MẸ
MARIA: NGƯỜI PHỤ NỮ ÐẶC TUYỂN Lm. Phan Ðức Hiệp, C.Ss.R.
Sau khi nguyên tổ A-đam, E-và nghe theo lời xúi giục của con rắn, tên cám dỗ quỷ quyệt, bất tuân lệnh cấm của Thiên Chúa, giơ tay hái ăn trái của cây "biết lành biết dữ" giữa vườn Ê-đen, để trở nên như những thiên chúa theo con đường tắt mà Xa-tan bày cho., con người mở mắt ra thấy mình không trở nên như những thần linh biết lành biết dữ, biết tốt biết xấu, biết thiện biết ác, . nhưng thấy mình trần thân trụi, thấy mình không còn là mình nữa, thấy mình xa cách Thiên Chúa và trở nên xa lạ đối với nhau và đối với chính mình. Con người lâm vào tình cảnh bất hạnh: yếu đuối, mỏng dòn và phải chết. Thế nhưng, Thiên Chúa là tình thương, Người không để con người phải hư mất đời đời. Người có một kế hoạch khác để cứu độ con người. Khi tuyên án con rắn, Người đã mở ra cho con người một hy vọng trong tương lai "Ta sẽ gây mối hận thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn vào gót nó." (St 3, 15) Người đàn bà mà sách Sáng Thế đề cập đến ở đây không ai khác hơn là chính Ðức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa và cũng là Mẹ chúng ta, người phụ nữ đặc tuyển của dân Chúa. Ðể cứu độ con người sa ngã, để giải thoát con người khỏi quyền lực của sự dữ, của Xa-tan, của ác thần, để phục hồi cho họ quyền làm người và làm con Thiên Chúa, Thiên Chúa đã có kế hoạch khác. Người đã chuẩn bị kế hoạch ấy qua dòng thời gian rất dài lâu và chu đáo. Ðó là, Con Thiên Chúa là Thiên Chúa thật đã nhập thể làm người và đứng chung trong gia phả nhân loại để thực hiện kế hoạch Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và đã cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1, 14). Gia phả là sự xác định tương quan máu huyết của một người với những người khác thuộc cùng một dòng tộc. Khi người ta thuộc về một gia phả nào đó, thì thân phận và số mệnh của họ cũng gắn chặt và đồng nhất với những người thuộc gia tộc đó. Lịch sử dân Do-thái cho thấy rằng: Thiên Chúa đã chọn Áp-ra-ham và làm cho ông trở thành cha của một dân tộc đông như sao trời, như cát biển. Dòng họ này nối tiếp dòng họ kia. Từ Áp-ra-ham đến Ða-vít có 14 đời. Từ Ða-vít đến thời lưu đày có 14 đời. Từ thời lưu đày đến Ðức Giê-su có 14 đời. Tổng cộng từ Áp-ra-ham đến Ðức Giê-su có 42 đời. Và dòng tộc này cũng có những con người tội lỗi, như bà Ta-ma nhờ mưu mô, có con với bố chồng (St 38, 1-30); Ra-kháp là một kỹ nữ (Gs 2, 6); bà Rút là một bà goá ngoại giáo thuộc vùng đất dân ngoại (R 4, 18); bà Bét-sê-va vợ của U-ri-a đã ngoại tình với Ða-vít và là mẹ của Sa-lô-môn (2 Sm 11, 1-5). Dòng tộc Áp-ra-ham dù là dòng tộc được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn nhưng lại là một dòng tộc đã từng thất trung bất tín, đã từng quay lưng lại trước tình thương của Thiên Chúa, đã từng phản bội lại Thiên Chúa yêu thương để thờ bò vàng và các thần ngoại bang, các tà thần. Sự thất trung bất tín của họ có lần đã khiến cho Thiên Chúa phải đẩy họ vào cảnh nước mất nhà tan, phải sống lưu đày ở Ba-bi-lon đất khách quê người. Khi đưa Ðức Giê-su vào trong gia phả của dòng tộc thất trung ấy, Thánh sử Mát-thêu muốn quả quyết rằng: cho dầu dòng tộc Áp-ra-ham và Ða-vít là một dòng tộc thất trung bất tín, tội lỗi đi chăng nữa, thì Thiên Chúa vẫn một mực trung tín với lời Người đã hứa với họ. Từ nơi dòng tộc Áp-ra-ham, Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một Ðấng sẽ làm cho ngôi báu Ða-vít được trường tồn vạn kỷ và cho dòng tộc Áp-ra-ham được đông như sao trời, như cát dưới biển. Như thế, tình yêu của Thiên Chúa luôn luôn lớn hơn tội lỗi của con người, bao trùm lên trên tội lỗi của con người và không một tội lỗi nào nơi con người có thể phá huỷ được kế hoạch yêu thương nghịch thường của Thiên Chúa. Ở đâu tội lỗi càng nhiều, ở đó ơn cứu độ càng dẫy đầy hơn nữa. Ngoài ra, khi chấp nhận đứng chung trong gia phả loài người, Ðức Giê-su đã trở thành một người như chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi. Ngài đã trở thành ruột thịt của những người tội lỗi. Ngài là Ðấng vô tội nhưng đã mang vào thân mình Ngài thân phận của con người sa ngã, yếu đuối, mỏng dòn và phải chết. Khi đứng chung trong gia phả của loài người, Ðức Giê-su đã liên đới với họ một cách mật thiết đến độ Ngài với họ là một. Chính vì thế mà, khi Ngài được tôn vinh, loài người cũng được tôn vinh; Ngài là Con Thiên Chúa, loài người cũng được nên con cái Thiên Chúa. Ðó là điều mà con người mọi thời và mọi nơi không hề dám nghĩ tới. Lại một lần nữa, tình yêu của Thiên Chúa vượt mọi mơ ước của loài người. Nhờ Ðức Giê-su làm người mà thân phận nhân loại của chúng ta đã được biến đổi cách thâm sâu nhất. Từ nay, vì Con Thiên Chúa đứng chung trong một gia phả với chúng ta, nên chúng ta cũng được tham dự vào địa vị, chức phận và quyền lợi của con cái Thiên Chúa. Biết được ý định của Thiên Chúa muốn mời Mẹ dự phần tích cực vào trong chương trình cứu độ yêu thương của Người, qua lời truyền tin của sứ thần Gáp-ri-en, Ðức Ma-ri-a đã bằng lòng xoá đi chương trình hạnh phúc riêng tư đời mình, để dự phần tích cực vào trong chương trình cứu độ yêu thương của Thiên Chúa bằng lời "xin vâng" tuyệt đối, không do dự, không chần chờ "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa. Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." (Lc 1, 38) Lời "xin vâng" của Ðức Ma-ri-a trong ngày truyền tin tại Na-da-rét đã khiến cho Con Thiên Chúa đứng chung trong gia phả nhân loại để thực hiện kế hoạch Em-ma-nu-en, nghĩa là kế hoạch Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Thiên Chúa ở cùng chúng ta không như chúng ta ở trong ngôi Thánh Ðường này: người này ở bên người kia; không như cha mẹ, vợ chồng, con cái ở chung trong một căn nhà mà Người ở cùng chúng ta một cách thâm sâu đến mức độ đã trở nên một bào thai trong cung lòng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a, nơi đó, Thiên Chúa đã lấy máu thịt con người làm máu thịt của mình để con người mang mình máu thịt của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã làm người để con người được làm Thiên Chúa nói theo ngôn ngữ của thánh giáo phụ A-tha-na-xi-ô. Có thể nói: khi Con Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng Ðức Ma-ri-a thì loài người chúng ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Con Thiên Chúa vào tận trong lòng con người để con người cũng được vào tận trong Thiên Chúa. Thiên Chúa không còn ở trên tận trời cao thăm thẳm và con người ở dưới mặt đất thấp này nữa, Thiên Chúa không còn xa lạ đối với con người và con người không còn xa lạ đối với Thiên Chúa nữa nhưng Thiên Chúa chen chân vào trong cõi tạo thành này, để tạo thành này được đi vào tận trong cõi của Thiên Chúa. Không để cho Thiên Chúa đi vào trong cõi lòng ta là ta chống lại kế hoạch cứu độ yêu thương của Thiên Chúa. Chính vì muốn ở với loài người mọi ngày cho đến tận thế, chính vì muốn vào tận trong cõi lòng của con người mà Ðức Giê-su đã lập bí tích Thánh Thể để thịt và máu Ngài dưới hình bánh và hình rượu để nên của ăn của uống thiêng liêng nuôi sống linh hồn chúng ta, để cùng đồng hành với chúng ta trong cuộc lữ hành đi về nhà Cha trên trời. Ðức Giê-su bước chân vào trong cõi tạo thành này không chỉ để chia sẻ thân phận của con người sa ngã, yếu đuối, mỏng dòn và phải chết,. mà còn để chỉ cho con người con đường đi về nhà Cha trên trời là thực hành 8 mối chân phúc, còn gọi là Hiến Chương Nước Trời. Và nhất là Ngài là Ðấng vô tội nhưng đã mang lấy tất cả tội lỗi của trần gian trên thân mình Ngài và đem lên bàn thờ thập tự giá làm lễ tế giao hoà giữa Thiên Chúa thánh thiện và con người tội lỗi, để con người được phục hồi quyền làm người, làm con Thiên Chúa và trở nên anh chị em với nhau, con chung một Cha ở trên trời. Ðức Giê-su chen chân vào trong trần gian này và đứng chung trong gia phả nhân loại để mọi người được trở nên thân nhân ruột thịt của chính Thiên Chúa. Tin Mừng Mát-thêu thuật lại rằng: khi Ðức Giê-su đang giảng dạy, dân chúng vây quanh Ngài đông lắm đến nỗi không ai có thể len lỏi đến với Ngài được. Lúc ấy có Mẹ và anh em Ngài đến. Người ta báo cho Ðức Giê-su biết có Mẹ và anh em Ngài đến. Ðức Giê-su ngưng giảng dạy, ngước mắt nhìn những người chung quanh rồi nói: "Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta?," rồi Ngài trả lời: "Mẹ Ta và anh em Ta là những người nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Mt 12, 46-50). Như thế, ta có thể nói rằng: bất cứ ai trong trần gian này mà biết nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa thì đều được nên mẹ, nên anh em ruột thịt của Ðức Giê-su. Chính vì thế mà nếu hôm nay, ta không được hưởng địavị, quyền lợi và hạnh phúc được làm mẹ, làm anh em của Ðức Giê-su thì không phải tại Thiên Chúa mà là hoàn toàn do lỗi của ta. Ðiểm đặc biệt nơi Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a là Mẹ biết "nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Lc 11, 28). Có thể nói Ðức Ma-ri-a đã cưu mang Lời Chúa trước khi sinh ra Lời Nhập Thể. Mẹ lắng nghe và tuân phục ý Chúa đến mức độ Mẹ đã hoàn toàn xoá bỏ mình đi, không còn nghĩ gì đến Mẹ nữa mà chỉ nghĩ đến Ðức Giê-su Con Mẹ mà thôi. Cả cuộc đời của Ðức Ma-ri-a là một lời xin vâng liên tục. Xin vâng không phải chỉ trong ngày truyền tin mà trong mọi giây phút của cuộc đời. Xin vâng khi phải sinh con trong chuồng bò hôi tanh trong một đêm đông rét mướt. Xin vâng khi phải đem con lánh sang Ai-cập trốn bạo vương Hê-rô-đê đang lùng bắt giết con trẻ. Xin vâng khi lạc mất con, để khi tìm lại được, lại phải nghe những lời mà Mẹ không hiểu nổi (Lc 2, 41-50). Xin vâng khi thấy con bỏ nhà ra đi rao giảng Tin Mừng. Xin vâng khi đứng dưới chân cây Thập Tự Giá để hết lòng ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra, vì phần rỗi của nhân loại. Xin vâng khi nhận môn đệ Gio-an tượng trưng cho Giáo Hội sơ sinh làm con của Mẹ. Có thể nói, cả cuộc đời của Ðức Ma-ri-a, từ ngày truyền tin tại Na-da-rét cho đến ngày đứng dưới chân cây Thập tự giá trên đồi sọ Gôn-gô-tha, là một lời xin vâng liên tục để Mẹ thuộc về Ðức Giê-su và trở nên giống Ðức Giê-su Con Mẹ. Mẹ đã đưa Ðức Giê-su Con Mẹ vào trong gia phả nhân loại này để Ngài quy tụ một dân mới cho Thiên Chúa. Hãy đến với Ðức Ma-ri-a để Mẹ đưa chúng ta đến với Con Mẹ, vì như các thánh đã quả quyết: "Ðức Ma-ri-a là con đường đưa ta đến với Ðức Giê-su, Con Mẹ." Lạy Mẹ Ma-ri-a, Mẹ là người phụ nữ đặc tuyển của Thiên Chúa. Nhờ lời "xin vâng" của Mẹ, mà Con Thiên Chúa mới có thể chen chân vào trong cõi tạo thành này, đứng chung trong gia phả của nhân loại sa ngã chúng con, để kéo chúng con ra khỏi vũng lầy của tội lỗi, để chúng con được phục hồi quyền làm người, làm con Thiên Chúa, được thuộc về dân riêng của Thiên Chúa. Xin cho chúng con biết noi gương Mẹ, luôn biết nói lời xin vâng trước ý định của Thiên Chúa về cuộc đời của chúng con và biết dự phần tích cực vào việc làm cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến trên hành tinh này của chúng con. A-men. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |