VIỆT NAM GIÁO SỬ

Lm Phan Phát Huồn, CSsR

PHẦN THỨ NĂM
NHỮNG NĂM TRƯỞNG THÀNH

(1933-1960)

CHƯƠNG BA MƯƠI BỐN
CHUẨN BỊ THÀNH LẬP HÀNG GIÁO PHẨM
TẠI VIỆT NAM 1933-1960

II. Công Ðồng Ðông Dương tại Hà Nội (1934)

Khi vị Sứ Thần Tòa Thánh Celse Costantini Ayuti qua đời, Tòa Thánh Vatican đã bổ nhiệm Ðức Cha Colomban Dreyer, OFM qua Việt Nam, người đã có công đứng ra tổ chức Công Ðồng Ðông Dương (22). Hiệu quả của Công Ðồng này đã tạo được ảnh hưởng lớn lao cho cuộc sống đức tin vào các thập niên sau này. Các hoạt động của Hội Nghị đã được Bộ Truyền Giáo chấp thuận vào năm 1937 và được Khâm Sứ Tòa Thánh tại Ðông Dương là Antonio Drapier, OP phổ biến vào cùng năm đó. Công Ðồng được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 16 tháng Mười Một đến ngày 6 tháng Mười Hai năm 1934.

A. Những tham dự viên của Hội Nghị

Các Ðức Cha Eugène Allys thuộc giáo phận Huế và Ðức Cha Pierre Gendreau thuộc giáo phận Hà Nội không tới tham dự Công Ðồng được vì lý do sức khoẻ. Khoảng 20 Giám Mục, năm vị bề trên từ năm tu hội hoặc giáo đoàn và 21 linh mục cố vấn gồm 10 linh mục Pháp Quốc, 7 linh mục Việt Nam, 3 linh mục Espanha và 1 linh mục Thái Lan (23) tới tham dự Công Ðồng.

Các tham dự viên chia làm năm nhóm. Nhóm thứ nhất do Ðức Cha Ramond thuộc giáo phận Hưng Hóa chủ trì, bao gồm nhiều thành viên là Ðức Cha Alexandre Marcou giáo phận Phát Diệm, Ðức Cha Ange Gouin từ Ai Lao (24), và một số linh mục và tu sĩ thảo luận về kỷ cương và các hoạt động đối với các Giám Mục, các nhà truyền giáo và các linh mục.

Nhóm thứ hai do Ðức Cha Petrus Munagori thuộc giáo phận Bùi Chu chủ trì, cùng với Ðức Cha De Cooman thuộc giáo phận Thanh Hóa, Ðức Cha Phó thuộc giáo phận Hà Nội là Francois Chaize là thành viên, thảo luận về kỷ cương liên quan đến các linh mục bản xứ, các chủng sinh, sự giáo dục và cách sống của họ.

Nhóm thứ ba do Ðức Cha Isidore Dumortier (25) thuộc giáo phận Sài Gòn chủ trì, Ðức Cha Phó giáo phận Huế là Alexandre Chabanon (26), Ðức Cha Francois Gomez (27) thuộc giáo phận Hải Phòng, Ðức Cha Martial Janin thuộc giáo phận Kontum, nhóm này phụ trách việc quản lý các phép bí tích.

Nhóm thứ tư do Ðức Cha René Perros từ Bangkok chủ trì, bao gồm các thành viên là Ðức Cha André Eloy thuộc giáo phận Vinh, Ðức Cha Valentin Herrgot thuộc giáo phận Pnom Penh, Ðức Cha Felix Hedd, OP, từ giáo phận Lạng Sơn. Nhóm này nghiên cứu về các điều lệ của một xứ đạo và đặc biệt là vấn đề Công Giáo Tiến Hành (25).

Nhóm thứ năm thảo luận về các vấn đề tài chánh, nhóm này gồm có Ðức Cha August Tardieu thuộc giáo phận Qui Nhơn, Ðức Cha Eugène Artaraz, OP thuộc giáo phận Bắc Ninh và Ðức Cha Phó Nguyễn Bá Tòng từ giáo phận Phát Diệm.

B. Năm Chương Mục của Công Ðồng

Công Ðồng đã phổ biến một đặc san (26) mà nội dung bao gồm năm chương chính:

Chuơng thứ nhất - Mô tả những điểm then chốt về việc bầu Giám Mục và các điều luật tôn giáo. Theo chương này thì các phiếu bầu đó có tính cách tư vấn, không có tính chung kết vì phải chờ quyết định của Tòa Thánh Vatican. Chương này còn lưu ý các vị truyền giáo phải tránh các hoạt động chính trị vì có thể đưa đến sự hiểu lầm rằng Hệ Thống Tổ Chức Giáo Hội là một tôn giáo của ngoại bang (28), gạt bỏ mọi kỳ thị giữa các nhà truyền giáo và dân bản xứ (29). Phần ghi chú nhắc nhở về nhân cách của linh mục khi tiếp xúc giới phụ nữ. Chương này còn cấm các vị linh mục đi tới các rạp hát.

Về điều khoản trang phục, các linh mục phải mặc áo dài đen chùng tới gót chân. Tại vùng quê, các linh mục được phép mặc áo dài đen truyền thống của nam giới, nhưng không được mặc áo đó khi cử hành nghi thức phụng vụ tại Thánh Ðường. Áo khoác và quần kiểu Tây Phương không được phép dùng đến.

Về vấn đề liên quan đến nữ tu, nhất là các chị em Dòng Mến Thánh Giá, Cộng Ðồng mong muốn tất cả các chị em nữ tu nên có lời khấn sống trong sạch, vâng lời và khó nghèo sau khi đã trải quá năm nhà tập để chính thức gia nhập dòng.

Chương thứ hai - Tập trung vào cách đào tạo các linh mục bản xứ. Các người tận hiến muốn trở thành linh mục phải được tuyển chọn và huấn luyện tại tiểu chủng viện và còn phải qua một thòi gian tập thử (30). Các em trong thời gian nhà tập không nên ở tại nhà của Cha Sở nếu cha mẹ sống gần đó hoặc có trường học trẻ em. Thời gian tập thử không dài quá một năm. Chương này còn nhấn mạnh rằng chương trình nhà tập phải tách biệt với chương trình huấn luyện tiểu chủng viện.

Các em dưới 9 tuổi và trên 13 tuổi không được phép tham dự vào chương trình nhà tập. Chúng còn phải là con cái của cha mẹ Công Giáo có tinh thần tôn trọng luật Giáo Hội và luật quốc gia. Các em trong thời gian nhà tập được huấn luyện theo chương trình giáo dục bậc tiểu học của chính quyền.

Việc tiếp nhận tiểu chủng sinh đòi hỏi đương sự giấy chứng nhận đã học xong bậc tiểu học hoặc một văn kiện tương đương.

Tại các tòa giám mục của miền Ðông Nam Trung Hoa, thường có sự phân biệt giữa đại chủng viện và tiểu chủng viện. Cuộc sống trong các chủng viện được kỷ luật bảo vệ. Thời khóa biểu của tập sinh được tôn trọng kỹ càng, đặc biệt là trong tiểu chủng viện và trong trường học tập có ít nhất là 8 giờ nghỉ ngơi trong một ngày. Trong Thánh Lễ, các tập sinh không được đọc kinh lớn tiếng, nhưng phải giữ im lặng để tĩnh tâm. Sau khi đã hoàn tất các lớp triết học, các chủng sinh sẽ bước vào giai đoạn nhà tập gần hai năm (31). Các chủng sinh có thể ở lại với Cha Sở, trợ giúp Cha trong công việc mục vụ. hoặc hỏi Thánh Kinh chứ không phải là trong việc tài chánh.

Một chủng viện do một ban giám đốc điều hành: họ có trách nhiệm bảo trì kỷ luật. Các giảng sư, hai vị giải tội, một vị quản lý, và một vị tuyên úy phụ trách về mặt tinh thần của các chủng sinh, đó là thành phần thường trực của chủng viện. Vị quản lý trợ giúp vị giám đốc để cung cấp ba bữa ăn trong một ngày cho các chủng sinh. Các thành viên của ban giám đốc được khích lệ ngồi ăn chung với các chủng sinh trong phòng ăn. Ðể kết thúc chương này, Công Ðồng đề nghị các chủng sinh xuất sắc, qua sự xét nghiệm của Giám Mục liên hệ, được gửi qua Rôma để du học, vàø rồi sau này sẽ trở thành các huấn luyện viên sau khi họ tốt nghiệp.

Chương thứ ba nói về các phép bí tích và nghi thức phụng vụ.

Khi nghi thức làm phép Rửa Tội không thể cử hành tại Thánh Ðường hoặc nhà nguyện, nên cử hành tại nhà hoặc nơi cư trú riêng, không những trong giờ phút nguy tử hoặc đau ốm nặng mà còn trong tình trạng có lý do đặc biệt (32). Y phục để cử hành nghi thức cần đúng phong cách ấn định: vị linh mục chủ trì nghi thức thánh phải mặc aó dài đen và đi giầy đen. Bất cứ vị linh mục nào không mặc y phục đúng cung cách, không được cử hành nghi thức (33).

Chi phí y phục do Giám Mục ấn định, và số tiền phải bằng số tiền của các giáo xứ khác trong giáo phận. Công Ðồng còn nhắc nhở tất cả các linh mục rằng việc cử hành phép Rửa Tội cho kẻ sắp chết là bổn phận phải thực hiện dù rằng họ bị nguy tử vì chứng bịnh dễ lây lan (34).

Qua sự ưng thuận của các vị Giám Mục tại Công Ðồng, một giải pháp được ban hành: Tất cả các linh mục trong vùng đất Ðông Dương, trong những chuyến hành trình từ nơi này đến nơi kia đều có quyền giải tội cho các linh mục khác mienã là vị linh mục ấy đã cóã năng quyền do bề trên liên hệ cấp cho. (35).

Các lễ buộc phải được tôn trọng là Lễ Giáng Sinh, Lễ Chúa Lên Trời, Lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Lễ Các Thánh. Những ngày lễ buộc khác ngay cả Lễ Kính Thánh Phêrô và Phaolô, được cử hành vào ngày Chúa Nhật sau đó.

Chương thứ bốn thảo luận về sự bảo vệ Ðức Tin bằng lời nói và hành động.

Về công tác rao giảng Tin Mừng, tại miền Ðông Dương thời đó có bốn vùng phụng vụ (36). Vùng thứ nhất là các xứ đạo miền Bắc Việt Nam, vùng thứ nhì là miền Trung Việt Nam, vùng thứ ba là miền Nam Việt Nam và Cao Miên; vùng thứ tư là Thái Lan và Ai Lao. Công Ðồng đưa ra ý kiến rằng cácc Giám Mục trong bốn vùng đó nên thường xuyên gặp gỡ nhau để giúp đỡ lẫn nhau. Giám Mục niên trưởng cần đưa ra thời khóa biểu các buổi họp và mỗi buỗi họp cần được báo trước ba tháng cho toàn thể các cộng đồng trong vùng.

Chú thích:

(22) Codex Juri Canonici, điều 439 Vatican 1983.
(23) Les Missions Catholiques, trg 60, Paris 1935.
(24) Năm 1934, Ai Lao chỉ có một toà giám mục.
(25) Neil Schmand "History of the Catholic Church," Nhà Xuất bản Bruce, trg 630 The Pope of Catholic Action USA 1957.
(26) Primum Concilium Indosinense 1934 Trung Hòa, Hà Nội 1938.
(27) Ibid, trg 34.
(28) Ibid, trg 40.
(29) Ibid, trg 43. Sư phân biệt được những nhà truyền giáo Pháp và những tu sĩ Ðôminicô Tây Ban Nha xác nhận.
(30) Probatorium.
(31) "Primum Concilium Indosinense 1934, trg 63, Hà Nội 1938.
(32) "Primum Concilium Indosinense 1934, trg 72, Hà Nội 1938.
(33) Codex Juri Canonici số 804.2 và sự hướng dẫn "Prudentissimo" S.C.C, trg 336 Vatican 28.7.1931.
Primum Concilium Indosinense 1934, trg 78, Hà Nội 1938.
Ibid, trg 81.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com