VIỆT NAM GIÁO SỬ Lm Phan Phát Huồn, CSsR PHẦN THỨ NĂM NHỮNG NĂM TRƯỞNG THÀNH (1933-1960) CHƯƠNG 33 CÔNG â GIÁO DƯỚI CHẾ ÐỘ CỘNG SAŒN(1945-1960) II. Giáo Hội Công Giáo Ở Miền Bắc Việt Nam 5- Cuộc Nổi Dậy ơœ Quỳnh Lưu (1956): Khi pháp lệnh kinh hoàng "sưœa sai" về cải cách ruộng đất đem ra thi hành, đồng bào mọi tầng lớp xã hội từ xã thôn Quang Trung, Tân Nho, Diễn Tân, Vạn Kim, Diễn Ðức, Diễn Ðông, Diễn Nguyên, Minh Châu, Ðức Vinh, Hồng Thăng, Ðại Gia, Yên Trung (1) trong tỉnh Nghệ An được nhà nước mời gọi tham gia cuộc họp gọi là bộc lộ tình cảm. Mục đích cuộc họp là cho phép mỗi cá nhân thổ lộ những gì tận đáy lòng cảm nghĩ hay cảm xúc mà mỗi người đã có suốt 10 năm qua. Các viên chức tỉnh và huyện cũng được mời tới để quan sát cuộc họp. Tại cuộc họp, nhân dân can đảm tố cáo những hành động tàn ác chống lại người Công giáo mà nhà nước phản bội của Hồ Chí Minh đã thi hành. Rồi họ đưa ra một kiến nghị gồm 4 điểm: 1) Chúng tôi thỉnh cầu tất cả các Giáo sĩ và Cha xứ bị cầm tù phải được thả ra. 2) Chúng tôi thỉnh cầu xác của các Giáo sĩ bị giết hay hành quyết phải hoàn trả về họ đạo. 3) Chúng tôi thỉnh cầu tài sản của họ đạo gồm cả nhà thờ, đại thánh đường đã bị nhà cầm quyền địa phương tịch thu phải được hoàn trả lại cho sơœ hữu chủ. 4) Chúng tôi thỉnh cầu tất cả Giáo sĩ và tín đồ Công giáo bị nhà cầm quyền cộng sản vu cáo và phỉ báng phải được bồi thường và phục hồi danh dự (2). Những người tham dự cuộc họp đồng ý ký tên vào kiến nghị, ngoại trừ những quan sát viên, các viên chức Việt Cộng giận dữ về những ngôn từ trong kiến nghị và từ chối không ký tên. Cuối cùng, vì áp lực của những tham dự viên, những viên chức này đã miễn cưỡng ký tên vào kiến nghị. Kiến nghị được lập thành 4 bản: một gưœi cho Tòa Thánh Vatican qua ngài John Dooley, Khâm Sứ Tòa Thánh, một bản gưœi cho UŒy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến (UHQTKSÐC), một bản gưœi cho Hồ Chí Minh, và một bản gưœi cho chính phủ quốc gia Nam Việt Nam. Bị nhà cầm quyền ngăn trơœ, bản gưœi cho UŒy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến không bao giờ được chuyển đến. Ðồng bào đã bày kế lấy pháp lệnh xét lại do Ðại hội 10 Ðảng Cộng sản biểu quyết như là khí cụ thúc đẩy nhà cầm quyền bồi thường những gì đã mất trong tay cộng sản suốt 10 năm phong trào kháng chiến. Họ cũng thỉnh cầu nhà cầm quyền cho phép họ di cư vào Miền Nam. Nhân dân viết một loạt thư tố cáo cộng sản đã giết chết họ hàngï, rồi họ tập trung đến một nơi chờ nhân viên UŒy Hội Quốc tế Kiểm Soát Ðình Chiến đến để trao cho họ. Chiều ngày 9-11-1956 nghe tin nhân viên UHQTKSÐC sẽ đi ngang Cầu Giát trên đường về Hà Nội, hàng ngàn đồng bào đứng chờ hai bên Quốc lộ 1. Thư được trao tay cho 6 thanh niên sẽ là những đại diện cho họ trình lên nhân viên UHQT.KSÐC. Ngay khi thấy xe jeep UHQT.KSÐC, đoàn người vây quanh và 6 thanh niên mang 3 bao bố thư trao tận tay cho nhân viên của UŒy Hội. Một sĩ quan Ấn độ nói rằng họ không có quyền giải quyết vấn đề nhưng hứa sẽ nhận những thư khiếu nại này đem về trụ sơœ chính của UŒy Hội tại Hà Nội. Ông cũng hứa rằng Thứ bảy tới sẽ có thư trả lời. Mọi người đều tin tươœng và hình dung một ngày không xa họ sẽ rời "thiên đường cộng sản." Hơn mười ngàn người tập trung ơœ xã Cẩm Trường chờ đợi thư phúc đáp. Nhiều ngày đêm đã trôi qua, dân chúng bàn bạc có thể có cuộc lánh nạn tại Miền Nam, nơi họ sẽ hít thơœ không khí tự do, xây dựng lại đời sống. Thình lình tia hy vọng bị đập tan do lực lượng quân sự Việt Cộng và công an tấn công. Cuộc hỗn chiến giữa đám đông và lực lượng Việt Cộng bắt đầu. Hàng ngàn người dân tay không, chiên đấu can đảm chống lại hai đại đội vũ trang đầy đủ. Việt Cộng quăng lưu đạn thật vào đám dân vô tội, nhưng hết đợt sóng dân này bị giết thì đợt sóng khác tràn lên tiến chiếm lhàng phòng thủ. Tiếng trống nổi lên vang dội làm dân làng lân cận nghe được và họ chạy đến tiếp cứu. Hai đại đội đã bị dân chúng vây hãm đông hơn trước. Vô vọng, một mặt Việt Cộng phải cầu cứu bộ chỉ huy lực lượng tăng viện, mặt khác khẩn cầu Ðức Giám Mục Trần Hữu Ðức giải quyết vần đề. Ðức Giám Mục bảo họ: "Tôi là người tu hành; tôi không biết gì về chính trị." Số lượng khá lớn tiền và gạo được gưœi đến hỗ trợ phe kháng cự chống lại cộng sản. Sáng ngày 12-9-1956, lực lượng kháng cự đã tổ chức cuộc mít-tinh lớn tại Quỳnh Lưu. Người Công giáo và người không Công giáo nhất quyết chiến đấu chống cộng sản! Tinh thần Quỳnh Lưu bất diệt! Ðồng bào kéo đến Ty Công An ơœ tỉnh lÿ Nghệ An, nhưng tất cả nhân viên công an đã bỏ chạy trước khi cuộc biểu tình xảy ra. Ðoàn biểu tình nhảy lên nóc nhà của Ty công an, xé tan lá cờ đỏ sao vàng, và đập nát hình các lãnh tụ đỏ. Sau đó đoàn biểu tình trơœ lại Cẩm Trường, nơi họ dự trù tổ chức một cuộc chiến đấu lâu dài chống Việt Cộng. Suốt đêm 13-9-1956, khoảng 3 ngàn người từ các làng Do Xuyên, Ba Làng và Nông Cống của tỉnh Thanh Hóa bí mật di chuyển về Nghệ An, mang theo tiền và gạo. Họ dự trù một cuộc đấu tranh lâu dài. Suốt những đêm đó đồng bào tụ tập nghe các thanh niên hò hát: Anh đi giết giặc lập công. Trong lúc đồng bào chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, Việt Cộng bắt đầu bao vây làng Quỳnh Lưu. Các cụ già và trẻ con được khuyên đi trú ẩn trong hầm núp và giao thông hào. Chỉ những thanh niên thanh nữ giữ địa đạo, sẵn sàng chiến đấu. Cùng lúc hơn 20 ngàn đồng bào (4) từ tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An đang tiến tới tăng viện vào lực lương đang chống cự. Quân Việt Cộng do Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy đã phải huy động thêm quân từ các khu Thanh Hóa, Phủ Quỳ và Ðồng Hới tấn công Quỳnh Lưu. Không sờn lòng trước quân đội vũ trang của địch, dân chúng tại Quỳnh Lưu sẵn sàng chết cho mục đích của họ. Tiếng nói của họ vang lên như sấm nổ: "Chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng để giải phóng đồng bào chúng ta!" Dù ý chí họ có dũng mãnh, họ bị đánh bại mau chóng vì không có khí giới. Sau một thời gian ngắn ngủi, lực lượng nổi dậy phải rút vào núi. Cuộc chiến đấu chấm dứt, Việt Cộng vào các làng Thanh Dạ, Song Ngọc, Cẩm Trường và không phân biệt, chận bắt bất cứ ai họ nhìn thấy. Chúng cũng tra khảo những ai chúng nghĩ họ có thể khai những tin tức hữu ích về cuộc nổi dậy, nhưng vô ích. Không ai tiết lộ một lời nào với họ. Tất cả những đồng bào bị bắt, kể cả những đứa trẻ đều nói một điều: "Tôi là người lãnh đạo cuộc cách mạng!" Bị bối rối, nhà nước phản dân cuối cùng buộc phải tha số lớn đồng bào bị bắt. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không bỏ cuộc, ông ra lệnh cho 2 Giáo sĩ, Cha Hậu và Cha Ðôn - chủ chăn của họ đạo Cẩm Trường và Song Ngọc - lên Hà Nội. Cha Ðôn nhấn mạnh rằng Cha là người tu hành, Cha không liên hệ gì đến cuộc nổi dậy. Việt Cộng không để tai nghe Cha. Họ đẩy 2 Cha lên xe môlôtôva bít bùng và đưa cả hai đến Hà Nội. Họ cưỡng bách cả hai Cha nói trên đài phát thanh Hà Nội. Các Giáo sĩ từ chối không nói lời nào. Việt Cộng cáo buộc hai Giáo sĩ này là người lãnh đạo cuộc nổi dậy. Nghĩ rằng có thể bị sát hại, cuối cùng hai Giáo sĩ đành phải phản lại lương tâm mình. Họ phải nói trong nước mắt những điều không đúng sự thực.
6- Nét đại cương về Giáo Hội ơœ Miền Bắc (1954-1960):Ðầu năm 1960 có khoả ng 20 thừa sai ơœ Miền Bắc (5). Họ ơœ những nơi xa xôi tản mát khắp thôn quê hay miền núi. Dưới trạng huống nhà cầm quyến cộng sản đàn áp tôn giáo, những thừa sai này thấy yên tâm nếu họ được sống tại họ đạo của mình mà không bị quấy nhiễu. Tuy nhiên họ luôn luôn sống dưới sự kiểm soát chặt chẽ của cán bộ cộng sản, và hoạt động của các Giáo sĩ bị giới hạn triệt để trong phạm vi nhà thờ. Các Giáo sĩ nào có thể làm phương hại gì được đến chế độ "cộng hòa dân chủ"? Những Giáo sĩ này sẵn sàng kéo dài cuộc sống đạm bạc với rất ít nhu cầu. Ước muốn duy nhất của họ là có thể tiếp tục sứ mạng mục vụ. Họ ước mong được sống ẩn dật và được đảng Cộng sản bỏ quên họ.Nhưng bất hạnh thay đảng Cộng sản không bao giờ bỏ quên họ. Ðảng chờ một cơ hội thuận tiện để bắt giữ họ. Việc tống xuất tất cả những Giáo sĩ ngoại quốc còn lại vào năm 1954 là điều thiếu khôn ngoan, vì sự ảnh hươœng của non một triệu đồng bào di cư từ Miền Bắc vào Miền Nam vừa mới chấm dứt. Việc trục xuất như thế sẽ vẽ nên hình ảnh lem luốc cho chế độ cộng sản trước thế giới. Ðảng Cộng sản vẫn giơœ trò lừa gạt: Vào mùa thu 1958, nhà cầm quyền cộng sản bắt đầu thực hiện chính sách bí mật trục xuất các Giáo sĩ ngoại quốc lần lượt từng người một. Kết quả trong vòng 18 tháng, Việt cộng đã tống xuất hết tất cả phần tưœ "xấu" cuối cùng. Tháng 10/1958, một Giáo sĩ Canada, Cha Denis Paquette, CSsR, nhận được lệnh phải trình diện tại Sơœ Công An Hà Nội, tại đây Cha được công an chơœ đến biên giới Việt Nam và Trung Hoa. Tham chiếu vào sắc lệnh ngày 23-10-1958, lệnh huấn thị rằng Cha Denis Paquette phải rời Việt Nam vì lý do nhiều hành động có hại cho nền an ninh Bắc Việt Nam. Bắt nguồn từ chính sách của Cộng Sản quốc tế, nhà cầm quyền Hà Nội đối xử ønghiêm ngặt với người đại diện Tòa Thánh Vatican. Ðầu năm 1959, vị khâm sứ đã trải qua nhiều cơn bệnh nặng. Dù vậy, Ngài vẫn tiếp tục làm công việc hằng ngày cho đến khi quá yếu không thể tiếp tục được nữa. Ngài được chuyển đến Nam Vang, Kampuchia. Cha O'Driscoll, một Giáo sĩ người Ai-Len, đã đảm trách nhiệm vụ khâm sứ, một cơ hội Việt Cộng chờ đợi từ lâu. Sau 2 tuần từ khi khâm sứ rời khỏi Hà Nội, Cha Driscoll cũng bị trục xuất luôn. Phái Bộ Tòa Thánh tại Hà Nội buộc phải đóng cưœa. Ðầu năm 1960, việc trục xuất vẫn tiếp tục. Ngày 5-2-1960, hai Giáo sĩ Dòng Ða Minh -Cha Haag và Lory- bị tống xuất khỏi Miền Bắc. Ngày 19-2-1960, Cha Pierchon và Cha Fleury rồi đến các Cha Carat và Carra của Hội Truyền giáo Paris, Cha Giraud, một Giáo sĩ Pháp và một ø Xơ Ai- Len thuộc Hội Thánh Phao Lồ dòng Chartres đều bị buộc phải rời Miền Bắc ngày 13-8-1960. Chính sách trục xuất nhanh chóng làm giảm số giáo sĩ ngoại quốc tại BắcViệt Nam gây ra nhiều vấn đề cho những giao sĩ bản xứ. Tính đến năm 1960, ơœ Miền Bắc có 300 linh mục chăm sóc 750.000 tín đồ. Trung bình tại thành phố Vinh mỗi Giáo sĩ phụ trách 1.200 tín đồ; ơœ Hải Phòng 7.000; ơœ Bùi Chu 6.000; ơœ Thái Bình 10.000. Nhiệm vụ của họ khó khăn hơn vì nơi cư ngụ của đồng bào giáo dân rải rác trên một diện tích rộng lớn, không ơœ trong vùng đông dân hay trong một họ đạo. Nhu cầu tinh thần cho những tín đồ rất lớn đến nỗi một số ít giáo sĩ không thể cáng đáng nổi. Ngay như Việt Cộng không bách hại Công Giáo, sự thiếu hụt các Giáo sĩ tự nó cũng sẽ là nguyên do chính yếu làm tê liệt các hoạt động của Giáo Hội. Có hai lý do khác đẩy Giáo Hội tại Miền Bắc vào những ngày đen tối nhất: kiểm soát nơi ơœ và sự di chuyển của các Giáo sĩ (6) và chiến dịch tuyên truyền chống lại Giáo Hội. Một giáo sĩ muốn đến thăm các tín đồ phải có giấy phép di chuyển, trong đó mô tả khít khao thời gian, nơi đến của cuộc thăm viếng. Nơi xa cần nhiều ngày di chuyển khỏi nói cũng biết, sẽ không được phép. Vì lý do đó, hơn 40 ngàn tín đồ Công Giáo ơœ Quảng Yên, Hòn Gay và Cẩm Phả đã nhiều năm không được gặp giáo sĩ, ngoại trừ các "Giáo sĩ yêu nước." Ðức Giám mục không thể chuyển bất cứ Cha sơœ nào ra khỏi họ đạo của họ. Hễ ai làm việc nơi nào sẽ phải ơœ tại đó vĩnh viễn. Mục đích kiểm soát việc di chuyển cốt tách giáo sĩ ra khỏi tín đồ càng nhiều càng tốt để các giáo sĩ không thể dễ dàng làm các phép bí tích cho giáo dân, và giáo dân không thể gặp giao sĩ của mình thường xuyên như họ mong ước. Trừ thời gian tĩnh tâm tại văn phòng của Tòa Khâm sứ Vatican, ít khi tất cả giáo sĩ trong một giáo phận cùng gặp nhau. Giữa các giáo sĩ với nhau, họp mặt nhau cũng là một vấn đề, huống hồ được gặp Ðức Giám Mục. Ngoài ra, các giáo sĩ không có phương tiện lưu thông, họ trở nên cô đơn như thể ở trong nhà tù vậy. Mỗi ngày nhân dân phải làm cật lực cho hợp tác xã, còn học tố cáo "Ðế quốc Mỹ." Ðể giúp các tín đồ thấu hiểu hết phương pháp tẩy não mê hoặc của cộng sản, các giáo sĩ phải làm việc khổ công hơn nữa. Họ thường tìm phương cách gặp gỡ tín đồ và bàn thảo phương pháp đối phó. Cô lập các giáo sĩ, Việt Cộng bắt đầu "cải tạo" họ theo chiều hướng cộng sản. Khi cần sự hiện diện của Giáo sĩ, Việt Cộng mời họ đến họp nhưng họ thường từ chối không đến. Hầu như lúc nào Việt Cộng cũng phải tạm thời "bắt" và hộ tống họ đến nơi hội họp, cuộc họp kéo dài 2 ngày. Dù thoải mái trong phòng ốc tiện nghi, các giáo sĩ chỉ làm việc với công an và cán bộ chính trị. Bài học các giáo sĩ buộc phải thụ huấn nói về việc tuyên bố chống lại những điều độc ác của đế quốc hoặc về niềm tin sắt đá đối với Chủ nghĩa Cộng sản. Mỗi giáo sĩ phải đối chất với từng nhóm bốn hoặc năm cán bộ chính trị hay "người Công giáo yêu nước." Hầu như lúc nào các Giáo sĩ cũng tránh né trao đổi ý kiến với họ. Thay vì im lặng, họ thầm cầu nguyện. Vì họ hiểu rằng có trao đổi ý kiến cũng vô ích. Ðối với Việt Cộng, những buổi họp như thế này là cơ hội quý giá để thúc đẩy các giáo sĩ ký tên vài "thông cáo" hỗ trợ chính sách của nhà cầm quyền và lý thuyết cộng sản. Nếu buổi họp nào không đạt thành công như người tổ chức mong muốn, các giáo sĩ sẽ được trả lại xã thôn, chờ một cuộc họp khác cho đến khi đạt kết quả cuối cùng. Những điều đã xảy ra trong quá khứ chứng minh rằng các giáo sĩ Miền Bắc Việt Nam luôn luôn tin tưởng vào tín ngưỡng của họ và sẵn sàng chết cho mục đích của Giáo Hội. Con số hơn một trăm ngàn người đã trơœ thành Tưœ Ðạo trên Ðất Việt là một bằng chứng hùng hồn cho sự hy sinh đó. Hy vọng rằng những con cháu họ sẽ xem đức tin của ông bà như gương sáng để soi. Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, các tín đồ Công giáo Việt Nam chứng tỏ niềm tin mãnh liệt của họ không có sức mạnh nào lay chuyển nổi. Tuy nhiên, trong một đàn cừu cũng có vài con chiên ghẻ. Ðức Giám Mục cảm thấy quá bất hạnh phải rút phép thông công hai giáo sĩ đã bị hoàn toàn "nhuộm đỏ" bởi Chủ nghĩa Cộng sản. Dù ơœ trong hoàn cảnh như thế, nhiều người dân đã trở lại đạo và nhận phép rưœa tội. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng Chủ nghĩa Mác-xít hàm chứa nhiều nghịch lý cuối cùng mang lại thất bại cho người Mác-xít. ƠŒ cấp cao hơn, người cộng sản vẫn thôi thúc đồng bào hỗ trợ họ, lừa dối đồng bào để chiếm cảm tình họ, nhưng đồng thời ban hành những pháp lệnh hủy bỏ dân quyền mà đồng bào đã từng kịch liệt chống lại. Vì vậy Việt Cộng hứa sẽ sưœa sai để hàn gắn thương đau do cán bộ của họ gây ra. Tuy nhiên, ơœ cấp thấp các cán bộ cộng sản vẫn tiếp tục gây khó dễ, tạo cảnh nghèo khó cho đồng bào. Người Công giáo còn lưu lại tại các xã thôn luôn luôn đấu tranh cho những quyền lợi mà Việt Cộng đã hứa với họ. Giải pháp cuối cùng là dùng gậy ông đập lưng ông: người dân biết cách đối phó với người cộng sản, dùng ngay cung cách của cộng sản để đương đầu với cộng sản. Bất kể lúc nào Việt Cộng luôn không những chỉ đàn áp người Công giáo mà còn bóc lột người không Công giáo càng nhiều càng tốt. Ðể diễn đạt những sự bóc lột như thế, các bài hát được viết ra và trơœ nên phổ biến trong dân gian cùng thời: Chanh chua, còn kém khế chua. Thằng Tây bóc lột còn thua già Hồ. Chú thích: (1) H. B, Quỳnh Lưu Khơœi Nghĩa, NXB Thanh Hương Sơn trg 22, Saigon - Trần Tam Tỉnh, Thập Giá và Lưỡi Gươm, trg 205, TP Hồ Chí Minh 1988 công nhận có những lỗi lầm đổ máu trong cải cách ruộng đất (500.000 người bị giết). Vì những lỗi lầm này đã phổ biến nên ông ta không thể chối được, nhưng khi viết về tài sản của Giáo Hội (trg 208, 209), về những nhà truyền giáo (trg 210, 211), về Giáo Hội và Hồ Chí Minh (trg 212, 213, 215), Trần Tam Tỉnh đã xuyên tạc sự thực lịch sưœ, nhạo báng tín đồ Công giáo và viên chức chính phủ Miền Nam cầu nguyện cho hòa bình trước tượng Ðức Mẹ Fatima. Jane Fonda đã hối hận nhưng Trần Tam Tỉnh thì chưa. Xem Việt Báo số 1904 (21-6-2000). (2) Thanh Hải, Nguyệt san Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Sàigòn tháng 7/1957. (3) Lịch Sưœ Ðảng Cộng Sản Việt Nam III trg 19, Hà Nội (4) H.B, Quỳnh Lưu Khơœi Nghĩa trg 32. (5) Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp Thanh Hải tháng 4/1957 trg 109. (6) Báo Osservatore Romano, Vatican ngày 29-4-1960. (7) Hộ Khẩu. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |