MARIA, ÐẤNG KHƠI NGUỒN SỰ SỐNG Giuse Phan Ðức Hiệp, C.Ss.R. Có câu chuyện về một vị đạo sĩ một hôm hỏi các đệ tử: "Làm sao có thể biết được là ngày sắp đến và đêm sắp tàn?" Ðệ tử thứ nhất trả lời: - Thưa thầy, mỗi sáng, khi nhìn qua cửa sổ, nếu con phân biệt được cây cối là con biết được ngày đã đến và đêm chấm dứt. Thấy thầy tỏ vẻ không hài lòng, đệ tử thứ hai nói: - Thưa thầy, mỗi sáng, khi nhìn qua cửa sổ, nếu con phân biệt được con bò với con lừa, thì con biết được là ngày đã đến và đêm đã chấm dứt. Nhiều câu trả lời khác cũng theo chiều hướng này, nhưng vị đạo sĩ vẫn không hài lòng. Cuối cùng, chính ông giải thích như sau: - Khi chúng ta nhìn vào người bên cạnh, nếu chúng ta có thể nhìn người đó như người anh chị em của chúng ta, thì lúc đó là ngày cho chúng ta. Nhưng bao lâu chúng ta chưa đạt được điều này, thì chúng ta sống trong đêm tối. Câu chuyện về "vị đạo sĩ" trên đây gợi ý cho chúng ta suy niệm về hình ảnh Ðức Trinh Nữ Maria như Ðấng Khơi Nguồn Sự Sống. Tội Lỗi Khiến Con Người Chối Bỏ Sự Sống Sách Khởi Nguyên kể lại rằng: sau khi đã tạo dựng nên vũ trụ bao la bát ngát và mặt đất tràn đầy sức sống như là một cái nôi sinh hoạt lý tưởng, Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người theo hình ảnh của Người, theo hoạ ảnh của Người và giao cho con người quyền làm chủ vũ trụ, làm chủ mặt đất tràn đầy sức sống và muôn loài muôn vật, tức là cho con người tham dự vào quyền năng sáng tạo, quyền năng tạo dựng của Người. Thế nhưng, con người không muốn mình là hình ảnh của Thiên Chúa, không muốn mình là hoạ ảnh của Người, nhưng muốn mình bằng Thiên Chúa, muốn mình là Thiên Chúa bằng con đường tắt mà Xatan bày cho. Bất tuân lệnh cấm của Thiên Chúa, con người cả gan giơ tay hái ăn trái của "cây biết lành biết dữ" giữa vườn Ðịa đàng. Sau khi phạm tội, con người mở mắt ra, thấy mình không trở nên thần linh biết lành biết dữ, biết tốt biết xấu, nhưng thấy mình mình trần thân trụi, thấy mình mất hết tình nghĩa với Thiên Chúa và trở nên xa lạ đối với chính mình và đối với nhau. Tội không chỉ phá vỡ mối tương quan thân tình giữa Thiên Chúa và con người: con người không còn dám giáp mặt Thiên Chúa, nhưng đã trốn tránh trong bụi gai để tránh mặt Người. mà còn phá huỷ luôn mối quan hệ huynh đệ giữa con người với con người. Ađam tố cáo Evà đã cho mình ăn trái cấm, không muốn liên đới với bà nữa, người mà ông đã nhận là có xương thịt bởi xương thịt của ông. Tiếp đến, Cain đã giết em là Aben để độc chiếm Thiên Chúa và độc quyền làm chủ mặt đất này. Rồi bài ca báo thù theo kiểu "luật rừng" của Laméc: "Cain sẽ được báo thù gấp bảy nhưng Laméc thì gấp bảy mươi lần bảy" (Kn 4, 24) khiến cho bạo lực, chém giết, máu đổ lan tràn trên mặt đất này, hận thù kéo theo hận thù đã làm đảo lộn mọi trật tự nguyên thủy. Tội làm cho con người rơi vào trong tình trạng bất hạnh, khổ đau: yếu đuối, mỏng dòn, phải chết và sống dưới quyền lực của Xatan, của ác thần,. của bóng đêm tội lỗi. Thế nhưng số phận của con người không đến nỗi bi đát vì Thiên Chúa là tình thương, Người có một kế hoạch khác để cứu độ con người. Thiên Chúa đã mở ra cho con người một hy vọng trong tương lai khi Người tuyên án con rắn, tên cám dỗ quỷ quyệt: "Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy. Dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn vào gót nó" (Kn 2, 15). Ðức Maria, Mẹ Ðấng Ban Sự Sống Người đàn bà mà sách Khởi Nguyên đề cập đến ở đây không ai khác hơn là chính Ðức Trinh Nữ Maria, một thiếu nữ Dothái khoảng 15-16 tuổi, đạo hạnh, am tường Kinh Thánh, được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ Ðấng Thiên Sai, Mẹ Ðấng Cứu Thế muôn dân trông đợi. Ngày Ðức Maria được chọn làm Mẹ Ðấng Thiên Sai, Mẹ Ðấng Cứu Thế là ngày Mẹ đã đính hôn với thánh Giuse, thuộc dòng tộc vua Ðavít, nghĩa là Mẹ và thánh Giuse đã trở thành vợ thành chồng với nhau về mặt pháp lý. Thế nhưng, khi biết được ý định của Thiên Chúa muốn mời Mẹ dự phần tích cực vào chương trình cứu độ yêu thương của Người, qua lời truyền tin của sứ thần Gabrien tại Nadarét, Mẹ đã nói lời "Xin vâng" tuyệt đối, không do dự, không chần chừ. để Mẹ trở thành Mẹ của Chúa Cứu Thế, Ðấng đã tuyên bố: "Tôi là ánh sáng đến trong thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi thì không ở lại trong bóng tối." (Ga 12, 46) Khi bước chân vào trong trần gian này, qua mầu nhiệm Nhập Thể giáng sinh làm người, Ðức Giêsu đã tự mạc khải Ngài là Ánh Sáng đích thực chiếu soi cho mọi người, và Ngài đòi hỏi con người phải có một sự chọn lựa dứt khoát, hoặc là tiếp nhận Ngài hoặc là khước từ Ngài. Ai tin Ngài sẽ không ở trong bóng tối tội lỗi, chết chóc, nhưng sẽ được cứu rỗi, được sự sống đời đời. Tin Ngài là chấp nhận Ngài, là chấp nhận việc Ngài làm, là làm theo lời Ngài dạy. Và ai tin Ngài là tin Chúa Cha, thấy Chúa Cha, vì Ngài với Chúa Cha là một: "Ai thấy tôi là thấy Ðấng đã sai tôi." Ai nghe lời Ngài mà không tuân giữ thì Ngài cũng không lên án kẻ ấy, vì Ngài đến để cứu rỗi chứ không phải để kết án. Thế nhưng, chính lời Ngài nói sẽ lên án kẻ ấy, bởi vì họ không sống theo giáo huấn Chúa Cha là Ðấng đã sai Ngài, đã ra lệnh cho Ngài nói, và lệnh của Chúa Cha là làm cho mọi người được sống đời đời. Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế, Ngài không luận phạt. Ngài đến để giải thoát con người khỏi quyền lực của Xatan, của sự dữ, của tà thần, của tội lỗi, và ban cho con người sự sống đời đời theo ý muốn của Chúa Cha. Nếu tội làm cho con người xa cách Thiên Chúa và trở thành xa lạ đối với chính mình và với nhau thì Ðức Giêsu đến trong trần gian này và nhất là qua lễ tế thập tự giá trên đồi sọ Gôngôtha, Ngài đã giao hoà Thiên Chúa thánh thiện với con người tội lỗi và làm cho con người trở nên anh chị em, con chung một Cha ở trên trời. Ðức Giêsu chịu chết trên thập giá là để liên kết với hết mọi người và với từng người một. Trong lời nguyện hiến tế, Ðức Giêsu đã thưa với Cha Ngài rằng: "Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con,. vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành." (Ga 17, 24) Khi chỗi dậy từ trong cõi chết, Ðức Giêsu vinh thắng đã trở thành Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc. Con người một khi đã được liên đới với Ðức Giêsu Kitô thì họ cũng phải liên đới với nhau, vì họ là chi thể của nhau trong Thân Thể Mầu Nhiệm mà Ðức Giêsu Kitô là Ðầu. Do đó, con người phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, phải biết chia cơm sẻ áo cho nhau, phải biết quảng đại tha thứ cho nhau để xứng đáng là con chung một Cha ở trên trời, vì Cha trên trời không loại trừ bất kỳ một ai cả. Cha trên trời muốn cứu độ mọi người không trừ một ai. Mọi người và mỗi người đều là đối tượng cứu độ yêu thương của Người. Khi giang rộng đôi tay trên bàn thờ thập tự giá như là ôm choàng lấy nhân loại tội lỗi, lời kinh cuối cùng mà Ðức Giêsu thưa với Cha Ngài: "Lạy Cha, xin tha tội cho chúng vì chúng lầm chẳng biết." Chúng ở đây không chỉ là viên Ðại Ðội Trưởng chỉ huy cuộc hành quyết chiều thứ Sáu hôm ấy, không chỉ là những người lính đóng đinh Ðức Giêsu vào thập giá, không chỉ là đám đông dân Do thái đòi tha Baraba và đóng đinh Giêsu Nadarét, . mà là tất cả chúng ta, như trong kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng: vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế và đã chịu chết thời Phongxiô Philatô... Với cái chết và Phục Sinh của Ðức Giêsu Kitô, ơn cứu độ đã được ban cho thế giới này một cách dẫy đầy như ánh sáng mặt trời. Về phía Thiên Chúa, Người trao ban tất cả, không dè giữ gì lại cho mình, chỉ còn về phía chúng ta, có mở rộng cửa sổ tâm hồn để đón nhận ánh sáng cứu độ đó hay không là tuỳ thuộc tự do của mỗi người chúng ta. Một căn phòng nếu chúng ta đóng kín cửa, căn phòng đó sẽ chìm ngập trong bóng tối. Ngược lại, nếu ta mở toang cửa ra, lập tức ánh sáng ùa nhập và chiếu sáng căn phòng. Thánh Âu-tinh có nói: Thiên Chúa có thể tạo dựng nên con người không cần hỏi ý kiến; nhưng để cứu độ con người, Người cần đến sự cộng tác của con người bằng chính lòng tin của mình. Sẽ không có phép lạ nước lã biến thành rượu ngon và là rượu ngon hảo hạng nếu các gia nhân đã không kín nước đổ đầy 6 chum nước dùng vào việc quán tẩy của người Do thái, có dung lượng tương đương 720 lít; người mù sẽ không thấy được nếu anh ta không làm theo lời dạy của Ðức Giêsu xuống ao Silôam rửa mắt; mười người phong cùi sẽ không được lành sạch nếu họ không đi trình diện các tư tế; người què sẽ không đi được nếu anh không đứng dậy vác chõng mà về. Sẽ không có phép lạ nhân bánh ra nhiều nuôi 5000 người ăn no nê mà còn dư 12 thúng đầy mảnh vụn nếu một em bé nào đó không bỏ ra khẩu phần ăn của mình: 5 chiếc bánh và 2 con cá. Ơn cứu độ bao giờ cũng cần đến sự cộng tác của con người bằng chính lòng tin của mình. Ðức Maria, Ðấng Khơi Nguồn Sự Sống Nơi Ðức Trinh Nữ Maria, chúng ta gặp được mẫu gương của sự cộng tác tích cực vào chương trình cứu độ yêu thương của Thiên Chúa qua việc tuân phục của Mẹ đối với Thánh ý Ngài. Lời "xin vâng" mà Mẹ đã thốt lên trong ngày truyền tin tại Nadarét đã vang vọng trong suốt cuộc đời của Mẹ và dẫn Mẹ đến tận đồi sọ Gôngôtha để Mẹ "hết lòng ưng thuận hiến tế lễ vật do chính lòng dạ mình sinh ra" và Mẹ được mệnh danh là "Ðấng hiệp công cứu chuộc." Cũng trên đồi sọ Gôngôtha hôm ấy, Mẹ đã chấp nhận lời trăng trối của Chúa Giêsu, Con Mẹ trước khi nhắm mắt lìa đời, để Mẹ trở thành Mẹ của tông đồ Gioan, tức là Mẹ của toàn thể nhân loại. Chúng ta hãy đến với Ðức Trinh Nữ Maria để Mẹ dạy chúng ta biết noi gương Ðức Giêsu, Con Mẹ đấu tranh tiêu diệt bóng đêm của nền văn minh chết chóc và dự phần tích cực vào việc xây dựng một nền văn minh mới, nền văn minh tình thương, văn minh sự sống. Nói đến văn minh sự sống, chúng ta không khỏi ngán ngẫm và rùng mình khi nhìn đến số lượng phá thai đang diễn ra trên thế giới. Trong năm 1996, con số phá thai tại Hoa Kỳ là 1,3 triệu ca, Nga khoảng 2,8 triệu ca và tính theo tỉ lệ thì Việt Nam dẫn đầu bảng tội ác phá thai với mỗi năm có 1,2 triệu trẻ em chào đời nhưng lại có đến 1,5 triệu ca phá thai ở các cơ sở y tế nhà nước. Ở Việt Nam, tỷ lệ nạo hút thai ở các cô gái trẻ ngày một gia tăng nhanh. Như Ðức Giê-su đã không đội trời chung với tội lỗi nhưng đặc biệt yêu thương các tội nhân, chúng ta, ai nấy trong cương vị, trách nhiệm của mình, phải tích cực đấu tranh, đẩy lùi và tiêu diệt dịch phá thai và các tệ nạn xã hội ra khỏi bản thân, ra khỏi gia đình, ra khỏi môi trường sống và làm việc của mình. Nhưng đối với các nạn nhân tệ nạn xã hội, chúng ta phải lấy lòng bao dung, lấy tình thương mà xử đối với họ, mở cho họ con đường của tương lai theo mẫu gương của Ðức Giêsu, Ðấng đã tuyên bố với người phụ nữ ngoại tình: "Ta không kết án con đâu. Ði đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.," Ðấng đã nhìn Phêrô với cặp mắt yêu thương sau khi ông chối thầy 3 lần, khiến ông phải ăn năn khóc lóc và làm mới lại cuộc đời của ông. Hãy lấy tình thương mà xử đối với nhau, vì tình thương có sức cứu rỗi con người. Khi người ta yêu và được yêu thì người ta sẽ tự biến đổi mình nên tốt hơn, nên người hơn, xứng đáng với tình thương của người đã dành cho mình. Ngoài ra, khi hiện ra ở Fatima vào năm 1917, Ðức Ma-ri-a đã đưa ra 3 mệnh lệnh, và một trong ba mệnh lệnh đó là "hãy hoán cải đời sống." Mỗi người trong chúng ta hãy nhận ra mình là tội nhân trước mặt Thiên Chúa. Mỗi người trong chúng ta cũng phải đấu tranh chống lại tội ác, chống lại các tệ nạn xã hội. Chúng ta cùng nhau "đáp lại" lời kêu gọi của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nỗ lực xây dựng một nền văn minh mới, nền văn minh tình thương biết tôn trọng sự sống con người. Chúng ta hãy tập sống yêu thương mỗi ngày hơn một chút, ngày hôm nay hơn ngày hôm qua và ngày mai hơn ngày hôm nay. Chúng ta hãy cầu xin Chúa, qua lời chuyển cầu của Ðức Maria, Ðấng Khơi Nguồn Sự Sống, ban cho mỗi người trong chúng ta ý thức mình phải từ giã bóng đêm của tội lỗi và vươn mình đến ánh sáng ơn cứu độ của Chúa. Ðồng thời, với trách nhiệm của các bậc phụ huynh, chúng ta phải tích cực bảo vệ con em chúng ta khỏi những tệ nạn xã hội và được sống trong bầu không khí yêu thương lành mạnh. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |