TỰ THUẬT

(Kỳ 15)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

Chiều ngày thứ ba, con đến làm thuê cho một bà hàng phở. Bà thấy con ăn làm cẩn thận, xử đối lịch thiệp, ngoan, biết ăn lời, bà đem lòng yêu mến, tỏ ý muốn đem con về nuôi, và hứa sẽ cho đi học nghề với người con cả của bà. Với cách bà ăn nói, con cũng nhận thấy đôi phần, bà không phải là một người chủ mà con đã đến làm thuê cho họ. Bà ăn nói với con một cách hiền từ như mẹ với con:

- Này chú, tôi thiết tưởng chú không phải là con nhà bình thường đâu? Quê chú ở đâu thì tôi không rõ. Nhưng chắc là hiện giờ chú chưa tìm được thày mẹ. Ðấy là một điều chú cần phải quan tâm đến. Người ta sống có cha có mẹ, còn chú thì cứ phải chịu vơ vẩn nay đây mai đó, biết làm sao mà chịu đựng được cho đến cùng?

Cùng là con nhà có đạo với nhau, tôi xin thú thật là tôi rất cảm phục chú ở chỗ chú biết tôn trọng đạo giáo của mình. Mấy người đã đến xin nhận chú làm con nuôi hôm qua, tôi biết họ giầu có lắm nhưng họ rất ghét những người theo đạo ta. Họ yêu chú, chỉ vì họ không có con. Họ dỗ dành cho chú được tự do theo đạo, nhưng đến khi đã vào tay họ rồi, biết đâu chú sẽ không còn cái tự do ấy nữa?

Cho nên tôi cũng không cần phải úp mở. Tôi xin nói ngay là tôi rất thảm hại cho cuộc đời rủi ro của chú. Mà sống như chú bây giờ, chú đừng hòng là sẽ được yên thân mãi. Sẽ có ngày người ta bỏ quên chú, người ta không thèm thủ mướn chú nữa. Lúc ấy chú sẽ biết tìm cách nào mà sống? Vậy không gì hơn là chú nên lo cho mình có chút nghề. Việc ấy tôi sẵn lòng giúp chú. Nếu chú bằng lòng thì tôi đón về nhà nuôi, ngày ngày chú sẽ đi học nghề thợ nguội với thằng cả nhà tôi, năm nay nó mới có mười bốn tuổi, và cũng mới thi đậu bằng sơ học kỳ rồi. Vậy hai anh em có thể dẫn dắt nhau đi học nghề, rồi về sau sẽ giúp ích cho nhau.

Ðể chắc chắn, con bạo dạn hỏi thật bà một câu:

- Thưa bà, cháu hỏi thì thất lễ, nhưng dường như bà cũng có đạo thì phải?

Và mỉm cười đưa đôi mắt nhìn con cách dịu dàng, và giơ tay lên cổ rút ra một sợi giây đeo ảnh chuộc tội bằng đồng nhỏ tí, với một chùm, bốn năm mẫu ảnh bằng nhôm, đã cũ mòn hết cả. Con đã nhìn thật kỹ mà không nhận ra trong những mẫu ảnh ấy có những hình mặt vị thánh nào. Con cảm phục nhìn bà và đáp lễ:

- Cảm ơn bà.

Bà vừa cho chùm ảnh khuất trong yếm, vừa lắc đầu nói với con:

- Chú đừng nghi ngờ gì tôi cả, về nhà tôi rồi chú sẽ biết tôi là người thế nào. Tôi thì nghèo, nghèo thật! Nhưng con cái tôi, vẫn được tôi lo cho chu đáo cả hồn lẫn xác.

Con ngắt lời bà để xin lỗi:

- Thưa bà cháu không dám nghi ngờ gì đâu ạ. Sở dĩ cháu phải phiền bà như thế là vì cháu muốn tín nhiệm bà hơn. Vậy, cứ như bà nghĩ về cháu như vậy là rất phải. Nên không còn gì hơn, là cháu dám nương cậy vào bà, nhờ bà lo lắng bảo ban cho. Rồi một mai, nếu cháu thành người, cháu không dám quên ơn bà là một đại ân nhân của cháu.

Trong thâm ý con lúc ấy còn nghĩ: Về nhà bà để xem tình hình làm sao, rồi con sẽ thú thật với bà cảnh ngộ đời tu con, và sẽ cậy bà lo lắng cho đi tu, tiếp tục lại việc học mà con vẫn hằng mong mỏi hết sức.

Chiều ấy, bà đưa con về nhà, ở đầu một lối hẻm đi sâu vào vùng ngoại ô. Nhà bà ở khuất sau một dẫy nhà lầu, cao ráo và sạch sẽ. Một căn nhà, mà vừa được bà giới thiệu: Ðây là nhà tôi. Con đã lấy làm thảm hại! Chưa bao giờ con có thể tưởng rằng ở tỉnh mà còn có những căn nhà tồi tệ như thế? Và cũng chưa bao giờ con thấy một căn nhà có một kiểu kiến trúc "đặc biệt" như thế. Kể ra thì là nhà xây, nhưng có đến ba bốn khúc vá bằng những tấm liếp cũ. Ngoại trừ một cửa, con có thể gọi là một lỗ ra vào, còn thì không có một cửa nào khác nữa, kể cả cửa sổ. Trên mái thì lợp bằng ngói, nhưng cũng có đến năm sáu chỗ phải vá bằng tranh.

Chung quanh nhà là những rãnh nước bẩn thỉu, không biết từ đâu dồn về, và chẩy ra đồng, xông nặc mùi hôi hám khó chịu... Bà dẫn con qua một chiếc cầu bằng một tấm ván dầy, dài độ hai thước. Và qua chiếc cầu ấy, cách chỉ đó một bước là vào đến cửa nhà bà. Vừa bước vào nhà, bà lên tiếng:

- Con cái nhà đâu cả nhỉ?

Lũ trẻ ở phía sau reo lên:

- Ô, Mẹ! Mẹ!

Rồi chạy òa lên ba đứa. Một đứa con trai độ chừng năm tuổi, và một đứa con gái chừng tám tuổi. Ðứa con gái còn cõng một đứa em phòng chừng một năm rưỡi.

Thấy lũ trẻ, con lại còn thảm hại hơn. Ðứa nào đứa nấy điều ghẻ lở, chốc lếch, quần áo rách rưới bẩn thỉu, và hôi hám quá chừng. Con tưởng như tất cả con người chúng điều bị ám hơi hôi thối ở chung quanh nhà chúng ở.

Người mẹ đưa cho mỗi đứa lớn một củ khoai lang luộc, rồi hẵm lấy đứa con nhỏ, hôn lấy hôn để, rồi vạch yếm cho nó bú. Bà cũng bảo con lại đằng giường ngồi chơi. Mấy đứa nhỏ nhìn con cách tò mò. Nhưng đứa con gái bạo dạn hơn. Nó vừa nhồm nhoàm nhai khoai lang, vừa bám lấy mẹ và hỏi:

- Ai thế hở mẹ?

- Anh con đấy. Bà vừa nói vừa tủm tỉm cười.

- Hừ!... Mẹ nói chơi?

Nghe có tiếng xe đạp lạch xạch ở ngoài đường. Nó không còn nghĩ đến việc hỏi mẹ nó về người lạ mặt mà mẹ nó mới đưa về nữa, nó vội chạy ra cửa và reo lên:

- A! Anh Ðịnh về. Ðứa con trai nhỏ cũng chạy ra theo chị.

Con ngồi nhìn quanh một lượt, thấy rõ cảnh neo núng của gia đình này. Mặt tường phía trong cũng giữ một lối kiến trúc như phía ngoài, đây một khúc phải che liếp, kia lại một chỗ gạch nhô ra, lốm đốm, có thể tưởng ra được mọi hình thù. Nền nhà không lát gạch giếc gì cả, và ẩm thấp quá gian hàng cá ở chợ. Tất cả gian nhà, chỉ có một chỗ ngồi độc nhất, là cái giường vuông. Không một chiếc ghế, một ngăn tủ.

Ðối chiếu với chiếc giường con ngồi, thì góc kia là một chiếc lò xây cao lên đến chừng ngang lưng. Ðó là một chiếc lò, nhưng cũng còn là bàn thờ của gia đình nữa. Vì ngay trên vách sát với lò, người ta đã treo một tượng chuộc tội bằng gỗ, với hai khung ảnh hai bên, một bên là ảnh Trái Tim Chúa Giêsu, một bên là ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tất cả điều bị khói ám đen, coi không còn ra hình tượng. Nhưng theo con nhận xét, thì chỉ có chỗ ấy mới còn là chỗ xứng đáng nhất để treo ảnh, vì những chỗ khác còn tồi tệ bằng mấy...

Ðang lúc con còn nhiều ý nghĩ về gia đình nghèo khó này, thì thằng nhỏ đã bú xong. Nó há miệng cười hề hề. Thỉnh thoảng nó lại đưa tay lên đầu gãi những mụn chốc. Người mẹ hình như còn chú ý đến đứa bé hơn là chú ý đến đứa con nuôi mới đưa về. Ðột nhiên con lên tiếng hỏi bà:

- Thưa bà, ông nhà đi làm đâu chưa về ạ!

Không nhúc nhích, hay tỏ một thái độ bỡ ngỡ, bà trả lời cho câu hỏi của con một cách thản nhiên:

- Nhà tôi đã mất non một năm nay.

Con bỡ ngỡ vì câu bà trả lời, không có một bằng chứng gì là thật, bởi vì ông mới mất non một năm, mà sao bà, và cả con cái bà nữa, không ai để tang cả? Con định đem chỗ vẩn xúc ấy mà hỏi bà, nhưng bà đã tiếp:

- Nhà tôi bị mất tích hồi Nhật mới qua Viêt Nam.

- Thế ra ông nhà phải tòng quân chứ ạ?

- Không, nhưng vì tình thế tỉnh nhà xôn xao nên nhà tôi đã bị người ta đưa đi đâu mất...

Ngừng một lát, như để nén lại sự cảm súc, rồi bà tiếp: Không biết bây giờ sống chết ra sao?

Ðịnh, anh con cả của bà, đã dắt chiếc xe đạp dựng bên một góc nhà. Và dường như anh đã được nghe hai đứa nhỏ thuật truyện mẹ chúng vừa mới đưa về nhà một đứa con nuôi? Anh chạy lại gần me ôm choàng lấy đứa em út, và hỏi mẹ một câu rất mau:

- Chú nào kia hở me?

Bà mẹ đem câu truyện thuật cho anh nghe. Nghe xong, anh sung sướng reo lên:

- Ha! thế là từ nay con có một người bạn ở trong xưởng. Rồi anh giơ tay múa như thể là diễn thuyết.

- Ở xưởng, mẹ có biết không? Không có một anh nào có đạo sốt cả, chỉ có mình con, suốt ngày phải nghe chúng mách tục như quỉ sứ, khổ bỏ sừ...

Anh ẳm đứa em đến ngồi cạnh con, vỗ vai con và vui vẻ nói:

- Thôi, chú cứ chịu khó ở đây với mẹ tôi, anh em chúng mình sẽ cùng nhau đi học tập, nay mai thành nghề rồi chúng ta sẽ... tha hồ... nhỉ.

- Vâng, cái đó em cũng xin nhờ vào lòng tốt của anh chỉ vẽ cho.

Ðịnh đưa em cho mẹ, rồi đi nấu cơm. Hai đứa nhỏ vẫn chơi bi với nhau ở ngoài đường cái lớn, gần nhà chúng. Ngoài phố các cột điện đã bật sáng, mặc dầu người đi đường chưa cần phải có ánh sáng đèn.

Tối ấy Ðịnh dẫn con đi nhà thờ. Hai chúng con từ đây như hai anh em ruột thịt. Ðịnh quí mến và nhã nhặn với con hết sức. Anh tâm sự với con không biết bao nhiêu là điều. Anh đã bắt đầu gọi con là em từ sau lúc nhà thờ đọc kinh xong, khi hai người bá vai nhau đi về nhà. Anh mới mười bốn tuổi mà cuộc đời cũng đã chai dạn như một người ba bốn chục tuổi. Anh rất mến mẹ và yêu các em. Có lẽ vì thế mà anh cũng vui lòng chịu một chứng bệnh ghẻ như các em? Anh cứ phải rờ gãi luôn tay, mỗi khi anh không phải dùng tay để làm việc gì. Thế mà anh vẫn vui, vẫn nhẫn nại tha thứ cho những cái ghẻ cắn rứt anh.

Về nhà, anh lo thu xếp chỗ nằm. Chiếc giường độc nhất kia, anh nhường để cho mẹ và hai đứa em nhỏ, còn anh và đứa em gái lớn trải chiếu nằm dưới nền nhà.

Mẹ anh, sau giờ đọc kinh lại phải chạy ra hàng để phụ việc với người em trai của bà, vì giờ ấy rất đông khách đến ăn. Trước khi nằm ngủ, anh họp các em lại quì dưới chân lò, đọc ba kinh kính mừng dâng kính Ð.M.H.C.G. để cầu xin cho ông thân được an toàn tính mệnh. Các em vâng lời anh một cách ngây thơ, không đứa nào dám nói một lời hỗn xược, và tỏ một cử chỉ ương ngạnh. Con rất cảm phục cái tình huynh đệ mật thiết như thế, và lấy làm sung sướng mỗi lần nghe Ðịnh gọi con là em.

Ðọc kinh xong, Ðịnh mời con lên "giường đất." Bỗng nhiên, con cảm thấy gây gây, vì nền nhà ẩm thấp, và hơi đất xông lên một mùi gì khó chịu. Con còn đang suy nghĩ, chỉ sợ anh Ðịnh mà biết sự ghê tởm của con thì phiền lắm.

Nhưng Ðịnh không chú ý đến con, anh còn đang lục lọi trong đống củi lấy một thanh đem ra làm gối đầu, còn chiếc gối đầu của con thì anh chỉ vào cánh tay trái của anh và nói:

- Gối đầu của Văn đây cơ.

Lúc ấy con còn ngồi yên trên giường, cười theo câu nói khôi hài của anh. Nói xong, anh ẵm hai thằng nhỏ lên giường rồi bá vai con anh vui vẻ nói:

- Thôi đi ngủ em, kẻo muộn. Thường thường mẹ về là chúng mình phải ngủ rồi, không thì mẹ không bằng lòng.

Cái gái chẳng cần phải đợi anh nó bảo, tự nó lăn kềng ra chiếu, và ngủ cách ngon lành.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com