

Trung Úy thuộc bộ Hải-Quân Hoa-Kỳ, quê quán ở tiểu bang Missouri, bác-sĩ phụ trách các thường dân tị-nạn ngay từ khi có hiệp-định Genève, ông rất thông thạo tiếng Việt-Nam. Tại Saigon bác-sĩ tuyên-bố, bác-sĩ đã chữa cho hơn 2,000 bệnh nhân trầm trọng, do Việt-Cộng tra tấn.

Cách 9 cây số về phía bắc vĩ-tuyến 17. Câu chuyện nầy do Trần-Quốc-Bảo kể lại trong Cuộc di-cư vĩ-đại.

Một trai 18 tuổi; hai gái 10 và 6 tuổi.

Theo lý-luận của Cộng-sản.

Bài kể tội do Ủy-ban đã dạy thuộc lòng từ trước.

Tiếng địa-phương gọi mẹ là thím.

Trần-Quốc-Bảo: Cuộc di-cư vĩ-đại, trg 106, Saigon 1956.

(Xin chép ở trang 828)

Muốn có một quan niệm về Cuộc Di-Cư Vĩ-Ðại, xin đọc thêm:

ÐNTL/CBDIIK 1839

Chapter 17, footnotes. 55-56.

Peter A Poole


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com