TỰ THUẬT

(Kỳ 13)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

 

Trốn Lần Thứ Hai  (tiếp)

Công việc của con xuôi trôi được hai tháng, thì lại xẩy ra một cuộc đàn áp bất công.

Và vì thế con mới lại phải trốn ra đi một lần nữa.

Không được xử cách thẳng thắn nơi người có quyền xử. Lại phải một anh cậu lớn, nhân thấy con trái mà ăn hiếp, để trả thù cho những câu con trả lời không được vừa ý anh ta.

Hôm ấy, mùa gặt đã xong. Nhưng trong sân phơi, rơm, lúa còn bề bộn. Nhân buổi chiều vắng cha xứ. Cha xứ đi chơi tổ tôm ở nhà cụ tiên chỉ. Cơm chiều vừa xong, thày già và cánh cậu lớn dắt nhau đi dạo làng...

Lũ cậu bé chúng con, cả thảy bẩy anh, kể cả những anh cha mẹ giữ để đi học lợi dụng được một buổi chiều hiếm hoi. Chúng con rủ nhau chơi cách "giàn trận" và "tác chiến." Chia người làm hai nước Nhật Pháp ra đánh trận giả. Những anh có vẻ bệ vệ cho nhập vào quốc tịch Pháp, còn những anh hom hem, nhỏ nhắn, cho xung vào đoàn quân Nhật. Tất nhiên, con được liệt ngay vào đoàn quân anh dũng của Nhật-bản. Hơn nữa họ tôn con lên làm tướng, vì có cặp mắt thẳng thắn như "ông Nhật" mọi đàng.

Sau khi đã chia địa giới, lấy các ụ rơm trong sân làm ranh giới. Chúng con bắt đầu gây truyện tác chiến. Bên quân Pháp có một anh làm đại tướng đội mũ lưỡi trai có đến hằng chục chiếc ngôi sao gắn trên vành, và ba anh lính. Còn bên Nhật chỉ có một ông đại tướng, và hai tên lính. Thế nhưng họ yêu đại tướng của họ đáo để. Họ vừa là lính, mà cũng vừa làm ngựa cho đại tướng cưỡi nữa. Mà đại tướng của họ cũng yêu họ như đại tướng cả. Hễ khi thấy họ chạy mệt thì đại tướng lại chịu khó làm ngựa cho đại tướng cưỡi. Nhưng không khi nào hai tên lính dám ngồi lên vai của đại tướng sốt cả. Họ thấy đại tướng tử tế với họ, nên họ càng tử tế với đại tướng.

Con bên các anh Pháp, anh nào cũng chỉ thích cưỡi ngựa và bắn súng, nên cứ cãi nhau hoài. Chúng con dùng khí giới bằng gươm gỗ, còn súng thì dùng bằng pháo, súng máy dùng bằng thứ pháo xiết.

Hai bên kháng chiến kịch liệt. Máy bay cứ từng đoàn "một chiếc" đi bỏ bom lung tung. Tiếng súng nổ lạch đạch làm phấn chấn quân sĩ. Ban đầu, Nhật thua, rút lực lượng về thủ đô ở một góc sân. Sau, may hạ được hai chiếc máy bay đi thám thính. Bởi vì họ đi sâu vào địa giới Nhật quá, đến lúc bị máy bay của đại tướng Nhật đuổi, họ mở hết tốc lực mà cũng không kịp trốn thoát. Ðành phải hạ cánh, xin đầu hàng.

Ðại tướng thấy cần quân, nên cho họ tự do, không bắt làm tù binh. Thế là họ xin xung vào quân đội Nhật. Lực lượng của đại tướng Nhật do đó thêm mạnh và phản công một cách đắc lực. Pháp thua, bỏ cả kho khí giới, chạy tuốt xuống rừng. Ðại tướng Nhật lúc này mới kịp vặn khăn làm một chiếc mũ "xung phong" đội lên đầu. Tuốt gươm trần, nhẩy phắt lên ngựa, rồi hô quân: đuổi!

Quân Nhật, nhất định là phải bắt sống ông đại tướng Pháp, hoặc làm cho ông ta phải ra hàng, mới chịu thôi.

Ðang lúc ấy, một chiếc máy bay Nhật, bay quá trớn, lọt vào rừng một cách lẻ loi, bị quân Pháp thọp mất. Ðại tướng Nhật nóng gáy, hò hét thật lực. Quân sĩ của đại tướng cũng chẳng kém hùng hổ, họ mím chặt hai môi lại, gầm lên như tiếng máy bay, và xe tăng, rầm rộ, dọa nạt đối phương kịch liệt.

Cuộc chơi đang vui, và đang có trớn. Không may, một anh cậu lớn đi dạo làng về sớm, thấy lũ bé chơi nghịch dại dột. Cậu ta trừng trộ tiến thẳng về phía đống rơm cạnh rừng la mắng om sòm.

Thấy vậy, con nói một câu khôi hài cho cậu ta cười để khuây nóng đi:

- Ả, "me-sừ" đi không gặp "ba đầm" hay sao mà coi bộ nóng nẩy thế? Mấy anh lính Nhật phát lên cười khúc khích. Cậu kia cũng cười, nhưng lại làm nghiêm ngay và nói:

- Thằng chỉ láo toét!...

- Toét? chả biết ai toét đấy?... Tối hôm qua chả biết đứa nào, bá vai đứa nào... ở xó cổng nhà khách ấy..., lại còn... toét?...

Lũ Nhật non lại xao xao nói tướng lên rằng?

- Ê!.. quả tang nhé! Quả tang nhé!...

- Thằng khỉ Văn, trẻ con với mày đấy à?

- Con nhíu lông mày, nhẩy xuống ngựa, rút ở trong túi ra một bộ râu "ghi-đông" giả, cắm vào hai lỗ mũi, rồi con đáp:

- Hè! chắc gì anh đã có râu như tôi, mà anh dám bảo tôi trẻ con?... Cậu kia thấy vẻ ngộ nghĩnh, phát phì cười, nhưng lại lập nghiêm ngay, cậu ta sấn lại gần con hạch:

- Mày gọi ai là anh, và xưng tôi với ai đây?

- Ai gọi tôi là thằng, và xưng tao với tôi trước?

- Tao đây. Và không để cho con trả lời, cậu ta lên mặt lớn nói ngay với con:

- Muốn sống đem nộp pháo và diêm đây.

- Anh nói thật hay anh nói chơi?

- Tao phải chơi với mày à?

- Thế thì tôi cũng nói thật với anh: Tôi không đưa.

- Thật không?

- Thật. Anh lấy quyền ai?

- Quyền tao.

- Quyền của anh có ở ngoài chuồng ngựa ấy...

- Thật chứ?

- Ừ đấy.

- Quân chó Ngăm, chơi dại, người ta bảo lại còn bướng.

- Anh bảo gì? Anh có muốn chơi pháo, xin thì tôi cho. Chứ anh lại làm ra cái bộ mặt ông lớn đi ăn hiếp, thì có chắp tay lậy, tôi cũng chẳng cho. Tồi ở đâu ấy? Cứ tưởng mình lớn, là muốn hiếp tróc ai cũng được?

Nói rồi, con quay nói với quân đội của con:

- Anh em, tiếp tục...

Quân Pháp nhân cơ hội, lại lủi về sân chiếm lại căn cứ. Quân đội Nhật lại phải kéo nhau về kháng chiến. Nhưng đại tướng đã ra lệnh, đừng bắn súng nữa. Cuộc chơi do đó đã bớt vui đi nhiều lắm.

Cậu kia thấy con trả lời thẳng thắn, mặt gầm gầm, vừa quay đi vừa đe:

- Ðược rồi, để thày già về tao sẽ mách. Một chốc, lại thấy anh ta đi gây lộn với đại tướng Pháp. Ðại tướng Nhật, lên ngựa theo quân về thủ đô, và phát thanh cho bên Pháp hay rằng: Quân ai chạy xuống rừng nữa là thua. Rồi hai bên lại kháng chiến.

Một lần nữa, quân Pháp cứ lần lần thụt xuống phía rừng. Gần thua... Thì lại một lần nữa, anh cậu lúc nẩy đến làm cản trở đại tướng Nhật:

- Văn, đã bảo mà mày còn bướng hữ?

- Bướng gì? tôi có đốt pháo nữa đâu? Còn tôi chơi tôi vẫn chơi. Ai cấm chơi giờ này?... Không trả lời, anh ta hằm hằm chạy đi lấy cái dùi trống, tiến lại gần con. Lũ Nhật sợ, bảo nhau chạy trốn hết, cả con ngựa của đại tướng cũng vứt đại tướng xuống đất rồi tẩu thoát. Chỉ còn một mình đại tướng đứng yên, và cương quyết giữ vững địa vị "đại tướng"

Anh cậu lăm lăm cầm dùi trống trên tay, hạch:

- Bây giờ, giỏi, mày cứ nói bướng đi với ông xem nào?

- Bướng gì? Anh bảo phải thì tôi nghe, chứ ai cho phép anh lạm quyền trên mà cấm chúng tôi thế nọ với thế kia? Anh đừng có giở cái trò cá lớn nuốt cá bé mà hạch lạc tôi làm gì. Tôi đây cũng có quyền bằng anh, nếu tôi giữ đúng địa vị tôi.

- Mày bảo ai là cá lớn nuốt cá bé đấy?

- Anh.

... Bốp!

- Quân chó! chỉ tài ăn hiếp!

- Mày bảo ai ăn hiếp đấy? Và giơ thẳng cánh giáng cho con hai dùi trống vào bắp chân. Hết vẻ oai vệ của một vị đại tướng, con ngã khụy ngay tại chỗ. Ðến đây, con chỉ còn biết nằm ôm chân mà rên xiết, hơn là tìm ra lẽ phải để mà kháng cự với anh cậu kia.

Ðánh con xong, cậu ta lủi hủi vác dùi trống đi, miệng còn lẩm bẩm:

- Cho chết..., đại tướng Nhật à! Ông cho què một chân... Cậu ta còn đe, tối nay sẽ đem mách với thày già về vụ đó. Mà thật tối ấy, cậu ta đem câu truyện đi thưa với thày già và thêm bớt thế nào để cho cái việc quan cậu đánh con là vô can. Theo luật, cậu ấy đánh con là một lỗi nặng. Nhưng ông già thì bây giờ còn luật phép nào nữa?...

Lại mấy anh cậu lớn đã bị nhà trường thử thải về, ăn cánh với ông, thành thử ông tha hồ hoành hành lũ cậu bé. Những đứa trẻ mà đời tu ở đấy đã biến chúng thành một thú đồ chơi có lợi. Ông già đã ghét con sẵn, nay nghe có dịp tốt, ông tính sẽ để cho cha xứ đi làm phúc rồi ở nhà một mình ông làm chúa, rồi ông mới đem vụ "đốt pháo giữa sân rơm" ra xử...

Suốt đêm ấy con nằm suy nghĩ, đắn đo, và cầu xin ơn soi sáng. Con cũng biết trốn đi là nớt đảm. Không nhẽ vì sợ một trận đòn mà con trốn? Vả nữa, ở đây tuy những người trên không ưa con lắm, nhưng phần đông các cậu bé điều có thiện cảm với con, và có lúc dường như họ vẫn cần phải có con sống với họ.

Dẫu thế, nghĩ đến chiếc roi mây bện tám, vung lên, với nét mặt thù ghét của ông già, con lại cảm thấy thất kinh. Rồi con lại tự kết tóm: Ta cần phải trốn thoát nơi này. Ta cần phải tự tìm lấy một nhà tu chính đáng để tu thân, và để sửa soạn cho điều nguyện ước làm linh mục của ta được rõ rệt.

A! Lậy Chúa, nếu Chúa muốn con làm linh mục, thì con quyết sẽ là một cha xứ chiếu giãi tình yêu thương của Chúa cho các linh hồn. Con ước ao được làm linh mục! Con khao khát cho danh Chúa được rạng tỏ. Mà sự khao khát ấy thôi thúc con như nai rừng tìm suối nước trong lành...

Thế mà ở đây, người ta đã cố ý chôn vùi cái ý nguyện tốt đẹp nhất của đời con đi. Thay vì lo cho con thành một vị linh mục, thì người ta lại bắt con phải chăm chú đến đàn vịt, đến địa vị làm bồi cho cụ xứ. Những cái ấy có thể làm con phẩn uất. Con nhất định trốn đi. Và sẽ không về nhà nữa. Con chỉ có ý tìm kiếm một chốn tu chân chính. Lời mẹ khi này có âm vang qua tâm não con. Song nó không còn hiệu lực đủ để cản cái sự quyết đinh đi tu chỗ khác của con nữa....

Nhưng nơi nào? Tu đâu? Ðâu là một chốn tu chân chính? Con cũng chưa tìm ra được. Mặc dầu con cứ trốn, và phó mình theo dòng quan phòng của Chúa. Con tin Chúa sẽ đưa con đến nơi mà người đã biết là nơi con tìm kiếm...

Con trở dậy, lấy dầu cù là xoa bóp cho hai bắp chân con đỡ đau, nhất là chân bên trái, tối qua con tưởng nó đã bị ngã hồi xưa. Nhưng con xoa bóp ít lâu, con thấy gân cốt mềm lại. Con xé chiếc áo cũ làm chiếc xà cạp, băng đỡ lấy bắp thịt, rồi con đứng dậy tập đi, tập co duỗi để hòng chạy. Mãi gần sáng, con cảm thấy hai chân đã đễ chịu, con mới ngã mình xuống nghĩ.

Sáng ra, con cáo bệnh. Nhưng khi mọi người đã ra nhà thờ đọc kinh, con chỗi dậy quì đọc kinh dâng ngày. Con trao phó toàn thân con cho Ðức Mẹ, xin người bảo vệ cho bước đường trốn của con được trăm phần an lành. Con cũng xin Thiên Thần bản mạnh con, dẫn đường chỉ lối cho con đi, hầu thoát khỏi mọi hiểm trở của người đuổi bắt, và sau cùng, khi nào con cũng tưởng nhớ đến các linh hồn luyện ngục, và xin các đấng ấy bảo vệ con trên những bước đường cùng.

Trước khi ấy, hai cậu bé giúp lễ đang đợi cha xứ ra làm lễ, họ vào thăm con, và yên ủi con thôi đừng nghĩ đến câu truyện hôm qua nữa. Con đáp:

- Phải, tôi đã quên câu truyện tối hôm qua, và tôi cũng đã tha thứ cho người đánh tôi rồi. Bây giờ tôi không còn oán hận ai điều gì nữa. Nhưng tôi biết, thế nào hôm nay tôi cũng sẽ không còn... ở đây nữa...

- Giêsu! Anh Văn, thật không?

- Anh nói chơi?

- Có lẽ tớ nói chơi đấy, nhưng cũng có thể hiểu ra thật được. Các anh biết, chúng ta sống ở đây thật không khác gì một tên tù khổ sai... người ta muốn xử với chúng ta như thế nào thì xử...

Một anh ngắt lời:

- Anh nói chơi đấy? Chân anh còn đau cơ mà, trốn thế nào được?

- Anh đừng lo...

Có tiếng cha xứ ho hắng ở đầu hè, hai anh vội vã rút lui ra nhà mặc áo. Với các cậu bé, con không bao giờ giấu diếm ý định của con. Tuy thế, con cũng chỉ làm thế với những anh cậu có thiện cảm đặc biệt với con, còn những anh có chân trong ban do thám của cha xứ, và cấp trên, con không hề bao giờ hơi hở một ý định nào ra với họ. Và nếu có, chỉ là để chơi cho họ vài cú, để cho họ lời cáo báo với cấp trên bị sai lạc đi thôi...

Cha xứ ra làm lễ. Con lật đật chạy xuống bếp, không mang một đồ vật gì theo. Bao nhiêu áo xống, con bỏ cả vào hòm khóa chặt, viết mấy chữ nhờ một anh con tin cẩn riêng, giữ hộ. Con giấu cho anh ta một chiếc chìa khóa ở dưới giường anh ta và dặn anh hễ cần vật gì anh cứ lấy mà dùng.

Con đi quanh quẩn trong nhà cơm, để đợi cho mấy người canh điền dắt trâu qua khỏi sân. Rồi con mở chạn vơ vét chút cơm còn dư mà họ vừa mới ăn xong. Con ăn một chút với tương, còn lại phỏng vài bát nữa, con nhét đầy vào hai túi áo. Vì tất cả đây là sức sống của con trong ngày hôm nay. Nhờ có chút cơm ấy, con cũng cảm thấy hơi an dạ.

Vừa xong, thì lễ cũng rồi. Hai anh cậu giúp lễ, từ nhà thờ chạy xông xộc về phòng ngủ. Không thấy con nữa, họ hốt hoảng chạy ra, hô hoán lên với nhau:

- Anh Văn trốn rồi thật?... Trốn rồi!... Con nhanh nhẹn rút lui ra sau rừng, và nấp trong một bụi rậm. Nửa giờ sau, trong nhà xứ bắt đầu xôn xao vì tin Văn trốn. Lũ cậu bé xông xáo xuống rừng tìm kiếm. Trên nhà thì cha xứ quát tháo inh ỏi cả lên. Nấp trong bụi cây, con vừa nghe ngóng tình thế, vừa sốt sắng lần hạt, kêu xin Ðức Mẹ đừng để con vào tay họ.

Bất ngờ, một cơn lo lắng tiến tới. Một anh cậu bé, có thể gọi được là "cánh hẫu" của Văn. Ðược tin con trốn, anh ta nóng nẩy hơn ai hết, nhất định là phải tìm cho bằng được Văn để bắt Văn phải ở lại cho có bạn. Không hiểu vì sao, anh ta lại tiến về chỗ con nấp, như thể rằng anh ta trông thấy con ngồi ở đó? Thấy thế, con sợ hãi nằm sạp ngay xuống, và cố chui vào sâu hơn trong bụi rậm. Nhưng lại một lần không hiểu làm sao, anh ta đã tiến sát đến bên con rồi, và chân anh ta đã dẵm phải vạt áo trắng dài của con, giả như anh ta chỉ bước thêm một bước nữa là đạp vào đầu con. Thế mà lạ, anh ta đứng yên, lẩm bẩm vài tiếng: Quái lạ, anh Văn? rồi anh ta quay trở lui.

Thấy anh ta đã đi xa khá, con vội vã leo lên một cây thật cao và rậm lá. Ở đây con có thể quan sát được rất xa, và không còn sợ ai nom thấy con nữa.

Xục xạo một đỗi khà lâu, không anh bé nào tìm ra Văn nấp ở đâu. Họ vẫn đoán đúng là Văn còn lẩn ở trong rừng này, chớ chưa dễ đã tẩu thoát ngay ra ga sáng sớm thế? Không tìm được Văn, anh nào anh nấy thất vọng, lần lượt kéo nhau về đi học. Một hai anh có thiện cảm lo lắng về con hơn ai. Họ tỏ vẻ tư lự nhìn vào những bụi rậm, và họ thốt lên lời từ biệt:

- Văn ơi, chúng tôi tạm từ anh đấy nhé!... Rồi họ cũng phải quay về, vì trống học đã điểm. Các cậu bé về rồi, con mới thấy anh cậu đánh con hôm qua chạy một mình xuống khu rừng tìm kiếm. Coi vẻ anh ta thật rất đáng thương hại! Vừa rồi, anh đã lên thú tội với cha xứ, và đã bị cha xứ quát:

- Hôm nay mà anh không tìm thấy thằng Văn, thì tao cũng tống cổ anh về. Khốn nạn! Về thì về với ai? Anh ta đã mồ côi hết cả cha lẫn mẹ rồi!...Ở trên cây cao nhìn xuống, con thấy anh ta thật là tội nghiệp! Anh cậu khóc hu hu như trẻ con. Thỉnh thoảng anh ta lấy đá đáp vào các bụi rậm, và cằn nhằn bằng một dọng tức bực:

- Văn ơi Văn, mày làm khổ tao thế à? Muốn sống nấp ở đâu thì ra ngay không thì ông... Những lúc ấy con coi anh ta lại chẳng đáng thương hại chút nào nữa. Một lúc lâu, anh ta lại chạy về. Trong nhà xứ lại trở nên yên tịnh như thường ngày.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com