GIÁM MỤC: NGƯỜI PHỤC VỤ TIN MỪNG Thế Hùng
Vài Giòng Lịch Sử Ðọc trong Phúc Âm của bốn Thánh sử Matthêu, Matcô, Luca và Gioan, chúng ta không thấy đoạn nào có đề cập đến từ "giám mục" (tiếng Hy lạp là episkopos có nghĩa là giám thị). Chắc chắn là Chúa Giêsu có nhiều môn đệ (tiếng Hy lạp là discipulos) đi theo Ngài trong đó có Nhóm Mười Hai gọi là Tông đồ (tiếng Hy lạp apostolos có nghĩa là sứ giả) với Thánh Phêrô là đầu của Nhóm (Mt 10:2; Lc 6:13-16). Ngoài ra còn nhiều môn đệ khác nữa đáp ứng tích cực lời rao giảng Nước Trời của Chúa Giêsu (Lc 6:17) trong đó có Nhóm Bảy Mươi Hai (Lc 10:1). Chắc chắn, các Tông đồ là những người môn đệ thân cận với Chúa Giêsu được chính Ngài chọn và sai đi rao giảng cùng với Ngài. Ðồng thời, họ tiếp nhận các lời dạy dỗ của Chúa Giêsu, nhìn xem các hoạt động và làm theo giáo huấn của Ngài. Việc duy trì con số 12 Tông đồ rất quan trọng vì thế sau khi Giuđa đã phản bội Chúa Giêsu và treo cổ tự tử, Matthia được chọn làm Tông đồ để thay thế cho Giuđa; Matthia là người môn đệ đã từng sống với Chúa Giêsu cho đến biến cố khổ nạn và phục sinh của Ngài (Cv 1:21-26). Sau này từ Tông đồ còn được áp dụng cho trường hợp của Thánh Phaolô do gặp gỡ với Ðức Giêsu sống lại trên đường đi Damas (1 Cor 9:1) và do vai trò rao giảng cho dân ngoại của thánh nhân (Cv 9:15-16; 15:1-35). Ðồng thời từ Tông đồ còn để chỉ vai trò của Sylvanô, Timôtê (1 Thes 2:7), Barnaba (1 Cor 9:6; Cv 14:14). Dù thế nào đi chăng nữa các Tông đồ với Thánh Phêrô đứng đầu có vai trò lãnh đạo Hội Thánh và các ngài là những người do Thiên Chúa tuyển chọn, có đủ phẩm chất để bảo đảm việc rao giảng Tin Mừng đích thực của Ðức Kitô. Tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu trong lòng Giáo Hội và thế giới, các vị tông đồ đi rao giảng nhiều nơi, thành lập các cộng đoàn và đặt những người đức độ hướng dẫn. Ðây là những vị kế tục các tông đồ với tên gọi "giám mục" (Cv 20:28; Phil 1:1; 1 Tim 8:2; Tit 1:7; 1 Pt 5:1-3). Thật ra, trong những cộng đoàn do Thánh Phaolô thành lập, những vị đứng đầu Hội thánh địa phương này còn có thể gọi dưới một tên khác là "trưởng lão" (tiếng Hy lạp là presbyteros) (Cv 20:17,28; 1 Tm 3:2,5:17). Chính các vị này có phận sự gìn giữ sự hiệp thông của các cộng đoàn trong đức tin tông truyền chân thật từ các tông đồ với ân sủng của Chúa Thánh Thần và hiệp nhất trong cùng một phép rửa. Rõ ràng, các giám mục như những người kế tục các vị tông đồ đã trở thành một truyền thống sinh hoạt của Kitô giáo sơ khởi như được trình bày trong Tân Ước và còn được ghi lại trong các thư của những thánh tông phụ (Apostolic Fathers) như Thánh Clêmentê Giáo hoàng qua đời năm 97), Thánh Inhaxiô thành Antiôkia (50-107)... Trong Thư I gửi Giáo đoàn Côrintô, Thánh Giáo hoàng Clêmentê viết: "Nhờ Chúa Giêsu Kitô, các vị tông đồ của chúng ta biết rằng sẽ có xung đột tranh giành chức giám mục. Vì lý do này, sau khi đã nhận thức trước rõ ràng, các tông đồ chỉ định những người đã được đề cập, và sau đó thêm qui định rằng, nếu các vị này có qua đời, những người khác được chấp thuận sẽ kế tục công việc mục vụ của các ngài". Nhiệm Vụ Giám Mục Về chức vụ giám mục, trải qua 2000 năm lịch sử, mặc dầu có những thay đổi như về cách thức tuyển chọn giám mục hay việc thuyên chuyển giám mục từ toà này qua toà khác hoặc việc đề ra chức vụ giám mục hiệu toà, giám mục phụ tá, ba nhiệm vụ căn bản của một giám mục cai quản địa phận vẫn không đổi. Ðó là ba nhiệm vu:ï giáo huấn, thánh hoá và cai quản. Trong nhiệm vụ giáo huấn, các giám mục là người thầy dạy đức tin của giáo hữu qua việc rao giảng và gìn giữ đức tin tông truyền được Thiên Chúa trợ giúp qua ơn bất khả ngộ nghĩa là không sai lầm về huấn giáo đức tin và luân lý của Ðức Thánh Cha, tức Giám mục Rôma, và của Giám mục đoàn khi các ngài thi hành huấn quyền tối thượng cùng với Ðức Thánh Cha, đặc biệt khi được thực hiện trong các Công Ðồng Chung (Giáo Lý Công Giáo, 891). Ðiều cần nhấn mạnh ở đây, ngoại trừ Ðức Thánh Cha ra, các giám mục mặc dầu là những người kế vị các tông đồ, các ngài chỉ có đặc sủng giảng dạy đức tin và phong hoá một cách không sai lầm không phải với tư cách cá nhân nhưng là trong Giám mục đoàn và với sự hiệp thông với Ðức Thánh Cha. Một điểm cần phân biệt nữa giữa Ðức Thánh Cha và các giám mục khác, đó là chỉ có Ðức Thánh Cha là người kế vị một tông đồ riêng biệt là Thánh Phêrô, còn các giám mục khác cho dù là cai quản một toà do vị tông đồ nào lập ra đi chăng nữa thì các ngài chỉ được nhìn nhận như là kẻ kế vị các tông đồ với tư cách là một phần tử của giám mục đoàn mà thôi. Với nhiệm vụ thánh hoá, giám mục là thượng tế có trách nhiệm ban phát ân sủng của Ðức Kitô, vị tư tế tối cao, đặc biệt qua thánh lễ do chính ngài dâng hoặc các cộng sự viên là linh mục dâng, qua kinh nguyện, qua thừa tác vụ Lời Chúa, qua bí tích, và qua gương sáng trong lời ăn tiếng nói, trong cách sống thánh thiện (GLCG, 893). Với nhiệm vụ cai quản, các giám mục điều khiển Giáo hội địa phương bằng lời khuyên bảo, khích lệ, gương sáng, và cũng bằng uy quyền và quyền Thánh chức nữa nhằm xây dựng cộng đoàn trong tinh thần phục vụ của Ðức Kitô (GLCG, 894). Cần phải nhắc lại ở đây, các giám mục là những vị lãnh đạo, là chủ chăn của các tín hữu Giáo hội địa phương với quyền bính riêng biệt, thông thường và trực tiếp, và là "nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trong Hội Thánh địa phương" (Lumen Gentium, 23) , vì thế các ngài không phải là những đại diện của Ðức Giáo hoàng. Các giám mục có thể đặt ra luật lệ cho giáo hữu của mình, xét xử và qui định tất cả những gì liên hệ đến phụng tự và công việc tông đồ (LG, 27). Dẫu vậy, việc thi hành quyền bính của các giám mục còn tùy thuộc vào thẩm quyền tối cao của Hội Thánh và có thể bị giới hạn phần nào vì lợi ích của Giáo Hội hay của tín hữu (LG, 27). Bổ Nhiệm Giám Mục Vào những thế kỷ đầu của Hội Thánh, việc chọn giám mục đều do Giáo hội địa phương trực tiếp điều hành. Sau đó, để loại bỏ những lạm dụng trong việc chọn giám mục do sự khuynh đảo của các lãnh chúa địa phương, Toà Thánh đã dành quyền bổ nhiệm trực tiếp các giám mục. Mặc dầu tình trạng khuynh đảo của thế quyền như trước đây ắt ngày nay không còn nữa nhưng việc Ðức Thánh Cha trực tiếp bổ nhiệm giám mục trở thành một cách thế phục vụ cho lợi ích của Giáo hội. Mặc dầu nói rằng các giám mục đều do Ðức Thánh Cha trực tiếp bổ nhiệm, điều này không có nghĩa là ngài không có dựa vào ý kiến người khác nếu xét đến việc một năm Ðức Giáo hoàng đương kim Gioan Phaolô II phải bổ nhiệm trung bình 150 giám mục khắp thế giới. Vì thế Toà Thánhb có một tiến trình tuyển lựa giám mục gồm 4 giai đoạn trong đó vị sứ thần Toà Thánh ở một nước đóng vai trò quan trọng: * Bước 1: Ðức Khâm sứ điều tra nhu cầu của giáo phận đang thiếu giám mục dựa trên báo cáo của các giám mục khác đồng thời ghi nhận danh sách ứng viên do Hội đồng giám mục và các Ðức cha trong vùng tiến cử. Theo Giáo luật, ứng viên giám mục phải là 35 tuổi và chịu chức linh mục ít là đã được 5 năm. Với danh sách ứng viên trong tay, Ðức Khâm sứ gửi bản câu hỏi chi tiết và bảo mật đến những người có thể biết được đời sống cá nhân, đức tin, đạo hạnh cùng khả năng làm giám mục của ứng viên. Sau khi điều tra xong, Ðức Khâm sứ gửi về Toà Thánh một danh sách gồm 3 ứng viên khá nhất xếp theo thứ tự kèm theo hồ sơ về những ứng viên này. * Giai đoạn 2: Ngoại trừ những trường hợp liên quan đến các giáo phận vùng truyền giáo mà đa số là ở Á châu và Phi châu với việc đề cử giám mục do Thánh bộ Rao giảng Tin Mừng trông coi, báo cáo của vị Khâm sứ được gửi đến Thánh bộ Giám mục có trách nhiệm đề cử giám mục cho khoảng một nửa trong số 3.200 giáo phận trên toàn thế giới. Riêng việc chọn giám mục cho các giáo phận Công giáo theo nghi lễ Ðông phương thì có khác so với Giáo hội Latinh vì theo truyền thống từ xưa, các giám mục được bầu ra và tiến trình này được Thánh bộ Giáo hội Ðông phương coi sóc. Tại Thánh bộ Giám mục, một viên chức có nhiệm vụ kiểm lại hồ sơ do Ðức Khâm sứ chuyển đến để xem thử đã đủ và rõ ràng chưa. Sau đó, danh sách 3 vị ứng viên Giám mục được đưa đến Quốc Vụ khanh Toà Thánh, Thánh bộ Tín lý và Thánh bộ Giáo sĩ để liệu xem trong hồ sơ của các cơ quan này có thông tin nào liên can đến những ứng viên hay không, nhất là những báo cáo tiêu cực. Nếu ứng viên giám mục là một tu sĩ, thì tên của ứng viên cũng được gửi đến Thánh bộ các Dòng tu. Báo cáo sau khi hoàn tất được đóng thành cuốn và gửi đến Ðức Thánh Cha và Ðức Hồng y Tổng trưởng cùng những Giám mục thành viên của Thánh bộ Giám mục. Một ngày điều trần về việc này được đưa ra tại cuộc họp mỗi tháng 2 lần của Thánh bộ Giám mục. * Giai đoạn 3: Trong số khoảng 40 thành viên của Thánh bộ Giám mục, chỉ có độ một nửa là có thể tham dự những cuộc họp thường kỳ vì những thành viên khác hoặc bận bịu công việc hoặc ở xa. Sau khi danh sách ứng viên được đưa ra bàn thảo thì được đưa ra bỏ phiếu với kết quả phải được ghi lại rõ ràng. * Giai đoạn 4: Trong cuộc họp sáng thứ Bảy hàng tuần với Ðức Thánh Cha, vị Tổng trưởng Thánh bộ Giám mục trình lên ngài một bản tóm tắt về các ứng viên cùng với những đề nghị cá nhân. Trong đa số trường hợp, Ðức Thánh Cha chấp thuận ứng viên do Thánh bộ đề nghị. Nhưng đôi khi, nếu không có người nào trong danh sách 3 ứng viên được Ðức Thánh Cha thấy thoả mãn, hồ sơ 3 vị này được trả lại cho Ðức Khâm sứ và tiến trình tuyển chọn ứng viên giám mục lại bắt đầu. Theo một số người thạo về việc tuyển chọn giám mục, Ðức Gioan Phaolô II đặc biệt chú ý đến ứng viên nào có sự kiên cường, có tinh thần truyền giáo và chú ý đến việc rao giảng cũng như cổ võ ơn gọi. Thời gian từ khi báo cáo danh sách 3 ứng viên giám mục của Ðức
Khâm sứ gửi đến Toà Thánh cho đến khi có quyết định cuối cùng
phải mất 6 đến 15 tháng và có khi dài hơn trong trường hợp ứng
viên sẽ làm giám mục ở giáo phận lớn. Thượng Hội Ðồng Giám Mục Như trình bày ở trên, là chủ chăn Giáo hội địa phương, các giám mục có trách nhiệm và quyền hành trực tiếp, riêng biệt và thông thường. Ðây cũng là biểu hiện mối quan tâm đến toàn thể Hội Thánh của các giám mục bởi vì bằng cách "điều khiển khéo léo Hội thánh địa phương là một phần Giáo hội phổ quát... các giám mục đã góp phần hữu hiệu cáo công ích của toàn Nhiệm Thể là thân thể của Giáo hội" (LG 24). Tuy thế, các giám mục với tư cách là những phần tử của Giám mục đoàn dù không có thực hành quyền mục vụ trên các Giáo hội địa phương khác, các ngài cũng phải để tâm chăm lo, săn sóc đến toàn thể Hội Thánh nhằm phát huy và bảo vệ sự hiệp nhất đức tin và kỷ luật chung của Hội Thánh (LG, 23). Ngoài việc thi hành quyền bính cách trọng thể và tối thượng trong những Công đồng chung và được thi hành với sự ưng thuận của Ðức Thánh Cha là thủ lãnh Giám mục đoàn đồng thời là "nguyên lý và nền tảng hữu hình, vĩnh cửu của sự hiệp nhất giữa các giám mục cũng như giữa các tín hữu" (LG, 23), các giám mục còn bày tỏ sự hiệp thông của toàn thể Giáo hội qua những cơ cấu mục vụ khác như Giáo tỉnh gồm các Giáo hội địa phương lân cận, Hội đồng Giám mục của từng quốc gia, Liên Hội đồng Giám mục của từng châu lục, rồi Thượng Hội đồng Giám mục cho cả thế giới. Ðiều cần nên nhớ là cho dù đóng một vai trò quan trọng trong việc diễn tả sự hiệp thông Giáo hội, những cơ cấu trên đây với vai trò và quyền hạn phải được sự chấp thuận của Toà Thánh. Thể theo lời yêu cầu của nhiều nghị phụ trong Công đồng Vatican II, ngày 15/9/1965, Ðức Thánh Cha Phaolô VI ban Tự sắc Apostolica sollicitudo thành lập một cơ cấu mới là Thượng Hội Ðồng Giám Mục nhằm phát huy sự đồng trách nhiệm và hiệp thông của các giám mục đối với Giáo hội hoàn vũ. Theo lời Ðức Gioan Phaolô II thì cơ cấu này diễn tả tính cách tập đoàn (collegiality) của giám mục ở một mức cao cho dù không có được như Công đồng chung. Theo Giáo luật, Thượng Hội đồng Giám mục là một đại hội gồm các giám mục được tuyển chọn từ nhiều miền khác nhau trên thế giới, tụ họp lại vào những thời kỳ được ấn định với 3 mục đích. Trước hết, cơ cấu này cổ võ sự hiệp nhất chặt chẽ giữa Ðức Thánh Cha và các giám mục qua việc cùng nhau bàn thảo những vấn đề ảnh hưởng đến Giáo hội hoàn vũ. Thứ hai, Thượng Hội đồng qua những ý kiến của các giám mục trên thế giới giúp Ðức Thánh Cha thực thi mục vụ của ngài để làm thế nào gìn giữ và tăng tiến đức tin và luân lý. Cuối cùng, Thượng Hội đồng xem xét những vấn đề liên quan đến sinh hoạt của Giáo hội trên thế giới. (Giáo Luật, 342). Có 3 loại Thượng Hội đồng Giám mục: Ðại hội Thông thường, Ngoại thường, và Ðặc biệt. Thượng Hội đồng Giám mục Thông thường họp mỗi 3 năm một lần. Từ năm 1967 đến nay đã có 9 Thượng Hội đồng Giám mục thông thường bàn về những đề tài khác nhau: Những vấn đề tồn đọng của Công đồng (1967), Mục vụ linh mục và Công bình thế giới (1971), Phúc âm hoá (1974), Giáo lý (1977), Gia đình Kitô hữu (1980), Hoà giải và Thống hối (1983), Tín hữu giáo dân (1987), Ðào tạo Linh mục (1990), Ðời sống Thánh hiến (1994). Còn Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới kỳ X sắp đến lẽ ra đã được tổ chức vào năm ngoái, nhưng vì nhiều có biến cố diễn ra trong Ðại Năm Thánh 2000, cuộc Hội nghị đã được dời đến tháng 10 năm nay. Còn Thượng Hội đồng Giám mục Ngoại thường có thể được Ðức Thánh Cha triệu tập để bàn thảo về những vấn đề có tầm mức quan trọng đặc biệt đối với cả Giáo hội. Năm 1969, Thượng Hội đồng Giám mục bất thường dưới triều Ðức Phaolô VI thảo luận những cách thế áp dụng tính chất hiệp đoàn của giám mục với Ðức Thánh Cha. Rồi năm 1985, Ðức Gioan Phaolô II triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường để đánh giá lại việc áp dụng những sắc lệnh của Công đồng Vatican II nhân kỷ niệm 20 năm bế mạc. Riêng Thượng Hội đồng Giám mục đặc biệt giải quyết những vấn đề ảnh hưởng đến một giáo hội địa phương hay vùng. Gần đây là những Thượng Hội đồng Giám mục Ðặc biệt cho vùng Phi châu (1994), Mỹ châu (1997), Á châu (1998), Ðại dương châu (1998), Âu châu (1999). Về quyền hạn của Thượng Hội đồng Giám mục, Ðức Phaolô VI trong tự sắc Apostolica sollicitudo nói rõ đây là một cơ quan tham vấn thường trực của các giám mục cho Giáo hội hoàn vũ được đặt trong sự phục tùng trực tiếp quyền bính của Ðức Giáo hoàng. Ðiều này có nghĩa là Ðức Thánh Cha có thẩm quyền trên việc triệu tập và chỉ định nơi hội họp, phê chuẩn những thành viên được bầu theo quy luật định và chỉ định những thành viên khác, ấn định đề tài, hoạch định chương trình nghị sự, đích thân hay nhờ người khác chủ toạ Thượng Hội nghị, bế mạc, di chuyển hay giải tán Thượng Hội nghị (GL 344). Sau các Thượng Hội đồng Giám mục Thông thường, Ðức Thánh Cha ban các Tông huấn như là kết quả của sự hợp tác hiệp thông giám mục trong Hội nghị mặc dầu Ðức Thánh Cha có thể chấp nhận hay bác bỏ ý kiến của các đại biểu dự hội. Kết Luận Qua mọi thời, Giám mục được Thiên Chúa trao cho nhiệm vụ giáo huấn, thánh hoá và cai quản nhằm phục vụ Tin Mừng của Ðức Giêsu Kitô. Các ngài công bố Tin Mừng bằng lời, cử hành Tin Mừng trong phụng vụ, sống và loan truyền Tin Mừng qua mục vụ tông đồ. Khi thiên niên kỷ thứ 3 đang bắt đầu với những niềm hy vọng lẫn thách đố lớn lao đặt ra cho toàn thể nhân loại, công cuộc rao giảng Tin Mừng cho muôn dân theo lệnh truyền của Chúa Giêsu đòi hỏi những nỗ lực canh tân của cả Giáo Hội trong đó với cương vị mục tử, các giám mục hiệp thông với vị thủ lãnh của giám mục đoàn là Ðức Thánh Cha cần có những cuộc thảo luận kỹ càng nhằm phục vụ hữu hiệu hơn sứ mạng này. Ðó là lý do của Thượng Hội đồng Giám mục kỳ X vào tháng 10 sắp đến với nhiều đề nghị khác nhau về mục vụ của giám mục như được trình bày trong "Tài liệu làm việc" (Intrumentum Laboris) của Thượng Hội đồng. Ðiều quan trọng để công cuộc phục vụ Tin Mừng đem được sinh hoa kết trái, đó là các giám mục cần luôn ý thức về việc "thi hành vai trò của mình trong tình cha con, trình bày chính mình như là những người kế thừa của các tông đồ không chỉ theo cái nhìn quyền bính các ngài thực thi, nhưng với cách thế các ngài sống Tin Mừng, tức là trong sự gắn bó với điều các ngài công bố, trong sự hy sinh khi làm việc tông đồ, trong sự chăm sóc yêu mến và xót thương người tín hữu, đặc biệt là người nghèo, người túng thiếu, và người đau khổ. Như thế, các giám mục sẽ là dấu chỉ sống động của Ðức Kitô giữa Dân Chúa và sự cai quản mục vụ của các ngài sẽ đúng là một sự công bố Tin Mừng Hy Vọng... Bằng một lối sống đơn giản và bình dị, Giám mục phải là dấu chỉ sống động của Ðức Kitô, Ðấng là Chúa và là Thầy đã rửa chân cho các môn đệ. Các ngài nên suy nghĩ những đặc điểm của Ðức Giêsu như được ghi lại trong Phúc Âm và tính cách của Chúa như là "Con Thiên Chúa" thật (cf. 2 Tim 3:1)". Chắc chắn rằng với những thành quả thiêng liêng dồi dào mà Giáo Hội đã được từ Thiên Chúa trong Ðại Năm Thánh 2000, công cuộc loan truyền Tin Mừng dưới sự dẫn dắt của các giám mục thánh thiện sẽ đem lại niềm hy vọng cứu độ cho nhiều người trên thế giới đang khao khát nhận lãnh. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |