TỰ THUẬT (Kỳ 22)Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.
Gặp người quen Sự đau đớn trong tâm hồn đã làm cho con thành người ngớ ngẩn. Con đã khóc khi người ta cho con món ăn. Thế mà lại nhe răng cười khi người ta vừa bớp cho một cái chúi đầu. Tuy nhiên, gặp những trường hợp khó khăn, con vẫn tỏ ra tinh khôn, không hề bị lừa dối, lại còn biết đối phó một cách tinh nghịch. Hai lần con đã gặp người quen. Lần thứ nhất, hôm con còn ở giúp việc cho bác hàng phở. Con gặp một cậu sinh viên trường kẻ giảng cùng ở một nhà xứ với con. Vô tình, tối hôm ấy bác hàng phở đẩy xe hàng phở đến trước sân nhà thờ để bán, và tiện thể bác ta cho con đi đọc kinh, rồi ra giúp bác cho tiện. Khách khứa ăn mãi cho đến gần mười một giờ khuya mới vãn, hai chúng con định sửa soạn về. Thì đột nhiên, năm cậu công tử bột ở đầu phố tiến lại và đòi ăn. Vừa thấy họ con đã nhận ngay được ba anh đã quen biết con lắm. Nhưng chỉ có anh cùng ở một nhà xứ Hữu Bằng với con là gần gụi con hơn cả. Anh ta mới xa cách con chừng ba tháng. Thấy họ, và sợ họ biết, con định tìm cách tránh. Con nói bác chủ: - Thôi bác, khuya rồi còn gì, vả chúng mình đã thu dọn cả rồi. Nhưng thấy có mối, bác không chịu thôi, bác bảo con nhóm thêm lửa lên cho nóng nồi nước dùng, và dọn lại bát đĩa ra để làm cho các quan cậu một bữa "tầm bổ." Ðang lúc đợi ăn, họ cười nói như pháo rang. Nghe câu truyện con đủ hiểu họ vừa mới đi xem tuồng cải lương về. Thế mà luật kẻ giảng vẫn cấm họ đi chơi đêm. Từ nẫy, con vẫn cắm cổ làm, không dám ngẩng lên, và cũng không nói một câu, chỉ sợ anh cậu cùng ở một nhà xứ nhận ra được thì nguy. Thỉnh thoảng bác chủ có căn dặn làm món nọ món kia, con chỉ gật đầu tỏ ý hiểu và làm một cách chớp nhoáng. Cũng may là chỗ xe đậu, cách cây cột đèn cũng khá xa, nên ánh điện lờ mờ không thể làm lộ hẳn nét mặt của từng người. Trong xe cũng có chiếc đèn dầu nam treo lủng lẳng mãi gần chóp. Nhưng con lại đứng khuất mặt sau những miếng thịt treo bên sườn xe. Thành thử con cũng có thể che đậy sự sợ hãi của con được đôi phần. Sau lúc đã dọn cho họ ăn, con đi hơi xa một tí và ngồi gõ nhịp chân bên lề đường. Bác chủ cũng đi quanh quẩn nói truyện chơi với mấy bạn hàng. Ðột nhiên, anh cậu cùng ở Hữu Bằng với con lên tiếng hỏi: - Anh bé nào kia coi như Văn ấy nhỉ? Con giật nẩy mình, nhưng còn tảng lờ như không biết? Ngay lúc ấy một anh ở Tử-nê, cháu ha Cương hỏi lại: - Văn em Lê chứ gì? - Ừ, Lê Ngăm Giáo ấy mà. Anh này tục tĩu, chỉ nghĩ đến Lê thôi. - .Láo!. tao trả lời cho lại còn. Họ hích vai nhau và cười một cách khoái trá. Nửa phút sau, anh Ðông lại hỏi: - Thật đấy mà, anh bé kia coi giống Văn quá đi. Này, Văn ngồi đấy có phải không? Con tảng lờ thưa vào việc khác: - Dạ, thưa cậu muốn gì ạ? - Anh có phải là Văn không? Anh hỏi với một vẻ mặt như là đã chắc chắn con là Văn. Trống ngực con mỗi lần một đập mạnh, nhưng con cố chấn tĩnh, và làm ra bộ ngớ ngẩn: - Thưa ông. Văn? Văn gì ạ? Quái! Tớ coi mình giống Văn ở Hữu Bằng quá. Hưng Tử-nê buột miệng nói trách Ðông: - Anh rõ thật lẩn thẩn. chắc anh lại trông gà hóa cáo chứ gì? - Anh chỉ phá bứa, kệ người ta mà. Kệ? Anh chỉ nghĩ đến Lê., rồi thì trông thằng bé nào cũng cho là Văn em Lê. Họ lại hích nhau và cười thật lực. Ở vĩa hè bên kia, bác chủ thấy khách hỏi đi hỏi lại mãi, mà xem chừng con không hiểu bác ta chạy laị hỏi: - Bẫm quan cậu thiếu gì ạ? - Chú bé nào đây mà mọi hôm không thấy nhỉ? Bác chủ liền thoắng một thôi như thể là người thông thạo thời thế lắm: - A. dạ, bẩm chú ấy đâu quê ở Lạng Sơn, hồi Nhật tấn công vào, chú ta trốn chạy thế nào chả biết, rồi lạc cả cha lẫn mẹ. Mấy hôm nay nhà cháu thấy vớ vẩn ở chợ, mới đem về nuôi để tập nghề làm ăn cho đấy ạ. Ngã người về phía sau, anh cười như để chữa thẹn và nói: - Thế à, thảo nào., tôi trông hắn giống cậu em tôi ở trên kia quá, nên hỏi vớ vẩn thế. may ra thì phải, vì mấy hôm nay tôi được tin nó trốn. Tôi cứ ngờ ngợ mãi. Hà, phải rồi, ngờ ngợ mà thôi?. Con cảm thấy nhẹ bẫng người đi như trút được trái tạ đang đè nặng trên con tim. Từ lúc ấy anh ta không chú ý đến con nữa. Tám tháng sau, gặp con ở Hữu Bằng, anh đem câu truyện ấy ra kể laị cho con nghe, và hỏi con cho biết có phải thật là Văn ở đấy không? Tỏ ra anh ta cũng có cái tài nhớ dai. Nhưng chỉ vì anh hơi ngờ ngợ, chứ giá anh đừng ngợ thì hôm đó tóm được Văn ở tại xe bán phở rồi. Phần con, nghe câu truyện đến lý thú, nhưng đời nào con lại chịu nhận với anh ta về việc con đã đi làm thuê cho anh hàng phở?
Cách năm hoặc ba hôm sau, trên quảng đường hành khất, con lại gặp người cậu họ (cậu Hạng). Giữa lúc con đứng ở đầu con đường Bắc Ninh chạy về bến đò Hồ, để xin ăn, thì may mắn gặp được chuyến xe sớm chạy lên. Hành khách xuống xe, và con chạy lại chìa tay trước từng người để xin bố thí. Thình lình, con gặp ngay người cậu họ. Lậy Chúa! .Lậy Ðức Mẹ xin cứu giúp con! Con vừa nguyện thầm trong lòng, vừa bạo dạn bước lại trước mặt cậu, và cũng chìa tay xin bố thí như mọi người khác. Cũng lúc ấy, con giả vờ đánh rơi chiếc bao tải con đang khoác trên vai, . Con cúi xuống nhặt, và trùm nó lên trên đầu, để có thể che giấu được phần nào cho cái khuôn mặt của con nó ra khác. Con bước đi, và làm bộ run lẩy bẩy như người đang cơn sốt rét. Cho nên biết, những ngày ấy người ta bảo con bị ngã nước ở Lạng Sơn, thật không phải là vô lý. Bởi vì với sắc mặt, và con người ẻo lả, đã làm cho thiên hạ tự công nhận con là người ở trong cảnh ngộ bị tản cư hồi Nhật chiếm cứ Lạng Sơn. Mà lạ! Cái ông khách kia thật là kỳ quặc, con đã chìa tay đến hai lần, mà ông ta chẳng thèm đoái hoài đến, không cho mà cũng không từ chối. Ông ta tay dắt chiếc xe đạp, và bỡ ngỡ nhìn con thật lâu. Biết là cậu đang có sự chú ý vào con, con liền hạ tay xuống, cúi mặt và lùi đi nơi khác. Bỗng cậu gọi giật lại và hỏi con: - Ô kìa Văn!. Nghe đâu bảo trốn cụ Nhã mấy tuần nay rồi mà. mà không về nhà à? Cái thằng khỉ này, đi ăn mày à? Ồ! Lại có cái tiếng "nghe đâu" con bắt đầu hết lo, vì cái tiếng "nghe đâu" của cậu nó có nghĩa là chẳng căn cứ vào đâu cả. Cậu chỉ mới có thể biết con trốn, chứ chưa rõ thật là con trốn. Con quay lại giả vờ thưa: - Dạ, thưa ông hỏi gì ạ.? Ông khách ngớ người, tưởng câu mình nói vừa rồi là đích xác "thằng Văn" chứ còn ai nữa, mà thằng bé ăn xin nó lại hỏi mình một cách ngớ ngẩn thế? - Anh có phải là Văn không? - Thưa Ông. Văn? Văn nào ạ? - Thì Văn con cụ Nhã ý mà. Mới trốn về đấy chứ gì? Thở dài một cách lạnh lùng, con lắc đầu và đáp: - Trời ới! Ông hay quá đi mất, ông hỏi gì mà cháu không thể hiểu được? Thấy cảnh buồn cười, hành khách ai cũng ngạc nhiên về thái độ vớ vẩn của ông hành khách nọ. Hỏi truyện gì mà làm cho người nghe phải than phiền lên như thế? Thèn thẹn, cậu tưởng là mình nhầm thật, nên vội vàng dắt xe đi., vừa đi vừa lẩm bẩm: - Không hiểu thì thôi vậy. Trước khi nhẩy lên xe, cậu quây đầu lại chữa thẹn với mọi người: - Tôi tưởng thằng cháu nó bị lạc, nên hỏi thử thế thôi. Nhẩy lên xe, đạp vài cái để lấy đà rồi cậu còn cố nhìn vốn lại một lần nữa: - Sao trông giống thằng Văn quá đi mất?. Rồi cậu phóng biệt đi đâu. Một tháng sau, gặp con ở gia đình, cậu lại đem câu truyện gặp thằng bé ăn mày ở Bắc Ninh ra kể, và hỏi con cho đích xác. Nhưng trước danh dự thày mẹ, con đâu lại chịu nhận mình là đi ăn mày bao giờ? Thành thử cho đến ngày nay, những bí mật ấy còn nằm yên trong bóng tối.
Theo đường khác Ðã hai lần gặp người quen, con bất đắc phải bỏ Bắc Ninh mà đi theo con đường khác để kiếm ăn. Theo con nghĩ, thì chỉ có cách ăn xin trên các toa xe lữa là để tránh người quen nhất. Bởi vì giờ này con ở đây, nhưng một vài giờ sau con đã ở chỗ khác, và một ngày con sẽ có thể đổi chỗ được nhiều lần. Con đem áp dụng phương cách mới, và con đường đi lại của con cũng chỉ từ Bắc Ninh tới Hà Nội, và Hà Nội lộn về Bắc Ninh. Tối đến con ngủ ở Gia Lâm, trên những toa xe không. Tuy con vẫn phải tránh mặt người quen, nhưng ngày ngày con vẫn cố gắng dành dụm lấy chút ít tiền xin được để lấy một vé xe về nhà bá. Bấy giờ con chỉ còn thể hy vọng vào bá, người có thể giúp con và lo lắng cho con thay cho gia đình. Phần con lúc nào nghĩ đến gia đình cũng lấy làm đau lòng xót dạ, vì là nơi âu yếm nhất của con. Thế mà sự sợ hãi đã làm con đến phải đoạn tuyệt với hết những gì yên ủi con có thể được ở đây!. Con chỉ còn mong về nhà bá Khánh. Nhưng chẳng khi nào con để dôi ra lấy được một xu, ngày nào sống qua được ngày ấy. Có ngày còn không đủ để sống nữa. Ði ăn xin trên các toa xe không phải là một điều dễ. Luôn luôn phải đề phòng cho khỏi gặp người kiểm vé. Nếu vô tình mà bị bắt gặp thì ít ra cũng được dăm cái bớp với vài cái mũi giầy vào đằng sau, lại còn bị nhốt tù không chừng. Tuy nhiên, con vẫn phải sống, vẫn cứ phải như mình sống cho qua lần qua hồi. Hy vọng rồi một ngày có thể lo liệu về được đến quê bá. Một hôm, con đi chuyến xe chót từ Lạng Sơn về Hà Nội. Con chỉ có ý đến Gia Lâm rồi xuống. Nhưng chẳng may con ngủ quên mất, mãi cho đến lúc xe về Hà Nội con mới giật mình dậy. Nhìn ra, con cũng tưởng đây là Gia Lâm, nên con bước xuống, và đi tìm mấy toa xe không. Con tìm mãi không thấy một chiếc toa không. Con ngợ ngừ, đi vào trong ga, mới biết là mình nhầm. Ðây là ga Hàng Cỏ cơ mà? Ðang lúc vơ vẫn, con bị một nhân viên trong sở hỏa xa bắt gặp, ông ta nghi con là tên ăn cắp, nên bớp cho con mất cái con vùng chạy. Ông ta đuổi theo, và đe bắt nộp cho "tây đen" con sợ quá vứt cả chiếc bao tải qúi hóa của con lại, và chạy trốn ra ngoài tối. Con nằm ở bên lề đường cho đến lúc nghe yên ắng, con mới ngỏm dậy để hít lấy chút khí trên cao. Ðêm càng về khuya, sương lạnh xuống càng nhiều. Con cảm thấy lạnh, và nghĩ cứ tiếc mãi cái áo khoác độc nhất mà con đã để rơi, con định trở vào để tìm lại, nhưng lại sợ nhân viên sở hỏa sa bắt được thì khốn. Chừng mười một giờ khuya, có chuyến tàu chót chạy về sở Gia Lâm, con leo lên để về nghỉ đỡ ở đấy cho êm ả. Trên tàu có lẽ chỉ có mình con là một ông hành khách cuối cùng. Ðến Gia Lâm, người ta đi soát tàu, gặp con ở trên xe, nhưng họ không đánh đấm gì. Ông xếp ga cho con vào ngủ đỡ ở trong ga, và sáng hôm sau chỉ cho con chuyển tàu sớm về Bắc Ninh.
Trở gót lại Hữu Bằng Hôm ấy là thứ Bẩy. Tính ra con đã trốn khỏi Hữu Bằng hơn hai tuần lễ, và đã nếm đủ mùi mặn nhạt, đói no, trong khi lưu lạc. Nhưng đem bấy nhiêu đau khổ mà sánh vì với một ngày chịu nhốt trong nhà xứ Hữu Bằng, con vẫn lấy bấy nhiêu ấy làm hạnh phúc hơn ngàn lần sống với cái cảnh tu xác của một nhà xứ. Con xin ăn ở Yên Viên suốt cả ngày. Mãi cho đến chiều con mới sực nhớ ra mai là Chủ Nhật. Con định về Bắc Binh để dự lễ ngày mai. Nhưng không còn chuyến tàu nào về đấy nữa. Chỉ còn một chuyến đi Lào Kay. Suy nghĩ một chút, con quyết định sẽ trở lại Hữu Bằng tối nay, nhưng làm thế nào để có thể dự lễ được mà cha Xứ không biết, rồi luôn tiện mang nốt số áo quần con vẫn để lại. Con còn nhớ mang máng như trong hòm đựng quần áo của con, còn có một số tiền dưới năm đồng, mà con đã dành dụm được từ lâu. Giả như hôm con trốn mà nhớ đem được số tiền ấy đi, thì đời con đã chẳng gặp phải cái giai đoạn ngược xuôi, xuôi ngược này. Con theo chuyến tàu Lào Kay đến Hương Canh thì đã sáu giờ chiều. Trên tàu con giáp mặt cha Sự, coi xứ Trang Lan, người rất biết con, và con cũng đã giúp lễ cho người nhiều lần. Người thật là một vị linh mục đứng đắn. Người thấy con, lúng túng như muốn hỏi thăm, nhưng dường như người sợ không phải thằng Văn nên người lại thôi. Con cũng biết người nhìn con rất lâu, nhưng không thể nào nhận ra, vì con cởi trần, và đi ăn xin. Từ nhà ga về đến nhà xứ, con gặp được mấy người đàn bà đi chợ về muộn. Dọc đường họ hỏi thăm nhau xem mai lễ ở đâu. Nhân cơ hội này, con biết được cha xứ đã đi Tam Lộng, và mai làm lễ Chúa Nhật ở đấy. Con đã yên tâm, vì như thế, việc con quay lộn về nhà xứ sẽ không sợ bại lộ nơi cha xứ nữa. Con lại định tâm rằng, nếu câu truyện được êm thỏa, con sẽ dùng số tiền con có để đi tàu xuôi sớm về dự lễ ở Phúc Yên, rồi sẽ xuôi tàu mười giờ tiếp theo. Như thế con sẽ không bỏ lễ ngày Chúa Nhật, và việc con quay lại Hữu Bằng sẽ chỉ có rất ít người biết. Nhưng lại một lần, dự tính của con đã đi ra ngoài ý tiền định của Chúa. Con về được đến Hữu Bằng tối ấy, là như cả một sự gắng gượng của con. Con lội qua cánh đồng sau, lần mò vào nhà xứ giữa lúc nhà thờ đang đọc kinh tối. Vừa đói lại vừa mệt. Con chỉ còn kịp chạy ra phòng đồ lễ, nháy anh cậu giữ chìa khóa hòm quần áo của con, về cho con một bộ để thay, rồi con lăn ra giường đánh một giấc ngủ thật ngon. Con xin anh cậu giữ bí mật câu truyện này cho, và dặn anh khi nào nhà thờ đọc kinh gần xong thì cho con hay để con liệu cách lánh mặt lũ cậu bé. Nhưng chả hiểu vì sao anh ta lại để con ngủ thẳng giấc cho đến lúc nhà thờ tan kinh. Khi ấy, hình như con còn đang mơ quanh quẩn trên dẫy phố Bắc Ninh, hoặc đang lải nhải chìa tay xin người ta bố thí từng đồng xu trên toa tàu. Bỗng con nghe có tiếng hò la inh ỏi, rồi thấy một lũ trẻ chăn trâu chạy xúm lại túm lấy con, thằng thì vít cổ, đứa thì lột áo, đứa lại ôm cẳng vật ngửa con ra. Con giật mình thì ra lũ cậu bé đang vui mừng vì "đại tướng" của họ đã hồi chinh. Ôi chao! Chúng làm con cáu tiết quá, định bốp cho mỗi anh mấy cái. Nhưng "đại tướng" đã kiệt sức quá rồi, đành phải van lậy họ để họ cho khất đến sáng mai sẽ kể truyện phương cách rút lui có hiệu quả của đại tướng.
Câu truyện đã bại lộ Ngày hôm sau con phải ra mặt với thầy già xứ và xin lỗi. Sau đó mọi người đều đi lễ ở Tam Lộng. Dọc đường con tả cho lũ cậu bé nghe hết mọi mưu cơ trốn của con. Họ tỏ ra bực tức, vì đã để cho đại tướng của họ trốn thoát, và buồn phiền trong những ngày xa khuất đại tướng của họ. Anh em ai nấy điều vui khi thấy con trở lại. Nhưng họ cũng không hiểu duyên do gì mà con trở lại. Tuy thế, họ cũng khá tỉnh táo, họ đoán là con trở lại vì một án đồ cần thiết, rồi con sẽ lại trốn đi với tất cả đồ đoàn và áo xống. Họ đoán không sai. Nhưng con thì con hết sức bí mật. Tuy nhiên không lúc nào con khỏi bị họ theo rõi, và cứ cố bám riết lấy con, không hề rời ra lúc nào. Bởi cái tài nói tránh của con, nên con đã giấu được họ tất cả mọi truyện đã xẩy ra cho con trong hơn hai tuần lễ vừa qua. Lễ xong, tuy con không muốn, nhưng thày già xứ ép con phải vào tạ lỗi cha xứ. Hôm ấy con được một mẻ mắng nên thân. Con rất lấy làm sỉ nhục với những lời cha xứ nói: - Về nhà bị bố nện cho nên mới lại phải vác mặt lên. Sung sướng gì với cái dáng nhà rớt mùng tơi ra ấy?. Chắc là nhà hết gạo rồi mới phải mò lên tao kiếm ăn đấy chứ có quái gì?. Thực sự, con chưa về nhà. (còn tiếp) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |