NHẬN ÐỊNH VÀ KIẾN
NGHỊ Hồng Minh LTS: Nhân phái đoàn Toà Thánh đến Việt Nam từ 11-17/6/2001 để thảo luận với nhà nước về những vấn đề liên quan đến Giáo hội, Hồng Minh, bút danh của một giáo hữu tại quê nhà, đã có bài viết dưới đây. Mặc dầu bài viết ra cách đây vài tháng nhưng nhận thấy nội dung căn bản vẫn là những thao thức của người Kitô hữu đang yêu cầu chính quyền CSVN phải tôn trọng tự do tôn giáo thật sự, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn dưới đây. VÀO ÐỀ: Không ai chối cãi được rằng thời gian vừa qua nhất là trước Ðại Hội IX của Ðảng Cộng Sản Việt Nam có một số vấn đề nổi cộm trên các phương tiện truyền thông và sinh hoạt chính trị trong và ngoài nước. Ðó là các sự kiện liên quan tới một số đồng bào dân tộc trên Cao Nguyên và vấn đề linh mục Nguyễn Văn Lý. Dù cho những sự khiện ấy phát xuất từ đâu - từ trong nước hay từ nước ngoài - và do ai chủ trương - do chính phủ Hoa Kỳ hay do tổ chức người Việt hải ngoại hay do chính các đương sự trong nước - thì chúng ta cũng nên nghiên cứu để có cái nhìn chính xác và đưa ra một số đề xuất xây dựng. I. NHẬN ÐỊNH Ðặt Vấn Ðề: 1.1 Dù rằng các bộ Nhà Nước từ cấp Trung Ương đến cấp địa phương vẫn thường nhắc đi nhắc lại là Nhà Nước và Luật Pháp tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của người dân Việt Nam thì khẳng định ấy vẫn chưa đủ sức thuyết phục các tín hữu. thành tâm yêu nước và yêu Giáo Hội và muốn cho Giáo Hội gắn bó với quê hương đồng bào mình. 1.2 Dù Nhà Nước đã dùng mọi phương tiện thông tin đại chúng mà Nhà Nước sở hữu trong tay: truyền hình, phát thanh, báo chí để đưa tin về vụ Lm Lý . và kết tội Lm Lý thì cũng không thể thuyết phục được dân chúng Công giáo tin rằng Lm Lý phạm pháp như báo chí và đài đã đưa tin. 1.3 Dù không một Giám Mục Việt Nam nào lên tiếng về vụ Lm Nguyễn Văn Lý, cũng không có nghĩa là các ngài đồng tình với cách giải quyết của Nhà Nước trong vụ việc này. Dù các Giám Mục, nhiều linh mục và rất nhiều giáo dân không đồng tình với cách làm của Lm Lý cũng không có nghĩa là giới Công giáo Việt Nam không tán thành một số nguyện vọng và đòi hỏi của Lm Lý. Sự Kiện: Tại sao lại có tình trạng trên? - Tại vì sự kiện rành rành mà ai cũng thấy là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã và vẫn đang bị Nhà Nước Việt Nam khống chế chặt chẽ trong nhiều lãnh vực hoạt động của mình. Một số vụ việc cụ thể nổi bật nhất: 2.1 Vấn đề Qui chế Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam và Hoạt động của các Ban thuộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam: Tuy Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam có được một số sinh hoạt (hội họp, đi nước ngoài) nhưng cho đến nay Qui Chế của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam vẫn chưa có tính cách pháp lý, vì giữa các Giám Mục và Nhà Nước Việt Nam chưa có sự nhất trí về một điều khoản rất quan trọng. Ðó là Nhà Nước đòi trong Qui Chế Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam phải có lời cam kết trung thành với "chế độ xã hội chủ nghĩa tức chế độ cộng sản." Yêu cầu này là "không tưởng" và quá đáng; và không một vị Giám Mục Việt Nam nào tán thành. Lý do là chỉ có dân mới vạn đại, còn quan - tức chế độ - thì chỉ có tính nhất thời mà thôi. Vì Qui Chế Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam chưa được thông qua, nên hoạt động của các Ban thuộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam chưa được nhìn nhận. Cũng vì Qui Chế HÐGMVN chưa được thông qua, nên tính cách thành viên Liên Hội Ðồng Giám Mục Châu Á (FABC) của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam chưa được nhìn nhận, khiến mối quan hệ giữa Giáo Hội Việt Nam và các Giáo Hội Á Châu khác còn gặp nhiều khó khăn. 2.2 Vấn đề bổ nhiệm các Giám Mục: Hiện nay có 3 giáo phận thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội là Hưng Hoá, Hải Phòng và Bùi Chu đều trống toà [Bùi Chu vừa mới có Giám mục Chính toà Hoàng Văn Tiệm được thụ phong ngày 8/8 vừa qua]. Giáo phận trống toà từ nhiều năm nhất là Hưng Hoá rồi đến Hải Phòng. Người ta vẫn trông chờ có các giám mục được bổ nhiệm cho các giáo phận này mỗi lần có phái đoàn Toà Thánh sang làm việc với Chính Phủ Việt Nam. Nhưng cũng đã nhiều lần phái đoàn đã sang mà các toà giám mục của ba giáo phận ấy thì vẫn trống toà. Nay phái đoàn Toà Thánh lại sắp sang một lần nữa và người ta đặt nhiều hy vọng là Nhà Nước Việt Nam sẽ có thái độ cởi mở hơn, vì Ðại Hội IX còn đang nóng hổi. 2.3 Vấn đề ấn định con số chủng sinh gia nhập Ðại Chủng Viện: Một vấn đề khác là từ xưa đến nay Nhà Nước vẫn quản lý theo tinh thần khống chế việc tuyển sinh các thanh niên muốn làm linh mục bằng hai cách: a) Cách thứ nhất là ấn định hai ba năm chủng viện mới được chiêu sinh một lần. b) Cách thứ hai là khống chế con số chủng sinh cho mỗi tỉnh mỗi đợt chiêu sinh. Sự khống chế này hết sức máy móc, vì có tỉnh có nhiều người Công giáo thì số thanh niên muốn đi tu sẽ đông hơn. Còn tỉnh nào có ít người Công giáo thì đương nhiên số thanh niên muốn đi tu sẽ ít hơn. Không thể theo phương cách chia đều, cào bằng mà Nhà Nước Việt Nam vẫn quen làm từ thời bao cấp. Bằng hai biện pháp khống chế này, không bao giờ các giáo phận có đủ số linh mục để đáp ứng nhu cầu của các họ đạo và có thể đóng góp vào việc thăng tiến xã hội, vì số tân linh mục ra trường không đủ để thay thế số linh mục già yếu bệnh tật và chết mỗi năm. Bằng chính sách này, Nhà Nước thực hiện việc hạn chế, bóp chết dần dần Giáo Hội mà vẫn cứ tuyên bố ồn ào là Nhà Nước tôn trọng tự do tôn giáo! 2.4 Vấn đề các chủng sinh mãn trường gặp khó dễ trong việc được truyền chức linh mục. Với hai biện pháp trên Nhà Nước đã thu hẹp cách đáng kể sinh hoạt của mỗi giáo phận. Nhưng không chỉ có thế. Sau khi học hết chương trình, các chủng sinh còn bị Nhà Nước địa phương "sát hạch" (đúng hơn là làm khó dễ) một lần nữa trước khi được chịu chức linh mục. Cách "sát hạch" này chỉ tạo ra phiền hà cho các đương sự và cho các Toà Giám Mục. Hơn nữa cách làm ấy đôi khi khiến tiêu cực nẩy sinh (quà cáp, thậm chí đút ló mua chuộc cán bộ tôn giáo và công an để được làm linh mục) làm méo mó và trần tục hoá ý nghĩa của một công việc rất ư thánh thiện. 2.5 Vấn đề các dòng tu không được tuyển sinh ơn gọi: Ðối với các thanh niên muốn làm linh mục giáo phận (triều) thì Nhà Nước có những biện pháp chặt chẽ và khó khăn như thế. Nhưng đối với việc các thanh niên nam nữ muốn tu Dòng thì còn khó khăn hơn nhiều. Hầu hết các tu sĩ trẻ của các Dòng hiện nay đều ở trong tình trạng "tu chui." Tình trạng này không thể kéo dài hơn nữa. Nhà Nước cần phải bàn bạc với lãnh đạo Giáo Hội để có một qui định rõ ràng, cởi mở để thanh niên nam nữ nào muốn đi tu thì họ hoàn toàn tự do đi tu. Việc nhận họ vào Dòng tu hay không là do các Dòng quyết định. Cố lắm thì Nhà Nước có thể đưa ra một vài tiêu chuẩn khách quan: phải là người đạo đức, người có học, người chu toàn bổn phận công dân . trước khi muốn bước vào đời tu. Không để các Dòng Tu tự do thu nhận các ơn gọi thì có khác chi là làm các Dòng Tu chết dần chết mòn . vì không có người thừa kế. 2.6 Vần Ðề Huấn Luyện Ðào Tạo Giáo Dân & Sinh Hoạt Các Hội Ðoàn: Không thể hình dung ra là có tự do tôn giáo mà các giáo hội không có tự do tổ chức những sinh hoạt tối cần thiết như phượng tự và huấn giáo. Cho đến nay trong lãnh vực phượng tự thì khó khăn không lớn, nhưng trong lãnh vực huấn giáo tức huấn luyện đào tạo, sinh hoạt hội đoàn thì có quá nhiều hạn chế và nhiêu khê. Cần phải thay đổi càng sớm càng tốt tư duy và cách làm của cán bộ Nhà Nước từ cấp Trung Ương đến cấp địa phương (tỉnh/thành, quận/huyện, xã/ phường) về lãnh vực này. 2.7 Vấn đề các linh mục, tu sĩ Việt Nam ở nước ngoài về giúp Giáo Hội trong nước: Trong địa hạt kinh tế, khoa học, kỹ thuật thì Nhà Nước có những chính sách khuyến khích người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài về nước để tham gia đóng góp vào việc làm giầu cho đất nước. Thế tại sao Nhà Nước lại tỏ ra quá khó khăn trong lãnh vực tôn giáo. Có bao nhiêu linh mục, tu sĩ Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài muốn về Việt Nam (ngắn hoặc dài hạn) để đóng góp vào việc xây dựng và canh tân Giáo Hội trong nước . Tại sao chúng ta không có chính sách thoả đáng? Phải chăng một dân tộc có thể trở thành văn minh, tiến bộ mà không cần đến đạo đức, tôn giáo mà chỉ cần đến các khoa học kỹ thuật, tư bản là đủ. Lịch sử các dân tộc cho chúng ta thấy con người sẽ tự hủy hoại mình như thế nào nếu không biết sống theo các chuẩn mực luân lý, đạo đức, tôn giáo. II. KIẾN NGHỊ Khi chúng tôi nêu lên những sự kiện trên thì bạn đọc và Nhà Nườc thừa biết chúng tôi muốn kiến nghị những gì rồi; thiết tưởng chẳng cần phải viết ra đây. Chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh hai điều: Ðiều thứ nhất: Việc làm chỉ đúng đắn khi xuất phát từ tư duy đúng đắn. Nhìn vào cách quản lý tôn giáo của Nhà Nước hiện nay, người Công giáo có quyền tự hỏi là những người Nhà Nước soạn thảo các qui định về tôn giáo và những cán bộ thực thi các chính sách tôn giáo liệu đã có được một tư duy đứng dắn về tôn giáo chưa? Thế có nghĩa là việc đầu tiên cần làm là thay đổi tư duy tôn giáo. Có đổi mới tư duy về tôn giáo thì mới đổi mới được cách quản lý tôn giáo. Ðiều thứ hai: Cách quản lý văn minh nhất là quản lý bằng pháp luật. Mà pháp luật đáng trân trọng và duy trì nhất làpháp luật thực sự vì con người và vì hạnh phúc của người dân. Muốn thế thì pháp luật phải là pháp luật mở chứ không thể là pháp luật đóng, phải là pháp luật phát huy thiện chí và tiềm năng chứ không thể là pháp luật làm "thui chột và bóp chết" thiện chí và tiềm năng. KẾT LUẬN: Sau những chuyến đi nước ngoài, tôi càng ngày càng thấy rõ điều này: Nhà Nước ta muốn quản lý tốt tất cả mọi lãnh vực sinh hoạt của người dân. Nhưng trong thực tế thì duy chỉ có trong lãnh vực chính trị và tôn giáo là Nhà Nước quản lý chặt chẽ, còn trong mọi lãnh vực khác thì Nhà Nước đều quản lý một cách lỏng lẻo. Quốc nạn tham nhũng hối lộ, nạn chiếm hữu tài sản quốc gia và các tệ nạn xã hội khác như mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, ma tuý, phá thai, HIV v.v... đang tràn lan và trầm trọng như hiện nay cũng do cách quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chính quyền là những cơ quan có trách nhiệm bảo vệ pháp luật, bảo vệ sự an lành của cả dân tộc. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |