Home | Nguyet San | Phat Thanh | Nha Sach | Dong Chua Cuu The
Muc Vu | Bao Moi | Bao Cu | Quang Cao | Mua Bao


LM. NGUYỄN VĂN LÝ
và NHỮNG CHỨNG NHÂN TIN MỪNG
TRONG THỜI ÐẠI CHÚNG TA

Trần Phong Vũ

Trong buổi sinh hoạt văn học nhằm giới thiệu tác phẩm "Hỏa Lò" của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tại trường Ðại học Luật khoa George Mason ở tiểu bang Virginia hôm 24-6-2001, có một chi tiết khá đặc biệt đã gây nhiều ngạc nhiên thích thú cho hơn 200 cử tọa hiện diện. Ðó là khi được mời lên diễn đàn, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã không nói nhiều về tác phẩm của ông mà đã dành trọn thì giờ để nói về linh mục Nguyễn Văn Lý, người đã chia sẻ hai năm tù đày với ông ở trại giam Ba sao, Nam hà vào những năm 1990-1991ø.

Tác giả những thi tập nổi tiếng "Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực" (còn có tên khác là "Hoa Ðịa Ngục 1"), "Hoa Ðịa Ngục 2" đã lớn tiếng tuyên xưng Cha Lý xứng đáng là một bậc trượng phu, ngửa mặt lên không ngượng với Trời, cúi mặt xuống không hổ với Ðất! Lời xưng tụng của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện dành cho cha Tađêô Nguyễn Văn Lý không nằm ở đầu môi chót lưỡi mà đã rút ra từ những kinh nghiệm bản thân của hai năm sống chung đụng với người mục tử can trường này trong ngục tù cộng sản. Qua lời kể lại của tác giả tiểu thuyết "Hỏa Lò" về con người và nhân cách linh mục Nguyễn Văn Lý người ta thấy nổi bật lên hai đặc điểm.

Cha Lý: mẫu người can đảm và bất khuất.

Cha Lý: khuôn mặt tiêu biểu cho tình thương và lòng bác ái Công giáo.

Nhìn chung, đứng trên phương diện con người, ông xứng đáng là khuôn mẫu của những bậc chính nhân quân tử, và về mặt tôn giáo ông được xếp vào hàng ngũ những người công chính hay những chứng nhân Tin Mừng của thời đại.

Vì ở chung trong một nhà giam, chỗ nằm kế cận bên nhau, nên thi sĩ Nguyễn Chí Thiện tự hào là người hiểu rõ nhân cách và lập trường của vị linh mục Công giáo này hơn bất cứ ai khác ở trong cũng như ngoài nước. Trong thời gian bị giam chung, hai người đã có nhiều cơ hội trao đổi với nhau về lý tưởng đấu tranh cho tự do, nhân quyền bao gồm cả tự do tôn giáo. Dù biết trước sẽ phải lãnh đòn thù của bọn cai ngục, cha Lý không ngần ngại lên tiếng bênh vực những bạn đồng tù mỗi khi họ bị đối xử tàn nhẫn, bất công. Theo nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thì một lần kia thấy một cán bộ đánh đập một tù nhân ngay ở cổng trại Ba sao, linh mục Lý đã lên tiếng phản kháng thẳng với Nguyễn Tiến Lân, một viên trung tá cộng sản trong trại. Ông nói: "Người với người cán bộ không được đánh đập như thế. Nếu đương sự có lỗi hãy đem ra xét xử phân minh, không được tùy tiện đánh đập!" Dĩ nhiên sau đó tên Lân đã tìm cách tống linh mục Lý vào nhà biệt giam và cùm chân ông! Ðể diễn tả thái độ thản nhiên của cha Lý đồng thời nói lên niềm cảm phục của mình, nhà thơ nói với cử tọa: "Trước sự kiện bị trả thù như thế, linh mục Lý vẫn ung dung không thèm xin xỏ, biện bác gì hết".

Vẫn theo tác giả "Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực" thì ngoài thái độ can trường, quả cảm trên đây, vị linh mục Công giáo này còn có một tấm lòng bao dung, trắc ẩn đặc biệt đối với người đồng chủng khi thấy họ lâm cơn túng quẫn, cần được cứu giúp. Là một trong những người tù được gia đình và giáo dân tiếp tế nhiều nhất, nhưng gần như ông đem tất cả những gì ông nhận được để chia sẻ cho những người thiếu thốn không có thân nhân thăm nuôi. Vì thấy cha Lý chỉ dùng những bữa ăn đạm bạc trong tù nên sức khỏe sa sút nhiều, lần kia thi sĩ Nguyễn Chí Thiện tỏ ý lo ngại và khuyên ông ăn một chút đồ tiếp tế để có đủ chất dinh dưỡng thì người mục tử này trả lời: "Mạng sống của tôi đã có Thiên Chúa định đoạt. Nhiệm vụ của tôi là cứu người nghèo khó. Ðạo và đời gắn liền với nhau vì không có đời thì cũng không có đạo".

Ðiều đáng chú ý là cha Lý không chỉ quan tâm giúp đỡ những người tốt, cùng một tôn giáo với ông hoặc có cử chỉ tử tế với ông. Cha còn san sẻ những gì mình có cho cả những thành phần bất hảo trong tù, những thành phần nhà thơ mệnh danh là "lưu manh" được bọn cai tù mua chuộc để gây sự, hành hạ cha Lý vì chúng thấy cha được nhiều người thương mến. Dù vậy, linh mục Lý vẫn không hề thù ghét những kẻ mưu toan hãm hại ông. Ngược lại khi thấy bọn chúng vì đánh nhau mà bị thương phải vào bệnh viện thì chính cha lại là người tìm đến thăm hỏi cưu mang chúng với một tâm tình yêu thương, chăm sóc khác thường. Sự kiện này đã đưa tới kết quả bất ngờ là nhiều tên trong đám tù nhân "lưu manh" này đã thay đổi hẳn tâm tính và ngỏ ý xin cha Lý được gia nhập đạo Công giáo. Vì ngạc nhiên và cũng vì tò mò, Nguyễn Chí Thiện tìm đến hỏi han. Ðáp lại câu hỏi là các anh đã biết gì về đạo Công giáo mà đòi đi theo thì nhà thơ nhận được từ nhiều người câu trả lời hồn nhiên nhưng khá thực tế sau đây:

"Chúng tôi chưa biết gì về đạo Công giáo cả. Nhưng thấy cha Lý, người thay mặt Chúa mà có lòng hy sinh, thương người quá như vậy thì chúng tôi vào đạo".

Thật đúng với câu tục ngữ của người xưa: Lời nói bay nhanh, gương lành ở lại. Nó gợi nhớ tới nhận định thời danh của Giáo chủ Phaolô VI: "Con người trong thời đại chúng ta cần đến chứng nhân hơn là thày dạy. Mà nếu cần tới thày dạy, thì trước khi là thày dạy, đương sự phải là chứng nhân đã".

* * *

Xuyên qua những lời kể lại của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện về phong cách và con người linh mục Nguyễn Văn Lý, người ta không thể không liên tưởng tới hai khuôn mặt linh mục khác trong lịch sử cận đại của Giáo hội Ba Lan. Ðó là cha Maximilian Kolbe, tù nhân lương tâm danh tiếng của Ðức quốc xã trong Ðệ Nhị Thế Chiến và cha Jerzy Popieluszko, tuyên úy của Công đoàn Ðoàn kết Ba lan, nạn nhân của chế độ cộng sản Varsovie đầu thập niên 80 vừa qua. Tuy sống ở hai thời điểm cách nhau bốn chục năm nhưng cả hai đều hội đủ hai đức tính tiêu biểu cho người môn đệ Chúa Giêsu: can đảm bênh đỡ kẻ bị áp chế bởi cường quyền bạo lực, đồng thời hết dạ yêu thương, săn sóc những người lâm cơn túng quẫn, gặp bước đường cùng.

Cha Maximilian Kolbe là biểu tượng tuyệt vời của tình yêu thương đồng loại. Ði theo con đường của Ðấng Cứu Thế, cha đã tình nguyện chết thay cho một người bạn đồng tù chỉ với ý nghĩ đơn sơ là người này còn trẻ, còn có vợ con gia đình để săn sóc nên cần được sống hơn cha. Theo lời thuật lại của những nhân chứng còn sống sót sau khi thế chiến thứ hai kết thúc thì nhờ tinh thần can đảm, quảng đại và lòng yêu thương vô lượng của cha lúc còn sống cũng như sau khi chết thay cho người bạn đồng tù, rất nhiều người đã xin rửa tội để trở thành tín hữu Công giáo, trong số có cả những tín đồ Do thái giáo vốn có nhiều úy kỵ đối với Vatican. Trường hợp cha Maximilian được tuyên Thánh khi những người chứng từng là nạn nhân của Ðức Quốc Xã còn sống sót là một trường hợp hy hữu trong lịch sử 2000 năm giáo hội Công giáo.

Bốn thập niên sau, giữa lòng chế độ cộng sản Varsovie lại xuất hiện thêm một khuôn mặt lớn trong hàng giáo sĩ Ba lan: cha Jerzy Popieluszko, vị linh hướng 37 tuổi của Công đoàn Ðoàn kết. Noi gương cha Maximilian, ngay từ thuở ấu thơ cậu Jerzy đã quyết định chọn cuộc sống tu trì. Trong suốt hai năm bị động viên vào quân ngũ, vì biết Jerzy Popieluszko vẫn kiên trì với lý tưởng làm linh mục, những sĩ quan trực tiếp trong đơn vị đã theo lệnh của nhà nước tìm hết cách để hành hạ người tu sĩ nhỏ con yếu đuối này khiến anh bị lâm trọng bệnh. Khi vị linh hướng tỏ dấu lo ngại về tương lai mục vụ của Jerzy và muốn Jerzy phải nghỉ một thời gian thì được nghe câu trả lời: "Người ta sẽ không bao giờ thấy đau khổ khi chấp nhận đau khổ vì Chúa Giêsu". Năm 1972 sau khi chịu chức, cha Jerzy đã hăng hái lao mình vào cuộc đời linh mục và không bao lâu đã dành được cảm tình của mọi giới vì lòng yêu thương hay giúp đỡ người yếu thế của cha. Một sinh viên y khoa đã nói về cha Jerzy như sau: "Cha lo lắng cho tôi hơn cả chính bản thân tôi lo cho tôi".

Kể từ năm 1981, sau khi đáp lời mời gọi của Công đoàn Ðoàn kết, cha dồn hết tâm lực để lo cho các công nhân và gia đình họ, nhất là trong thời gian Công đoàn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật khiến hầu hết cán bộ bị tống giam hoặc phải lẩn trốn. Ngày đêm cha jerzy đã đơn thân len lỏi vào những hang cùng ngõ hẻm trong thành phố để an ủi, tiếp cứu những người vô gia cư, kể cả vợ con các cán bộ Công đoàn đang tại đào. Lech Walesa, thủ lãnh Công đoàn Ðoàn kết đã nói về cha Jerzy như sau: "Vì lòng yêu thương quả thật cha đã quên hẳn thân mình". Vị linh mục trẻ đã phân phát đi hàng tấn quần áo trong khi trang phục của chính ông thì lôi thôi, rách nát. Một nhà báo tên tuổi vốn là cựu đảng viên cộng sản đã mệnh danh linh mục Jerzy Popieluszko là "Một người bạn thánh của chúng tôi tại giáo đường St. Stanislaw".

Vì sợ ảnh hưởng lớn lao của cha Jerzy xuyên qua những bài giảng thuyết trong những Thánh Lễ Cầu Cho Quê Hương, chế độ cộng sản Varsovie đã tìm mọi cách nhằm khóa miệng người mục tử can trường này. Sau nhiều lần thất bại trong mưu toan ám sát cha Jerzy, bọn công an lén bỏ vũ khí và truyền đơn vào nơi cư ngụ của cha. Kết quả cha Jerzy đã bị đẩy vào tù giữa ngày kỷ niệm năm thứ hai lệnh thiết quân luật. Cha đã bị giam chung với bọn du thủ du thực trong đó có một tên sát nhân khét tiếng. Mặc dầu sức khỏe yếu kém, ông vẫn không bị ngã gục trước cơn thử thách như sự mong đợi của nhà nước cộng sản Ba lan. Chỉ trong khoảnh khắc cha đã chinh phục được sự kính trọng của hầu hết phạm nhân trong tù. Và ngay cả tên sát nhân cũng bắt đầu cởi mở đối với cha. Hai người tâm sự với nhau suốt sáng. Dần dà cha Jerzy nhận ra những đổi thay nơi kẻ giết người. Ðến gần rạng đông, người đàn ông bật khóc và xin lãnh bí tích hòa giải với Thiên Chúa qua cha Jerzy. Vì không có phương tiện cho hối nhân rước lễ, cha đã làm phép mẩu bánh trong nhà giam và trao cho anh. Sáng hôm sau cha Jerzy Popieluszko được phóng thích. Cha nói với kẻ sát nhân là cha rất vui vì được trải qua một đêm không ngủ thật nhiều ý nghĩa.

Sau khi vị linh hướng của Công đoàn Ðoàn Kết bị công an nhà nước cộng sản thủ tiêu, một làn sóng trở lại đạo Công giáo đã bùng nổ trên khắp lãnh thổ Ba lan. Phúc trình của giáo hội cho thấy tấm gương cha Jerzy đã thúc đẩy hàng loạt giới trẻ được ơn gọi làm linh mục. Lòng yêu thương và sự hy sinh của ông cũng châm ngòi cho những hoạt động trong bóng tối của Công đoàn và đã tạo nên một động lực mới thúc đẩy mọi người dấn thân hoạt động cho quyền sống, quyền tự do và quyền làm người. Theo ký giả John Fox thì trong khi chế độ Varsovie tìm hết cách bôi nhọ cha Jerzy và kết án những kẻ theo cha thì quần chúng Ba lan đã tôn xưng cha như một vị Thánh, một Thánh Tử Ðạo vĩ đại nhất của dân tộc Ba lan kể từ sau cha Maximilian Kolbe.

* *

*

Trở lại với trường hợp linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý và những lời chứng của thi sĩ và cũng là người tù nổi danh Nguyễn Chí Thiện, người ta rút ra được những nhận định tích cực sau đây. Trước hết nó chính danh vị thế, lời nói và những việc làm của cha Lý trong suốt hơn một phần tư thế kỷ vừa qua, nhất là thời gian tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo hiện nay. Nó là một lời cải chính hùng hồn những luận điệu xuyên tạc của những người cộng sản và những kẻ theo đuôi nhằm bôi bác hành vi và nhân cách cha Lý. Cũng như cha Jerzy Popieluszko, như đã đề cập trong phần đầu bài viết, cha Nguyễn Văn Lý đã hành xử một cách quân bình tư cách con người và ơn gọi linh mục của ông để như lời xưng tụng của tác giả "Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực": "Cha Lý xứng đáng là bậc trượng phu, ngửa mặt lên không thẹn với Trời, cúi mặt xuống không hổ với Ðất". Mai đây dù bất cứ chuyện gì sẽ xảy đến cho người tù lương tâm Nguyễn Văn Lý (như bị bạo hành trong nhà giam, bị giết chóc, thủ tiêu dưới hình thức này hay hình thức khác, hoặc vì bị áp lực quốc tế, Hànội phải trả tự do cho ông), thì nhận định của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện về con người và phong cách cha Lý hôm Chúa nhật 24-6-01 tại Ðại học Luật khoa George Mason vẫn mang giá trị những lời chứng khả tín cho mai sau. Cha Lý xứng đáng được kể vào số những chứng nhân Tin Mừng của Chúa Giêsu trong thời đại chúng ta. Ngoài ra, từ đấy công luận trong và ngoài nước cũng hiểu thêm được giá trị đích thực của những gì các linh mục Nguyễn Hữu Giải, Phan Văn Lợi và giáo dân Nguyệt Biều, An Truyền đã và đang đóng góp cho giáo hội và quê hương Việt nam hôm nay.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com