VIỆT NAM GIÁO SỬ

Lm Phan Phát Huồn, CSsR

PHẦN THỨ NĂM

NHỮNG NĂM TRƯỞNG THÀNH

(1933-1960)

CHƯƠNG 33

CÔNGâ GIÁO DƯỚI CHẾ ÐỘ CỘNG SAŒN

(1945-1960)

II. Giáo Hội Công Giáo Ở Miền Bắc Việt Nam
Sau Hiệp Ðịnh Genève (1954-1960)

1- SẮC LỆNH VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG (1955)

Cuộc di cư của một triệu dân từ Miền Bắc vào Miền Nam là một cái tát vào bộ mặt của cộng sản. Dù có ra rả tuyên truyền hoa mỹ cách nào, người công sản không thể che dấu sự thật. Ðể giới hạn sự thất bại, cộng sản bèn đổi chiến lược. Trước tiên, họ mời 12 tu sĩ Công giáo và một người thế tục từ Ba Lan sang Việt Nam. Hà Nội phái Nguyễn Mạnh Hà, một cựu Bộ Trươœng Việt Cộng từ Paris về. Phạm Văn Ðồng đích thân gặp Giám Mục Trịnh Như Khuê yêu cầu Ngài viết lá thư kêu gọi chấm dứt cuộc di cư. Dĩ nhiên Ðức Giám Mục đã không làm chuyện đó.

Các Giáo sĩ Ba Lan tới. Họ đi khắp Bắc Việt Nam tuyên bố như là nhiệm vụ truyền giáo: "Dân số Ba Lan gồm 28 triệu, 26 triệu là Công giáo. Chúng tôi đến đây là giúp dân tộc Việt Nam. Nhà nước sẽ có một pháp lệnh về tự do tôn giáo." Không có sự chấp thuận nào của Giáo Hội Công giáo cả, ngày 4-6-1955, Hồ Chí Minh ký pháp lệnh về tự do tín ngưỡng (1). Hà Nội chỉ định Ngô Tưœ Hạ đang sinh sống ơœ Ý, như là Ủy Viên Tôn Giáo. Cuộc chiến giữa 2 nhà Ngô - Nhà Ngô miền Bắc chống nhà Ngô miền Nam (2) - bắt đầu. Báo chí, đài phát thanh Việt Cộng tuyên bố tất cả các tổ chức tôn giáo ơœ Miền Bắc đều đồng ý với pháp lệnh trên. Sự thật là Cha Vũ Xuân Kỷ và một nhóm Giáo sĩ thân cộng tự tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo, đã đồng ý với pháp lệnh này.

Giáo sĩ Công Giáo chân chính không chấp nhận pháp lệnh vì họ biết rằng nó chỉ là phương cách lừa gạt người cộng sản sưœ dụng để tiêu diệt tự do tôn giáo. Pháp lệnh, thật ra chỉ cho phép công tác mục vụ tại nhà thờ, tu viện và trường học Công giáo sau giờ học thường lệ. Công tác mục vụ tại các quán trọ, nhà hàng ăn ở khu vực không Công Giáo hoặc chỗ những người không phải tín đồ Công giáo đều không được phép. Giáo sĩ còn bị cấm vào bệnh viện. Họ chỉ có thể bước vào đó khi có bệnh nhân thỉnh cầu đích danh tên Giáo sĩ đó (3). Người cộng sản nói bệnh viện không phải là nhà thờ. Vì thế, sự truyền giảng Phúc âm không được phép. Ðó là trách nhiệm của nhà nước bảo vệ tự do tôn giáo. Cho phép giáo sĩ vào bệnh viện giảng Phúc âm có nghĩa là nhà nước đã vi phạm lãnh vực tự do này. Nói cách khác, tự do tôn giáo, theo như pháp lệnh của Nhà Nước có nghĩa là Giáo sĩ không được phép giảng Phúc âm, thật là mỉa mai.

Tại các nhà thờ, pháp lệnh này mô tả, các Giáo sĩ phải lồng lời giảng của mình với lòng yêu nước, bổn phận công dân, những ràng buộc của luật pháp cùng những gì khác liên hệ tới luật pháp (4), ngay cả về việc chống lại tôn giáo mà chính phủ đã phê chuẩn.

Rõ ràng là pháp lệnh đã cướp đi mọi khả năng sống còn của Giáo Hội. Việt Cộng đã tịch thu tài sản Giáo Hội và cố tình đem các Giám mục, Giáo sĩ ra tòa. Tháng 3/1955, Ðại hội Cộng sản đã quyết nghị việc xét xưœ tại tòa án nhân dân sẽ bị cấm chỉ. Trái lại các Giám Mục và Giáo sĩ sẽ được cấp cho vài thẻo đất và ruộng cấy lúa tự nuôi thân. Diện tích đất để cấp sẽ do nhân dân từng địa phương nơi giáo sĩ cư ngụ quyết định (Chương III của pháp lệnh).

Việt Cộng tuyên bố họ không bao giờ xen vào nội bộ của Giáo Hội. Thực tế lời họ nói và việc họ làm hoàn toàn khác nhau.

Suốt mùa Giáng Sinh 1954, nhà nước buộc các Giáo sĩ đọc tài liệu chính thức trong các thánh lễ Mi-sa, không liên quan gì đến tôn giáo cả, nhưng là lời tố cáo chống lại đế quốc chủ nghĩa. Việt Cộng cũng đã tổ chức mít-tinh trước ngày lễ, và cho cán bộ trà trộn vào giáo dân với ý định làm cho thánh lễ nghiêng ngả có lợi cho cộng sản. Tháng 3/ 1955, một đại hội Công Giáo Yêu Nước và Hòa Bình diễn ra tại Hà Nội.

Việt Cộng buộc 16 Giáo sĩ từ những họ đạo lân cận tới Hà Nội. Những Giáo sĩ này yêu cầu được gặp Ðức Giám Mục, nhưng Việt Cộng không cho họ gặp.

Trong cuộc họp, những Giáo sĩ này bị buộc phải gưœi một lá thư khẩn cầu Ðức Thánh Cha phạt những ai lợi dụng tôn giáo với ý đồ phục vụ cho đế quốc (5).

Trong thư trả lời, Ðức Hồng y Fumasonie Biondi, Tổng Trươœng Bộ Truyền Giáo xác nhận quan điểm của Tòa Thánh Vatican (6).

Vào dịp Lễ Phục Sinh, cùng với phái đoàn Ba Lan, hai Giáo sĩ "tiến bộ" Ba Lan tới Hà Nội. Họ thừa nhận rằng các Giáo sĩ có quyền thực hiện Phép Bí Tích và giảng Phúc Âm, nhưng Giáo sĩ không có quyền tỏ thái độ với nhà nước. Nhiệm vụ của Giáo sĩ Ba Lan là trình với Ðức Giám mục Hà Nội một "ủy nhiệm thư," nhưng họ không cho Ðức Giám Mục biết mục đích của họ với nhà nước Việt Cộng. Họ giúp soạn thảo pháp lệnh về tôn giáo. Họ phân phát tài liệu về tự do tôn giáo tại Ba Lan với dụng ý lôi cuốn thêm nhiều Giáo sĩ Việt Nam tham gia với họ.

Ðầu tháng 9/1955, tại tỉnh lÿ Hà Ðông, nhà cầm quyền địa phương cho mời 14 Giáo sĩ đến dự một cuộc họp 5 ngày không thông báo cho Ðức Giám Mục về sự việc đó. Sự việc tương tự đã xảy ra tại tỉnh Sơn Tây.

Pháp lệnh về tôn giáo được ban hành ngày 4-6-1955. Vào ngày này Ðức Giám Mục và các Giáo sĩ tại Hà Nội được mời tham dự cuộc thảo luận tại đại sảnh thành phố. Không khí thông cảm hơn ơœ Sơn Tây. Một số các Tiểu Ban được thành hình và thành phần của những Tiểu Ban này gồm 2 Giáo sĩ, vài cán bộ công sản và chủ tịch thành phố Hà Nội. Một nhóm tín đồ Công giáo Tiến bộ do Ngô Tưœ Hạ lãnh đạo và Ðức Giám mục đều ở trong cùng một Tiểu Ban.

Sau bài diễn văn của chủ tịch thành phố Hà Nội là tuyên bố của Ngô Tưœ Hạ. Y hết mình tán thươœng việc ban hành pháp lệnh. Y nói nhân danh tín đồ Công giáo cám ơn nhà cầm quyền. Giáo sĩ niên trưởng đại diện Ðức Giám mục đọc diễn văn phúc đáp. Với giọng ôn tồn nhưng cương quyết, Giáo sĩ niên trươœng nhấn mạnh không nhượng bộ và đòi hỏi những vấn đề liên quan giữa Giáo Hội và nhà nước phải giải quyết không được trì hoãn nữa.

Theo chương trình, sau cuộc bàn thảo về pháp lệnh sẽ có một buổi họp và chuông nhà thờ khắp Hà Nội đổ vang lên cùng lúc. Các Giáo sĩ rời đại sảnh tức khắc ngay khi cuộc thảo luận vừa chấm dứt. Tại Nam Ðịnh, một cuộc thảo luận tương tự đã diễn ra với 104 Giáo sĩ do cán bộ cộng sản mời. Những Giáo sĩ này đi bộ từ nơi cư ngụ đến phòng họp. Nội dung buổi hội cũng giống như ơœ Hà Nội.

Vì không muốn quyền hành được tập trung trong tay của Ðức Giám Mục, Việt Cộng tảng lờ thẩm quyền của Ngài, nhiệm vụ Ngài nơi giáo phận. Việt Cộng chỉ muốn tiếp xúc thẳng với mỗi cá nhân, mỗi Giáo sĩ khi cần. Ðó là cung cách Việt Cộng tách Ðức Giám mục với Giáo sĩ. Vì rằng, một Giáo sĩ trong xứ đạo được tiếp xúc sẽ cảm tình hơn và sẽ dễ dàng hơn trong việc truất quyền, ngay cả việc bãi nhiệm. Biết được âm mưu thâm độc của Việt Cộng, giơgiáo sĩ không chấp nhận pháp lệnh, cũng không chấp nhận cái gọi là Nhóm Tín Ðồ Công Giáo Tiến Bộ mà mục tiêu của họ là chống lại quyền lợi của Giáo Hội. Qua các biến động ơœ Quỳnh Lưu và Phú Ninh, qua việc ban hành cái gọi là pháp lệnh về tự do tín ngưỡng, ai ai cũng biết chẳng có tự do tôn giáo gì cả ở Miền Bắc Việt Nam dưới chế độ cộng sản!

2- NHÓM CÔNG GIÁO CẤP TIẾN (YÊU NƯỚC HAY QUỐC DOANH)

Nhóm Công Giáo Cấp Tiến giữ vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và ban hành pháp lệnh về tự do tôn giáo. Ðường lối của nhóm đã thỏa mãn chính sách của người cộng sản.

Nhóm Công Giáo Cấp Tiến ä được hình thành dưới khẩu hiệu "Người Công giáo là người yêu nước và yêu hòa bình." ƠŒ những quốc gia tín đồ Công Giáo tương đối mạnh, người cộng sản bày sách lược lừa gạt khác, một trong sách lược đó là "dĩ độc trị độc." Bằng sách lược này, vài tín đồ Công giáo nằm vùng được đề cưœ nhiệm vụ quan trọng dẫn dắt tổ chức truyền giáo của Giáo Hội đi sai đường, những ai từ chối việc chỉ định sẽ bị gán cho bất hợp tác với Việt Cộng, nói cách khác họ sẽ bị thủ tiêu.

Theo người công sản, với thời gian, phương pháp đàn áp này cuối cùng sẽ chấm dứt Giáo Hội Công Giáo tại Miền Bắc Việt Nam!

Trong thực thể mới do Ngô Tưœ Hạ, người từ nước ngoài Việt Cộng mời về lãnh đạo, đã có nhiều khuôn mặt nổi tiếng, trước đây từng là những đoàn viên tận tụy với các tổ chức bác ái, tham gia. Bây giờ họ là những người nhiệt tâm thiên cộng. Họ khăng khăng giữ luận thuyết họ đã tạo ra: Tín đồ Công giáo chỉ tuân theo lời dạy của Ðức Giám mục trong lãnh vực tôn giáo mà thôi. Luận thuyết này hoàn toàn với ác ý xóa bỏ ảnh hươœng của Ðức Giám Mục.

Dĩ nhiên Nhóm Công Giáo Cấp Tiến tuân thủ chính sách cộng sản một cách tuyệt đối. Trong danh sách 31 đại diện của Mặt Trận Tổ Quốc, Cha Vũ Xuân Kỷ được xếp hàng thứ 4 và Ngô Tưœ Hạ hàng thứ 9.

3- PHÁI ÐOÀN CÔNG GIÁO TIỆP KHẮC:

Khi phái đoàn Công Giáo Ba Lan rời Việt Nam, sắc lệnh về tôn giáo được đem thực hiện, xóa sạch mọi quyền căn bản của Giáo Hội. Ðể đối phó với những phản kháng mạnh mẽ của Giáo Hội và các tín đồ Công giáo, Việt Cộng buộc phải chuyển đưa ra đợt tuyên truyền thứ hai.

Phái đoàn Công Giáo Tiệp Khắc được mời sang thăm viếng Bắc Việt với cùng mục đích như Phái đoàn Ba Lan. Từ hậu trường, Việt Cộng chỉ đạo Phái đoàn Công Giáo Cấp Tiến đến nhiều nơi y như một đoàn diễn kịch, trong khi đó phái đoàn đóng vai chủ nhà phía bên kia vĩ tuyến 17.

Phái đoàn gồm có 5 thành viên do Rostielav Petra cầm đầu. Nhân vật này đã từng thăm viếng nhiều nước để nghiên cứu tình hình chính trị và tôn giáo tại chỗ. Ông đã đến Liên Bang Sô Viết năm 1951, viết quyển "Thirty One Days to Remember" (Ba Mươi Mốt Ngày Ðáng Ghi Nhớ). Từ đấy ông là thành viên của Ban Quản Nhiệm Hội Công Giáo Bình Dân. Tháp tùng với Rostielav có Cha Plojhar là người cộng sản Tiệp Khắc từng được tươœng thươœng 2 huy chương - Tháng Hai Ðại Thắng và Chiến công Bội Tinh. Nhân vật thứ ba là Cha A. Polak. Nhân vật thứ tư là Cha Bénès. Thư ký của Phái đoàn là R. Kubin Rotsilay. Kubin bị treo chén vì sự hợp tác thân cận với thành viên của UŒy Ban Vận Ðộng Hòa Bình Thế Giới Tiệp Khắc (7).

Theo thông lệ, Phái đoàn phải có thư giới thiệu của Giáo Hội Tiệp Khắc, nhưng phái đoàn này chỉ có một ủy nhiệm thư ngoại giao do nhà nước Tiệp Khắc cấp. Thực ra, ủy nhiệm thư đó do Giáo sĩ Công Giáo, Plojhar, Bộ Trươœng Y Tế Tiệp Khắc viết và gưœi đến Tín đồ Công giáo Việt Nam. Lá thư cùng mục đích nhai lại những từ ngữ tuyên truyền cho công sản: yêu cầu một hội nghị thống nhất Bắc Nam mơœ đường cho tổng tuyển cưœ toàn quốc, hỗ trợ cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân Việt Nam.

Ðây là một phần của lá thư:

Dù thực tế chúng ta ơœ xa hàng ngàn cây số và dù thực tế chúng ta phân cách bằng những lục địa khác nhau, nào núi chập chùng, nào biển cả mênh mông, nào sông dài, nào rừng sâu ngay cả đến các cánh đồng thênh thang, chúng ta vẫn luôn luôn cùng nhau là bè bạn, bè bạn thân thiết nhất như ơœ cận lân vậy. Tim chúng ta cùng một nhịp đập; tâm hồn chúng ta mang cùng hoài bão và ước vọng (8).

Chiều ngày 4-11-1955, nhóm tín đồ Công giáo Cấp Tiến đã tổ chức cuộc tập họp tại nhà hát lớn thành phố, lúc bấy giờ gọi là Nhà hát Nhân Dân.

Hồ Thành Biên, một Giáo sĩ thiên cộng từ Miền Nam, hoan hô sự phát triển vượt bực của Giáo Hội ơœ Tiệp Khắc, cũng như giáo Hội tại Việt Nam. Petra, lãnh đạo Phái đoàn tuyên bố: "Thực hiện các chính sách kinh tế, văn hóa, và xã hội có nghĩa rằng nhà nước đã thực hiện thành công lý tươœng của người Công giáo." Lời tuyên bố của ông ngụ ý rằng trở thành người cộng sản cũng là thể hiện lý tươœng của người Công giáo. Thêm nữa, một thành viên của nhóm đã tố cáo Ðức Giám Mục Hà Nội với lời chỉ trích nặng nề đó là vì Ðức Giám Mục Trịnh Như Khuê chỉ cho phép phái đoàn Tiệp Khắc giảng tại nhà thờ Cửa Bắc Hà Nội. Thái độ của Ðức Giám Mục đã làm Việt Cộng giận dữ.

Trong khi Phái đoàn Tiệp không được phép làm thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa Hà Nội, họ yêu cầu nhà cầm quyền Việt Cộng can thiệp với Ðức Giám Mục. Các cán bộ cộng sản đi khắp thành phố thúc giục người Công giáo hỗ trợ sự can thiệp của họ. Họ tổ chức nhiều cuộc mít-tinh phản đối sự cứng rắn của Ðức Giám Mục và sự phản động của Giáo sĩ. Những cuộc mít-tinh đó đưa đến sự can thiệp cố hữu của nhà cầm quyền trung ương. Dù có những cuộc phản đối như thế, phái đoàn Tiệp Khắc vẫn không được phép tổ chức thánh lễ nơi nhà thờ chánh tòa. Không khí thật căng thẳng. Cuối cùng, vào ngày 8-12-1955 phái đoàn rời Hà Nội về Tiệp sau khi họ làm thánh lễ từ biệt tại nhà thờ Cửa Bắc Hà Nội có 6 Giáo sĩ bị đưa từ Bùi Chu tới. Họ cầu nguyện cho Hồ Chí Minh và cho nhân dân Việt Nam được hạnh phúc. Cha Drabeck trong lời hoa mỹ đã chúc phúc cho cưœ tọa trước khi rời khỏi Việt Nam.

Màn trình diễn đã chấm dứt, và chúng ta ý thức được những gì sắp xảy đến sau đó. Như nó đã diễn ra trước khi phái đoàn Ba Lan rời Việt Nam, là một quyết định về tôn giáo màkhông ai muốn đã được ban hành. Lần này, phái đoàn Tiệp cũng rời Việt Nam và sẽ có vài sản phẩm đáng sợ sẽ được mang đến cho Giáo Hội: đó là quyết định của nhà nước về số phận các trường học Công giáo.

4- SỐ PHẬN CÁC TƯ THỤC CÔNG GIÁO ƠŒ MIỀN BẮC VIỆT NAM:

Chương II của sắc lệnh về tôn giáo ghi rõ một số điều liên quan đến trường học. Ðiều 9 viết: "Các Tôn Giáo được phépø điều hành các trường học của chính tôn giáo họ với điều kiện mô tả rõ ràng chương trình sẽ giảng dạy trong những trường đó. Giáo lý cũng được giảng dạy nếu có sự yêu cầu của học sinh." Trên thực tế điều khoản này không bao giờ được áp dụng. Việc xảy ra ơœ trường Dũng Lạc Hà Nội đã một lần trơœ thành vấn đề gây nên nhiều tranh cãi trong quần chúng. Dũng Lạc là một tư thục Công giáo nằm bên cạnh nhà thờ chánh tòa. Cha Nguyễn Văn Vinh làm Hiệu Trươœng. Niên học bắt đầu khai giảng, số học sinh ghi danh theo học rất đông. Học sinh Công giáo chiếm đến 10% tổng số. Phải nói rằng đây là một thành công vì thành tích nổi tiếng của trường. Không ai có thể tươœng tượng nổi rằng một ngày nọ nhà cầm quyền đã tuyên bố tịch thu trường viện lẽ rằng học sinh bên lương ghi danh nhiều hơn học sinh Công giáo (9). Sau khi quyết định được công bố, hình Hồ Chí Minh đem treo thay vào nơi hình Chúa Cứu Thế có từ trước. Vị Hiệu Trươœng đã phản đối kịch liệt quyết định ấy. Ðể được sự hỗ trợ của quần chúng, Cha đã gưœi lá thư phản kháng đến tất cả các nhà thờ trong thành phố (10).

Ðể đối phó với phản ứng của đoàn thể Công giáo, cán bộ Việt Cộng đưa ra lời tố cáo sai sự thật: Cha Vinh là nhân viên tình báo được đế quốc sưœ dụng để phá vỡ chính sách của nhà nước, làm cho nhân dân hiểu rằng Việt Cộng bách hại tôn giáo.

Song song với lá thư phản kháng, vị Hiệu trươœng chống lại quyết định tịch thu. Học sinh - Công giáo và không Công giáo - quyết định bãi khóa cho đến khi Bộ Giáo Dục phải giải quyết vấn đề một cách thích đáng. Một cách quỷ quyệt Bộ Giáo dục trả lời rằng: "Trường hợp tư thục Dũng Lạc là vấn đề nội bộ của trường nên giải quyết nội trong Ban Giám Ðốc trường." Ðồng thời Bộ Giáo Dục ra mật lệnh cho các trường khác không được phép nhận ghi danh bất cứ học sinh nào từ tư thục Dũng Lạc.

Sự việc này mơœ ra thời kỳ đóng cưœa tất cả các tư thục. Người cộng sản chơi trò đánh lừa tư thục Dũng Lạc ngay giữa thanh thiên bạch nhật. Không lấy làm lạ, nhiều tư thục khác ơœ vùng xa xôi cũng chịu chung số phận.

 

Chú thích:

(1) Nhân Dân số 488, Hà Nội 6/1955. Fides. Tài liệu quyển III trg 173-175 ngày 27-8-1955. BMEP trg 15-23 ngày 15-1-1956

(2) Nhà Ngô miền Nam ý nói Ngô Ðình Diệm; nhà Ngô miền Bắc tức Ngô Tưœ Hạ.

(3) Chương I Phần I đoạn I của Sắc lệnh. (13) Ðiều I, Phần I đoạn 3 của Sắc lệnh.

(4) Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, trg 198, Saigon 7/1955.

(5) Op cit trg 279, Saigon 9/1955.

(6) Chính Nghĩa, Hà Nội 20-11-1955.

(7) Như trên trg 6, 7.

(8) Một thí dụ về lý luận của người cộng sản - Piero Gheddo: Catholics et Bouddhists au Viet Nam - Công Giáo và Phật giáo tại Việt Nam trg 124-125 Alsacia Colmar 1968 - A. Marillier Mep Những Tín đồ Công giáo Miền Bắc Việt Nam vào năm 1960 - Mục vụ Á Châu tháng 5 & 6 trg 23.

(9) Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp trg 43 tháng 2 1956 Saigon.

(10) H, B Quỳnh Lưu Khơœi Nghĩa, NXB Thanh Hương Sơn trg 22 Saigon - Trần Tam Tỉnh, Thập Giá và Lưỡi Gươm, trg 205 TP Hồ Chí Minh 1988 công nhận có những lỗi lầm đổ máu trong cải cách ruộng đất (500.000 người bị giết). Vì những lỗi lầm này đã phổ biến nên ông ta không thể chối được, nhưng khi viết về tài sản của Giáo Hội (trg 208,209) về những nhà truyền giáo (trg 210,211), về Giáo Hội và Hồ Chí Minh (trg, 212, 213, 215), Trần Tam tỉnh đã xuyên tạc sự thực lịch sưœ, nhạo báng tín đồ Công giáo và viên chức chính phủ Miền Nam cầu nguyện cho hòa bình trước tượng Ðức Mẹ Fatima. Jane Fonda đã hối hận nhưng Trần Tam Tỉnh thì chưa. Xem Việt Báo số 1904 (21-6-2000).


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com