TỰ THUẬT

(Kỳ 21)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

 

Thoát Thân

Cơm trưa xong, ngoài trời vẫn còn mưa như thác đổ. Con đã có ý định thoát thân trước khi vợ chồng người phu xe nhận được tiền bán con. Tuy nhiên, con vẫn tỏ thái độ điềm nhiên, hơn nữa, con còn khéo giả bộ ngu ngốc để vợ chồng người phu xe không thể dò thấu ý định của con. Vì đối với họ không lúc nào bằng lúc này, họ chú ý đến con từng cử chỉ nhỏ mọn.

Ăn xong, con ăn no như thường, chứ không e sợ họ bỏ bùa yêu như tối hôm qua nữa. Vì họ có ý giữ con lại đâu mà yêu? Con nằm kềnh ngay ra giường và đánh một giấc ngủ thật dài.

Lúc con giật mình dậy, con còn thấy hai vợ chồng người phu xe ngồi bó gối bên cạnh con, nói chuyện huyên thuyên. Nhưng họ không biết là con đã thức.

Con định ngủ lại để lấy sức thêm vì biết đâu đêm nay là đêm con sẽ phải chong mắt để rình cơ hội "trốn". Nhưng con không tài nào ngủ thêm được nữa. Mặc dầu con cũng nằm yên, và giả cách như ngủ mệt.

Một lúc sau, con nghe thấy anh chồng ngáp dài, vươn vai, rồi nói với vợ:

- Trời buồn quá. mình đi ngủ đây.

Rồi bác ta ngã người xuống cạnh con, nằm ngủ. Không đầy năm phút, bác ta đã kéo gỗ khò khò. Rồi cũng đến lượt chị vợ lần vào phía trong nằm ngủ theo chồng. Trước khi nằm hẳn xuống giường, chị ta cúi mặt xuống sát mặt con nói một cách tự nhiên:

- Thằng bé này mà được con cái Tí con bà cả Hương thì sướng chán.

Con bỗng cảm thấy thẹn thùng, mặt con bốc nóng và khó chịu không thể tả. Con cũng không rõ chị ta có nhận thấy mặt con biến sắc vì câu nói đó không? Có lẽ là không, vì nói xong là chị ta đặt mình đánh thịch một cái xuống giường, làm cho cả giường bị lay chuyển, kêu rót rét.

Con rất khó chịu vì phải nằm giữa đôi vợ chồng họ. Nhưng không làm sao mà tránh. Chừng hai mươi phút sau, con tưởng như chị vợ đã ngủ say như chồng nên con ngổm dậy, rón rén bước qua người chồng để xuống giường.

 

Bỗng nhiên người chồng ngừng ngáy, làm con hơi lo lo. Nhưng một lúc lại nghe bác ta tiếp tục ngáy như thường. Con ra phản giữa ngồi nhìn ra phía sân. Mưa tuy đã ngớt, nhưng cảnh vật buồn thiu. Con chưa có ý định thoát thân giữa lúc này.

Tuy nhiên, một sự xui giục mạnh mẽ và linh thiêng nào đó bảo con nên trốn đi ngay bây giờ. Con đoán có lẽ là tiếng giục giã của Mẹ Maria. Vì từ lúc con đã bị đem ra mà cả, sự nhớ nhung gia đình gợi nên trong con không tài nào tả hết. Nhất là hình dung của người mẹ thân yêu, luôn luôn lởn vởn trong tâm trí con. Và khi ấy con đã khóc chỉ vì nghĩ đến sự phải lìa biệt hẳn những người con thân mến. Một khi con đã bị người ta đem tiền đến mua, thì tất cả sự gặp gỡ con mong muốn ở nơi gia đình, sẽ chỉ là một cơn đau buốt dài dặc nếu con không thể trốn thoát tay kẻ đã mua con.

Nghĩ thế, nên con đã khẩn cầu Mẹ Maria đến cứu giúp. Con xin người liệu thế cho con trốn trước khi người ta đem tiền đến bắt con.

Cho nên đây là giây phút thuận tiện, mà Mẹ Maria đã xếp định cho con. Thấy hai vợ chồng người phu xe còn ngủ mê, con yên tâm và quyết định trốn ngay, theo sự thối thúc trong tâm hồn. Con liền làm dấu thánh giá và đọc ba kinh kính mừng, cầu khấn Mẹ Maria phù trì, rồi con nhẹ nhàng cất bước ra khỏi nhà người phu xe. Ra khỏi cổng, con cảm thấy lo lắng hồi hộp quá. Con quay lại nhìn xem có ai biết không. Nhưng không thấy gì, nên con lại vững dạ đi ra ngoài đường cái lớn, rồi thẳng con đường ấy con chạy một mạch lên chợ Bắc Ninh.

Ở chợ Bắc Ninh các nhà hàng cơm đã thấy vắng mặt con, nên họ đoán là con đã có nơi nương náu tử tế rồi. Nhưng đến khi thấy con trở lại đấy với một bộ mặt sợ hãi, và áo quần ướt như chuột, người ta xúm lại hỏi han.

Sau khi đã nghe con phân trần đầu đuôi về việc vợ chồng người phu xe manh tâm đem bán con cho một người đàn bà nào, họ mới lấy làm tội nghiệp. Tuy thế, con cũng chẳng được ai nghĩ đến việc cứu giúp.

Một lúc sau, khi con còn đang ngồi cạnh lò lửa của một nhà hàng cơm, đểõ sưởi cho quần áo mau khô. Chẳng rõ ở đâu chaỵ lại một bác đàn ông trạc độ ba mươi tuổi, tay còn cầm con dao phay thái thịt, nên con nhận ngay được bác ta là ngươì hàng phở.

Bác ta đến bên con, vỗ vai cách thân mật, gật đầu chào con một cái như chào một ông lớn. Con hiểu là bác ta có ý pha trò. Rồi bác vỗ vào ngực đánh phịch một cái, và tự giới thiệu bô bô ở giữa chợ:

- Tôi có đạo đây. Lậy Chúa tôi chứ. thật là tội nghiệp cho chú quá! Tôi vừa mới nghe người ta kháo láo về chú mà tôi lấy làm cảm tâm hết sức. Vậy thì chú về nhà tôi, tôi sẽ nuôi chú, và tập cho chú có nghề nghiệp mà làm ăn.

Lại một lần nữa, con nghe người ta hứa lo lắng, và chăm chú đến con. Con đã cảm thấy chán ghét những lời hứa tốt đẹp ở miệng đời. Cho nên, mặc dầu bác ta đã phân phô, và giơ cả ảnh chuộc tội bác ta đeo ở ngực cho con coi, con cũng không còn tin bác ta là người nói thật. Truyện đời biết đâu mà tin? Nên con đáp lại với bác ta ngay rằng:

- Cháu cám ơn bác hết lòng vì sự cảm tâm và nuốn lo liệu cho đời cháu có nghề nghiệp làm ăn. Nhưng hiện nay cháu không còn thể ở Bắc Ninh này lâu hơn được nữa, cháu phải tìm về nhà thày mẹ cháu, hoặc ít là có thể về nhà người quen để họ lo liệu cho cháu. Vậy cháu chỉ xin ở làm cho bác ít lâu, rồi xin bác cho cháu chút ít tiền, để cháu có thể tìm về nhà quê bá cháu được:

- Bá chú ở đâu?

- Ở Từ Sơn.

- Ồ, từ đây về Từ Sơn có mấy, mà sao chú không về?

- Vâng vẫn biết thế, nhưng cháu không có một đồng xu để đi xe?

- Ði bộ? Mười lăm cây số thôi mà.

- Vâng, cháu cũng đã đi thử, nhưng không sao tránh khỏi lũ trẻ chăn trâu chặn đường bắt nạt. Hôm ấy, chúng đã cướp mất của cháu chiếc áo dài trắng.

- Khốn kiếp cho tụi vô giáo dục! Nhưng mà chú đã xin quá giang xe chưa?

- Thưa đã, nhưng bác tài đã từ chối, lại còn riếc cháu? Ðòi đi xe mà không có tiền!

- Ðược chú về nhà tôi, ăn làm ít bữa xem sao đã, rồi tôi khác liệu cho chú về nhà bá chú.

* * *

Ngán thay! Con người như thế mà lại bị kiềm chế do người vợ. Ở giữa chợ thì bác ta ăn nói hùng hổ như ông tướng, nhưng về nhà thì lại thun thút, sợ vợ như sợ cọp.

Vợ bác là một người đạo theo, mới chịu phép rửa tội ngày hôn phối. Vợ chồng ăn ở đã được hai mụn con. Song rủi, đứa con đầu lòng bị chết sớm, làm cho chị ta buồn rầu không thể tả. Và cũng từ bấy giờ, chị ta thôi không giữ đạo nữa. Ðứa con chết được ít lâu, chị ta trốn chồng đi cầu tự ở chùa Lim và nhờ thày bói gieo quẻ cho. Ðược ít lâu, chị ta lại sinh được đứa con trai, xinh đẹp như thằng trước. Nhưng lần này, chị ta nhất định không cho đem đi chịu phép rửa tội, mặc dầu từ nhà chị tới nhà thờ không xa bao nhiêu, cùng lắm là chỉ mất năm mươi bước. Vì chị ta chỉ sợ rằng đem đi rửa tội thì nó lại phải cái vạ chết non như thằng bé trước. Thế mà bác chồng cũng cứ phải "vâng" răm rắp.

Trong nhà, chị ta bảo thu dọn bàn thờ đạo đi, và đừng đọc kinh nữa, bác ta cũng gật thật lực, và tuân hành đúng lệnh vợ truyền.

Bước chân về nhà Bác, chị vợ chỉ không ưa con có một nỗi là con có đạo, nên vừa nghe chồng giới thiệu là chị ta đã bất bình ngay, và cũng xử cay nghiệt với con ngay từ lúc mới bắt đầu giúp việc cho nhà chị. Suốt ngày chị ta cằn nhằn với chồng về nỗi: Sáng thì con đòi đi xem lễ., tối thì lại đòi đi nhà thờ đọc kinh. Rồi chưa được một ngày mà chị ta đã xúi chồng đuổi con đi hai ba lần. Chị ta căm nhất là mỗi lần đưa thằng bé cho con giữ, là con tập làm dấu thánh giá cho nó.

Thằng bé sáng trí lạ, nó chưa đầy một tuổi mà con chỉ tập cho nó mấy lần, rồi bảo nó làm dấu, nó giơ tay làm ngay, và làm thật đúng, nhưng đọc thì không rõ, vì nó chưa biết nói.

Bác chồng, tuy nghe vợ xúi, nhưng không đành lòng đuổi con đi, vì thật ra cũng có lợi. Bác ta mới dở ra trò cám dỗ con:

- Này thôi chú, tin Chúa là đủ rồi, cần gì phải đọc kinh xem lễ cho nó nhọc?. Chú nên nghe tôi kẻo bu nó buồn, là từ nay. thôi chứ. đi xem lễ làm quái gì? Mình giữ đạo tại tâm chứ.

Con thì con không chịu chỉ giữ đạo tại tâm thôi, mà còn phải lo phụng sự Chúa ra bề ngoài nữa. Ðang cơn sốt sắng, con diễn thuyết cho vợ chồng bác ta một bài và câu trước hết con hỏi bác ta là lời Phúc Âm:

- Có ai đốt đèn mà lại đem giấu kín trong thùng không?

Con lại còn đe:

- Nếu anh chị chẳng giữ luật Chúa cho trọn, thì thế nào cũng sẽ bị tay Chúa sửa trị. Con cũng khuyên bác chồng phải khuyên răn vợ, và phải liệu cho thằng bé được chịu phép rửa tội cho sớm.

Thấy lý lẽ phải, xem ra bác ta phục. Bác nói với vợ:

- Ðấy, bu mày xem?. chú ấy nói không hay bằng ông cố giảng ở nhà thờ à? Bu mày liệu đấy, người ta đã bảo đem con đi chịu phép rửa tội thì lại.

- Tội tội gì.

Chị vợ nổi ngay tam bành lên, nhiếc cho anh chồng một mẻ kịch liệt. Bác ta lắp bắp chẳng biết đối lại làm sao, đứng dậy lủi đi ra phố, như để tránh cơn thịnh nộ của bà "chúa" vợ.

Trưa hôm sau chị vợ dỗi không ăn cơm, vì bác chồng theo con làm dấu thánh giá và đọc kinh trước khi ăn. Chị ta còn căm hơn nữa, là thấy thằng bé con cũng giơ tay bắt chước làm dấu thánh giá. Chị ta phát ngay vào lưng thằng bé một cái và rủa nó:

- Thằng chết tiệt này, này cũng theo bố mày mà làm tội cho tao à?

Chị ta bỏ ra sau, không thèm ăn cơm nữa. Bác chồng sợ vợ dỗi, chạy theo ra dỗ, bị bà "chúa" vợ "tung cơn gió bụi" cho một mẻ tím cả mặt lại.

Lần nào cũng thế, khi thường thì bác ăn nói chững chạc., lắm, nhưng hễ bị vợ mắng là bác sinh chứng nói lắp.

Con hết sức nín cười khi thấy bác rặn mãi không được một câu, dang khi chị vợ nói như xỉa vào tai. Và lần nào bác cùng phải tìm đường rút lui ra ngoài phố.

Lần này, bác vừa đi, chị vợ ở nhà không còn ai đôi co với nữa để chị nói cho đã tức. Chị đâm ra khóc tu tu. Rồi nhân dịp chồng vắng nhà, chị ta lên mặt chủ nhân, và đuổi phắt con đi, chẳng tính cho con lấy một xu tiền công. Con ra đi, nhưng chẳng để ý gì đến việc xin trả tiền công. Con chạy ngay vào nhà thờ, và ở đây con lại xin giao phó cuộc đời con cho Ðức Mẹ.

Lần xong một tràng hạt, con bước ra và từ đây con theo dõi thánh Alexis, tu trên bước đường hành khất.

Con không trở lại chợ Bắc Ninh nữa. Nghề của con bây giờ là chỉ biết giơ tay xin người qua lại bố thí. Và quãng đường con đi chỉ có từ nhà thờ tới nhà ga, rồi lại từ nhà ga về nhà thờ. Cảnh sống của con rất thất thường. Khi nắng ráo thì không sao, nhưng trời cũng có lúc mưa, nhất là về mùa dễ cảm xúc này (mùa thu). Cho nên lòng dạ con cũng có lúc no lúc đói. Và nổi buồn dường như không bao giờ có thể rời xa con.

Ðêm đến, con nằm trú dưới các gốc to, hoặc những mái hiên bên đường phố. Năm ngày sau, trông con, ai là người đã gặp con khi trước, nay không còn thể nhận được diện con nữa. Chính con cũng nhìn thấy rõ ràng sự thay đổi trên con người.

Tay chân con teo hẳn ngay lại, da bị sém nắng đen thui. Rờ lên hai má, con chỉ con thấy hai gò xương hàm nhô ra, lấn hết cả thịt. Tóc con dài, và có lẽ bẩn thỉu lắm?.

Mặc dầu không có gương soi, nhưng con cũng có thể thấy thân hình con đã đổi khác rất nhiều. Ngoài thân, con chỉ có một bộ đồ mặc từ hôm trốn ra đi. Cho đến nay nó vẫn chưa bao giờ được giặt giũ, nên nó không còn thể giữ được vẻ trắng sạch như hôm nào. Nó đã hoá ra mầu vàng khè, ăn lộn với mầu đất. Thêm vào đấy những vết nhơ dầu, mỡ, và những thức ăn dư.

Ngoài bộ áo đặc biệt ấy, con chỉ còn một chiếc bao tải, nhặt được ở trước ga Bắc Ninh. Với nó, con dùng làm chiếc áo khoác ngoài, vừa để làm nón che đầu, làm khăn quàng cổ, và một thể cũng là một chiếc khăn gói đựng đồ ăn dư của người ta bố thí. Ðêm đến, nó lại là một chiếc mền tiện lợi, đắp kín được từ bụng đến chân.

Tuy nhiên, con vẫn chẳng lấy gì làm khổ não về cái cảnh sống bần tiện khó khăn ấy. Trái lại, con đã tìm được sự an vui ở nơi được chịu cực vì Chúa.

Con biết rằng con trốn đi đây là trốn tội lỗi. Con trốn những sự làm cực lòng Chúa. Mà như thế phải cực khổ đến mấy con cũng vẫn cứ vui lòng, con chẳng thấy mình sợ đau khổ chút nào. Mặc dù đau khổ vẫn làm lòng con sôi nóng, và mắt con ngập tràn trong lệ.

Trong lúc này con luôn luôn phải tiếp tục giằng co với cái sống. Con vẫn ước ao làm linh mục. Nhưng làm linh mục thế nào được, nếu con cứ phải sống trên quãng đường nghèo khó này? Con rất ước ao tìm gặp một vị linh mục để thố lộ nỗi niềm con. Nhưng biết tìm đâu cho ra được một vị linh mục để có thể thấu hiểu nổi lòng con? Có nhiều lúc con muốn ra mặt, vào nhà chung Bắc Ninh xin gặp một cha để con cởi mở vài lời. Nhưng con lại sợ người ta bắt và đem con trở lại nhà xứ Hữu Bằng cho cha xứ Nhã.

Nghĩ đi cũng khổ mà nhìn về cũng tội. Ðằng nào cũng có cái làm cho con run sợ. Nhưng nhất định là con sẽ không bao giờ chịu tu ở một nhà xứ như nhà xứ Hữu Bằng nữa.

Con rất ước ao được trở về với gia đình, nơi con có thể nương cậy, và mẹ sẽ có thể hiểu thấu nỗi lòng con, mẹ có thể tìm cho con một chốn tu tử tế.

Nhưng than ôi! Lời đanh thép của thày đã dính chặt vào tâm trí con. Cái tiếng: Tao sẽ chém! không khác gì một tiếng sét, đánh vào lòng con, mỗi lần con nhớ tới. Khổ nhất cho con, là từ nhà ga về đến nhà thờ, con phải qua một con đường xe chạy về bến đò Hồ. Con đường về quê con đấy! Ôi! Biết bao lần qua đó, con đã phải chống chọi một cách đau đớn với sự thèm ước muốn theo nó mà về nhà. Ðã có lần không cầm cự nổi, con đã phải xiêu lòng mà theo đi. Nhưng qua phút mê ly, hình dung con mã tấu gợi lại trong tâm trí con với lời thày đe dọa "Tao sẽ chém!" lại làm cho con sợ hãi, và buộc con phải quay lại với bao thương đau nhớ tiếc!

 

Gặp Người Quen

Sự đau đớn trong tâm hồn đã làm cho con thành người ngớ ngẩn. Con đã khóc khi người ta cho con món ăn. Thế mà lại nhe răng cười khi người ta vừa bớp cho một cái chúi đầu.

Tuy nhiên, gặp những trường hợp khó khăn, con vẫn tỏ ra tinh khôn, không hề bị lừa dối, lại còn biết đối phó một cách tinh nghịch.

Hai lần con đã gặp người quen.

Lần thứ nhất, hôm con còn ở giúp việc cho bác hàng phở. Con gặp một cậu sinh viên trường kẻ giảng cùng ở một nhà xứ với con.

Vô tình, tối hôm ấy bác hàng phở đẩy xe hàng phở đến trước sân nhà thờ để bán, và tiện thể bác ta cho con đi đọc kinh, rồi ra giúp bác cho tiện.

Khách khứa ăn mãi cho đến gần mười một giờ khuya mới vãn, hai chúng con định sửa soạn về. Thì đột nhiên, năm cậu công tử bột ở đầu phố tiến lại và đòi ăn.

Vừa thấy họ con đã nhận ngay được ba anh đã quen biết con lắm. Nhưng chỉ có anh cùng ở một nhà xứ Hữu Bằng với con là gần gụi con hơn cả. Anh ta mới xa cách con chừng ba tháng.

Thấy họ, và sợ họ biết, con định tìm cách tránh. Con nói bác chủ:

- Thôi bác, khuya rồi còn gì, vả chúng mình đã thu dọn cả rồi.

Nhưng thấy có mối, bác không chịu thôi, bác bảo con nhóm thêm lửa lên cho nóng nồi nước dùng, và dọn lại bát đĩa ra để làm cho các quan cậu một bữa "tầm bổ".

Ðang lúc đợi ăn, họ cười nói như pháo rang. Nghe câu truyện con đủ hiểu họ vừa mới đi xem tuồng cải lương về. Thế mà luật kẻ giảng vẫn cấm họ đi chơi đêm.

Từ nãy, con vẫn cắm cổ làm, không dám ngẩng lên, và cũng không nói một câu, chỉ sợ anh cậu cùng ở một nhà xứ nhận ra được thì nguy. Thỉnh thoảng bác chủ có căn dặn làm món nọ món kia, con chỉ gật đầu tỏ ý hiểu và làm một cách chớp nhoáng. Cũng may là chỗ xe đậu, cách cây cột đèn cũng khá xa, nên ánh điện lờ mờ không thể làm lộ hẳn nét mặt của từng người. Trong xe cũng có chiếc đèn dầu nam treo lủng lẳng mãi gần chóp. Nhưng con lại đứng khuất mặt sau những miếng thịt treo bên sườn xe. Thành thử con cũng có thể che đậy sự sợ hãi của con được đôi phần.

Sau lúc đã dọn cho họ ăn, con đi hơi xa một tí và ngồi gõ nhịp chân bên lề đường. Bác chủ cũng đi quanh quẩn nói truyện chơi với mấy bạn hàng.

Ðột nhiên, anh cậu cùng ở Hữu Bằng với con lên tiếng hỏi:

- Anh bé nào kia coi như Văn ấy nhỉ?

Con giật nẩy mình, nhưng còn tảng lờ như không biết.

Ngay lúc ấy một anh ở Tử-nê, cháu Cha Cương hỏi lại:

- Văn em Lê chứ gì?

- Ừ, Lê Ngăm Giáo ấy mà.

Anh này tục tĩu, chỉ nghĩ đến Lê thôi.

- .Láo!. tao trả lời cho lại còn.

Họ hích vai nhau và cười một cách khoái trá. Nửa phút sau, anh Ðông lại hỏi:

- Thật đấy mà, anh bé kia coi giống Văn quá đi. Này, Văn ngồi đấy có phải không?

Con tảng lờ thưa vào việc khác:

- Dạ, thưa cậu muốn gì ạ?

- Anh có phải là Văn không?

Anh hỏi với một vẻ mặt như là đã chắc chắn con là Văn.

Trống ngực con mỗi lần một đập mạnh, nhưng con cố chấn tĩnh, và làm ra bộ ngớ ngẩn:

- Thưa ông. Văn? Văn gì ạ?

Quái! Tớ coi mình giống Văn ở Hữu Bằng quá.

Hưng Tử-nê buột miệng nói trách Ðông:

- Anh rõ thật lẩn thẩn. chắc anh lại trông gà hóa cáo chứ gì?

- Anh chỉ phá bứa, kệ người ta mà.

Kệ? Anh chỉ nghĩ đến Lê., rồi thì trông thằng bé nào cũng cho là Văn em Lê.

Họ lại hích nhau và cười thật lực.

Ở vỉa hè bên kia, bác chủ thấy khách hỏi đi hỏi lại mãi, mà xem chừng con không hiểu bác ta chạy laị hỏi:

- Bẫm quan cậu thiếu gì ạ?

- Chú bé nào đây mà mọi hôm không thấy nhỉ?

Bác chủ liền thoắng một thôi như thể là người thông thạo thời thế lắm:

- A. dạ, bẩm chú ấy đâu quê ở Lạng Sơn, hồi Nhật tấn công vào, chú ta trốn chạy thế nào chả biết, rồi lạc cả cha lẫn mẹ. Mấy hôm nay nhà cháu thấy vớ vẩn ở chợ, mới đem về nuôi để tập nghề làm ăn cho đấy ạ.

Ngã người về phía sau, anh cười như để chữa thẹn và nói:

- Thế à, thảo nào., tôi trông hắn giống cậu em tôi ở trên kia quá, nên hỏi vớ vẩn thế. may ra thì phải, vì mấy hôm nay tôi được tin nó trốn. Tôi cứ ngờ ngợ mãi.

Hà, phải rồi, ngờ ngợ mà thôi?. Con cảm thấy nhẹ bẫng người đi như trút được trái tạ đang đè nặng trên con tim.

Từ lúc ấy anh ta không chú ý đến con nữa. Tám tháng sau, gặp con ở Hữu Bằng, anh đem câu truyện ấy ra kể laị cho con nghe, và hỏi con cho biết có phải thật là Văn ở đấy không? Tỏ ra anh ta cũng có cái tài nhớ dai. Nhưng chỉ vì anh hơi ngờ ngợ, chứ giá anh đừng ngợ thì hôm đó tóm được Văn ở tại xe bán phở rồi.

Phần con, nghe câu truyện đến lý thú, nhưng đời nào con lại chịu nhận với anh ta về việc con đã đi làm thuê cho anh hàng phở?

* * *

Cách năm hoặc ba hôm sau, trên quảng đường hành khất, con lại gặp người cậu họ (cậu Hạng). Giữa lúc con đứng ở đầu con đường Bắc Ninh chạy về bến đò Hồ, để xin ăn, thì may mắn gặp được chuyến xe sớm chạy lên. Hành khách xuống xe, và con chạy lại chìa tay trước từng người để xin bố thí.

Thình lình, con gặp ngay người cậu họ.

Lậy Chúa! .Lậy Ðức Mẹ xin cứu giúp con! Con vừa nguyện thầm trong lòng, vừa bạo dạn bước lại trước mặt cậu, và cũng chìa tay xin bố thí như mọi người khác.

Cũng lúc ấy, con giả vờ đánh rơi chiếc bao tải con đang khoác trên vai, . Con cúi xuống nhặt, và trùm nó lên trên đầu, để có thể che giấu được phần nào cho cái khuôn mặt của con nó ra khác. Con bước đi, và làm bộ run lẩy bẩy như người đang cơn sốt rét. Cho nên biết, những ngày ấy người ta bảo con bị ngã nước ở Lạng Sơn, thật không phải là vô lý. Bởi vì với sắc mặt, và con người ẻo lả, đã làm cho thiên hạ tự công nhận con là người ở trong cảnh ngộ bị tản cư hồi Nhật chiếm cứ Lạng Sơn.

Mà lạ! Cái ông khách kia thật là kỳ quặc, con đã chìa tay đến hai lần, mà ông ta chẳng thèm đoái hoài đến, không cho mà cũng không từ chối. Ông ta tay dắt chiếc xe đạp, và bỡ ngỡ nhìn con thật lâu. Biết là cậu đang có sự chú ý vào con, con liền hạ tay xuống, cúi mặt và lùi đi nơi khác.

Bỗng cậu gọi giật lại và hỏi con:

- Ô kìa Văn!. Nghe đâu bảo trốn cụ Nhã mấy tuần nay rồi mà. mà không về nhà à? Cái thằng khỉ này, đi ăn mày à? Ồ! Lại có cái tiếng "nghe đâu" con bắt đầu hết lo, vì cái tiếng "nghe đâu" của cậu nó có nghĩa là chẳng căn cứ vào đâu cả.

Cậu chỉ mới có thể biết con trốn, chứ chưa rõ thật là con trốn. Con quay lại giả vờ thưa:

- Dạ, thưa ông hỏi gì ạ?

Ông khách ngớ người, tưởng câu mình nói vừa rồi là đích xác "thằng Văn" chứ còn ai nữa, mà thằng bé ăn xin nó lại hỏi mình một cách ngớ ngẩn thế.

- Anh có phải là Văn không?

- Thưa Ông. Văn? Văn nào ạ?

- Thì Văn con cụ Nhã ý mà. Mới trốn về đấy chứ gì?

Thở dài một cách lạnh lùng, con lắc đầu và đáp:

- Trời ơi! Ông hay quá đi mất, ông hỏi gì mà cháu không thể hiểu được?

Thấy cảnh buồn cười, hành khách ai cũng ngạc nhiên về thái độ vớ vẩn của ông hành khách nọ. Hỏi truyện gì mà làm cho người nghe phải than phiền lên như thế?

Thèn thẹn, cậu tưởng là mình nhầm thật, nên vội vàng dắt xe đi, vừa đi vừa lẩm bẩm:

- Không hiểu thì thôi vậy.

Trước khi nhẩy lên xe, cậu quây đầu lại chữa thẹn với mọi người:

- Tôi tưởng thằng cháu nó bị lạc, nên hỏi thử thế thôi.

Nhẩy lên xe, đạp vài cái để lấy đà rồi cậu còn cố nhìn vốn lại một lần nữa:

- Sao trông giống thằng Văn quá đi mất?.

Rồi cậu phóng biệt đi đâu.

Một tháng sau, gặp con ở gia đình, cậu lại đem câu truyện gặp thằng bé ăn mày ở Bắc Ninh ra kể, và hỏi con cho đích xác. Nhưng trước danh dự thày mẹ, con đâu lại chịu nhận mình là đi ăn mày bao giờ? Thành thử cho đến ngày nay, những bí mật ấy còn nằm yên trong bóng tối.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu
E-mail : ducme@cuuthe.com