VẤN ÐỀ BIÊN GIỚI VIỆT HOA QUANG VIỆT
Theo nguyên tắc (ít ra là trên Hiến pháp giấy tờ của Việt Nam hiện nay) những bản hiệp định với ngoại bang đều phải được Quốc hội CS thông qua trước khi được thi hành, nhiều ký giả thăm hỏi các đại biểu Quốc hội thì được trả lời: "Không biết!" Ngược lại, Nhà nước CSVN nói rằng Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua! Vì thế, vấn đề "bí mật biên giới" trở thành sôi động vì quần chúng nghi rằng, có gì mờ ám, tội lỗi nên nhà cầm quyền phải giấu kín. Nhà cầm quyền của cả 2 nước CS Việt Nam và Trung Quốc cho biết sẽ công bố bản hiệp định khi nào thuận tiện. Tuy vậy chúng ta vẫn dựa vào những sự kiện cụ thể để đưa ra một vài nhận xét và đề nghị. I. Sự kiện cụ thể về lãnh hải và biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc: Ðây là những công bố, văn thư chính thức của nhà cầm quyền CSVN và các sự kiện lịch sử cụ thể: 1) Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí do Quốc Sử Giám triều Nguyễn biên soạn dưới thời vua Tự Ðức, ải Nam Quan giáp giới với Trung Hoa "cách tỉnh thành Lạng Sơn 31 dặm về phía Bắc, thuộc châu Văn Uyên... nơi mà người Thanh gọi là Trấn Nam Quan. (...) Phía nam có "Ngưỡng đức đài" của nước ta..." Như thế trong lịch sử, Trung Hoa đã công nhận đây là biên giới phía nam của họ kéo dài đến Ải Nam Quan. 2) Ngày 17-2-1979, CS Trung Quốc (CSTQ) đưa hơn 200.000 quân tấn công 6 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam. Họ tiến sâu vào nội địa, có nơi đến 40 km. Người CSTQ gọi đó là một bài học dạy cho Việt Nam vì Việt Nam xâm lăng Kamphuchia. Ðồng thời khi trả lời cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Úc về sự việc xảy ra tại biên giới Việt Hoa, đại sứ Trung Quốc lúc đó cho rằng từ 1950, sau cuộc chiến Triều Tiên, quân đội của họ chưa có dịp thực tập bằng thực tế nên họ coi VN là một thao trường huấn luyện cho quân binh của họ. Trong lúc chiếm đóng, quân CSTQ phá tan nhà cửa, cơ sở của dân chúng. Trước khi rút lui vào ngày 5-3-1979, họ đã phá hủy hoặc di chuyển cột mốc ranh giới đã dựng lên từ thời Pháp thuộc vào sâu nội địa Việt Nam. 3) Sau khi Liên xô sụp đổ, ngày 5-11-1991, Tổng bí thư Ðảng Ðỗ Mười cùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt của CSVN sang Bắc Kinh chính thức tái lập mối bang giao giữa 2 nước bị cắt đứt kể từ cuộc chiến biên giới Hoa Việt 1979. 4) Lê Công Phụng, Thứ trưởng ngoại giao trong chính phủ CSVN viết 2 bài trong tạp chí Cộng sản số tháng 2/2001 và tháng 3/2001, xác nhận rằng: Ngày 30-12-1999, tại Hà Nội, Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp ước trên đất liền với đại diện phía CSVN là Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm và phía CSTQ là Ngoại trường Ðường Gia Truyền. Ngày 25-12-2000 với sự giám sát của Chủ tịch Nhà nước CSTQ là Giang Trạch Dân và Chủ tịch Nhà nước CSVN Trần Ðức Lương, Việt Nam và Trung Quốc ký hiệp ước phân định lại lãnh hải trong vịnh Bắc Việt. Sau đó hôm 27-12-2001, Thứ trưởng ngoại giao VN là Lê Công Phụng cùng đại sứ TQ tại Hà Nội đến thị trấn Mống Cái tỉnh Quảng Ninh làm lễ xây cột mốc đánh dấu biên giới mới theo hiệp ước 30-12-1999 ký tại Hà Nội. Thực tế ông Lê Công Phụng xác nhận rằng cột mốc cây số 0 trên quốc lộ 1 chạy từ Ải Nam Quan đến Sài Gòn và chấm dứt tại Kampuchia đã lùi sâu xuống 200 mét. Ngược lại các nhà đối kháng trong nước cho là VN đã lui lại 4 km và ông Trần Ðại Sĩ, một người sống tại Pháp có công việc làm ăn cho Liên Hiệp Quốc liên hệ đến VN và Trung Quốc nói rằng cột mốc này đã bị lùi lại đến 5 km vì chính ông đã đến vùng biên giới mới và cũng đến vùng biên giới cũ nay thuộc Trung Quốc để quan sát. Hai ký giả người Trung Quốc, bạn ông cho biết Việt Nam đã nhường 789 km2 cho Trung Quốc. Trong khi đó, các nhà tranh đấu cho dân chủ trong nước VN thì nói ta mất 720 km2. 5) Về lãnh hải phân chia giữa Thanh triều bên Trung Hoa với Việt Nam dưới thời Pháp thuộc được ký kết trong một hiệp định ngày 26-6-1887 tại thành phố Thiên Tân bên Trung Hoa. Kết quả là Việt Nam được 62% và Trung Hoa được 38% diện tích trong vùng vịnh Bắc Việt rộng 126,250 km2. Ðể bù lại, Pháp nhường cho nhà Thanh một phần đất thuộc tỉnh Lai Châu và Nhà Thanh đã sát nhập đất này vào tỉnh Vân Nam của họ. Theo hiệp định ngày 25-12-2000, Việt Nam còn được 53.23% và Trung Quốc được 46.77% vùng biển vịnh Bắc Việt. Như vậy VN mất đi 8% diện tích vùng biển tức khoảng 10,000 km2. Thế mà ông Lê Công Phụng lại cho rằng đó là thắng lợi vì "ta hơn Trung Quốc 6.46% tức khoảng 8205 km2." Ông Lê Công Phụng còn bênh vực việc làm của CSVN chia đất của tổ tiên cho TQ với lý do: khi Pháp ký hiệp ước với nhà Mãn Thanh năm 1887, Pháp đang ở thế mạnh nên Trung Hoa bị thiệt thòi. Theo lịch sử, Trung Hoa gọi vịnh Bắc Việt là "Giao chỉ dương" là của Việt Nam. Khi ấy họ không hề để ý đến quyền lợi gì ở đây. Bởi vậy khi Pháp chia cho họ 38% lãnh hải vịnh Bắc bộ và một phần đất Lai Châu thì họ ký ngay coi như của trời cho. Tại sao ông Lê Công Phụng không đặt vấn đề đất Lai Châu của VN đã bị sát nhập vào tỉnh Vân Nam của TQ? 6) Về vấn đề lãnh hải biển Nam Hải, vào ngày 4-9-1958 chính phủ CSTQ tuyên cáo về lãnh hải 12 hải lý kể từ đất liền thuộc về chủ quyền của họ với bản đồ đính kèm những hòn đảo trải rộng khắp mặt biển, nghĩa là với bản đồ này các đảo trên vùng biển Nam Hải mà theo Việt Nam gọi là Ðông Hải (biển Ðông) đều thuộc TQ. Hồ Chí Minh đã triệu tập Bộ Chính Trị Ðảng Lao động VN để chấp nhận lời tuyên cáo trên của TQ liên quan đến lãnh hải. Ngày 14-9-1958 Phạm Văn Ðồng với cương vị Thủ tướng CS Bắc Việt lúc bấy giờ gửi văn thư cho Thủ tướng CSTQ Chu Ân Lai rằng: "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân trên mặt biển." Tháng 5-1976, Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, cơ quan ngôn luận của Thành ủy Ðảng CS Sài gòn, viết một bài có đoạn như sau: "Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là ông thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Trung Quốc với ta là hai nước sông liền sông, núi liền núi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này, Trung Quốc sẽ sẵn sàng giao lại." (Trích theo bài điều trần của Trần Ðại Sỹ tại Viện Pháp Á ngày 10-11-2001). II. Nhận Xét: 1) Các lãnh tụ Ðảng CSVN từ Hồ Chí Minh xuống cho đến ngày nay phải trực tiếp chịu trách nhiệm về việc mất đất, mất biển cho Trung Quốc, với tội danh bán nước. Chỉ vì muốn đặt ách thống trị độc tài trên đầu trên cổ toàn dân nước Việt, những kẻ này đã ngửa tay nhận viện trợ của Trung Quốc để tiến hành cuộc chiến "chống Pháp, chống Mỹ" (theo từ của CSVN). CSTQ đã chi viện đến 20 tỉ Mỹ kim và khoảng 300.000 dân quân nước họ để tiến hành cuộc chiến xâm lược miền Nam VN. Hồ Chí Minh và những người cầm đầu Ðảng CSVN phải biết rằng "có ăn, có trả." "Trả" đầu tiên là ngay từ cuộc chiến chống Pháp 1945-1954, dân TQ đã tràn vào phía nam Ải Nam quan thuộc VN. Chính quyền CSTQ đặt cơ quan hành chính cai trị như trên đất của họ (theo Hoàng Tiến). Rồi vào năm 1961, TQ viện lý do xây dựng nhà ga ở Ải Nam Quan để tiếp tế cho Bắc Việt đã rời cột mốc số 0 vào sâu trong đất Việt Nam 1 km. Năm 1971, đại tá Hải Anh, Phó Văn phòng Tổng Cục Chính Trị quân đội CSVN lên quan sát, bị lính TQ chặn lại. Ông làm báo cáo nhưng chính quyền CSVN lờ đi. Lịch sử đã chứng minh rằng, dù là dưới triều đại hay thể chế nào đi chăng nữa, Trung Quốc luôn coi mình là trung tâm vũ trụ. Thời phong kiến, Trung Hoa được tổ chức để bành trướng đất đai và thế lực của mình. Họ chia ảnh hưởng thành 2 phần: Nội địa và ngoại biên. Nội địa là những phần đất thuần thục Trung Hoa, nghĩa là những người dân ở đây lúc nào cũng là người Trung Hoa. Trái lại ngoại biên là những vùng đất xa mới chiếm lãnh, chưa thuần thục đối với trung ương, có thể nổi loạn bất cứ lúc nào. Tại những vùng đất này, quan Tàu cai trị coi dân như nô lệ. Nếu có thể tổ chức cai trị trực tiếp, triều đình Trung Hoa cử quan chức đến. Trái lại, khi không trực tiếp cai trị thì họ biến vùng đất này thành phiên trấn để cho người địa phương trông coi và triều đình ban phẩm tước rồi theo định kỳ 3 năm hay 10 năm bắt triều cống (nạp thuế). Thời Bắc thuộc, Việt Nam bị Trung Hoa cai trị trực tiếp. Khi dành độc lập rồi, các vua VN được triều đình phương Bắc phong vương và tự coi mình là một phiên trấn của Trung Hoa. Hoàng đế Trung Hoa thường phong cho các vua Việt Nam làm "An Nam Quốc Vương." Khi mới lên cầm quyền Trung Quốc, Mao Trạch Ðông nhớ ngay đến thời huy hoàng xưa kia của lịch sử dân tộc mình bèn cho vẽ bản đồ Ðại đế quốc Trung Hoa. Biên giới cuối cùng của họ trên bản đồ là Ðèo Hải vân nằm giữa Huế và Ðà Nẵng của Việt Nam (!) Ðó là mộng bành trướng của Mao Trạch Ðông, chẳng lẽ Hồ Chí Minh không nhận ra điều này hay sao? Hay vì ông ta tin cậy vào tình đồng chí, vào thế giới đại đồng, để cho Liên Xô hay Trung Quốc cai trị cũng được. Có thời Tổng Bí thư Ðảng CSVN là Lê Duẩn tuyên bố: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc" (Vũ Thư Hiên, "Ðêm giữa ban ngày," NXB Văn Nghệ, California 1997, trg. 422). Phải chăng chính vì thế, mà ngày 19-1-1974 khi Hải quân Việt Nam Cộng Hoà cố đánh đuổi quân TQ xâm lăng đảo Hoàng Sa thì nhà cầm quyền CS Hà Nội không hề hé môi nói về chủ quyền của tổ tiên tại vùng này! 2) Lãnh tụ Ðảng CSVN có nghĩ đến tương lai dân tộc không? Trong khi Hiệp định Genève 1954 đã không may phân rẽ đất nước làm hai nhưng nếu CSVN đích thực là người yêu thương nòi giống, họ hẳn đã phải lợi dụng hiệp định này như một cơ hội để tạo hoà bình và thịnh vượng cho người dân đồng thời làm cân bằng lực lượng để khỏi bị ngoại bang khống chế. Miền Nam do thế giới tự do mà đứng đầu là Hoa Kỳ hỗ trợ trong khi miền Bắc là đầu cầu của thế giới Cộng sản. Nhờ sự cân bằng này mà miền Bắc không bị Nga, Tàu khống chế. Lịch sử Tây Tạng không khác trường hợp Việt Nam bao nhiêu. Năm 1956, CSTQ đã cưỡng chiếm vùng này chỉ vì không có gì đe doạ TQ khi xâm lăng như vậy. Sự cân bằng giữa miền Nam và Bắc VN đã mất đi ngay từ khi Hoa Kỳ và Bắc Việt ký Hiệp định Paris năm 1972. Trung Cộng chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 vì biết rằng Hoa Kỳ đã tự rút lui ra khỏi vùng Nam Hải. Ngoài Hoa Kỳ ra, ai có thể cầm chân Trung Quốc được chứ? Chính vì vậy mà TQ không bao giờ để VN được phép cho Hoa Kỳ sử dụng vịnh Cam Ranh làm căn cứ quân sự sửa chữa tàu bè và họ đã kiềm chế các nhà lãnh đạo CSVN rồi. 3) Chỉ vì quyền lợi của Ðảng mà các nhà cai trị tại VN mất sáng suốt đi theo con đường hại dân, hại nước. Trong nước báo chí vẫn chửi bới đế quốc Mỹ, vẫn đề cao cảnh giác về "diễn tiến hoà bình." Ðó là những con ma bóng dài khiến cho các lãnh tụ CSVN phải bám lấy sự che chở của TQ. Diễn tiến hoà bình bao giờ cũng nổ ra bằng những cuộc biểu tình. Từ Lạng Sơn chỉ cách Hà Nội chỉ có 160 km, nên nếu có những cuộc biểu tình chống đối của sinh viên, công chức, dân thường hay ngay cả binh lính, thì đoàn quân Trung Quốc có thể kịp cứu nguy ngay cho đàn em ở Bắc Bộ phủ. Trong khi đó, từ năm 1991, TQ đã dự định mua chiếc hàng không mẫu hạm của Liên Xô cũ chia cho nước Ukraine hầu bành trướng lực lượng tại vùng biển Ðông mà họ coi như là các hồ của họ.Ðến nay họ đang nhờ nước Nga đóng cho 2 chiếc hàng không mẫu hạm mới và có thể hạ thủy trong vòng 5-7 năm nữa. Những tay quân phiệt trong chính quyền CSTQ đang dùng đủ mọi thủ đoạn để kiếm tiền canh tân vũ khí và quân đội. Mấy năm qua, ngân sách quốc phòng của họ tăng từ 13% lên 20%. Các cơ sở quân đội quản trị sử dụng lao động quân nhân chiếm tới 31% ngành kỹ nghệ của quốc gia và còn dùng cả tù nhân làm lực lượng sản xuất để thu lợi nhuận tối đa (theo Tạp chí Foreign Policy số 104). Tuy nhiên chúng ta đừng nghĩ rằng sức mạnh quân đội TQ đang bành trướng là để đương đầu với Hoa Kỳ về vấn đề Ðài Loan. Ðầu thập niên 90, kinh tế TQ có nhiều hy vọng tăng tiến vượt bực. Mức phát triển kinh tế hằng năm của TQ lên đến 18%. Năm 1994 ngoại quốc đầu tư vào TQ 34 tỉ Mỹ kim và năm 1995 con số đầu tư này lên 38 tỉ. Trong một bảng dự đoán của Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ (CIA) về 10 nước kinh tế lớn nhất thế giới từ 1995-2020 được đăng trong Tạp chí Foreign Affairs số Xuân 1996 của Council of Foreign Relations, tổng sản lượng quốc gia của Trung Quốc (GNP) từ 3,205 tỉ Mỹ kim (1995) tăng lên 20,004 tỉ Mỹ kim (2020) trong khi đó Hoa Kỳ từ tổng sản lượng quốc gia từ 6,920 tỉ Mỹ kim (1995) tăng lên 13,470 tỉ Mỹ kim (2020). Theo bảng dự đoán này, nền kinh tế TQ năm 2020 sẽ vượt xa Hoa Kỳ. Tuy nhiên đến Hè 1998, hiện tượng kinh tế bùng lên như bọt xà bông tại Thượng Hải đang xì hơi. Từ 1990, thành phố này xây 1000 cao ốc để thoả mãn nhu cầu trong vòng 10 năm nhưng thực tế thì 70% cao ốc này bị bỏ không và giá giảm đi 50% kể từ năm 1995. Người ta đang nói đến sự phá sản của nền kỹ nghệ tại đây. Cuốn sách "Big Dragon" của Daniel Burstein và Anne de Keijzer (NXB Simon & Schuster, NY phát hành 1998), cho biết, theo các thống kê và cách thức điều tra mới, các nhà đầu tư ngoại quốc đã bớt đổ tiền vào TQ và phát triển đã tụt xuống rất thấp và nạn nghèo đói gia tăng rất nhiều. Như thế, về mặt quân sự phải dựa vào nền kinh tế, xem ra TQ không thể nào theo kịp Hoa Kỳ. Bởi vậy, sự bành trướng của CSTQ không thể nhắm vào Hoa Kỳ và các cường quốc khác. Ngay cả trong vùng Ðông Á, kinh tế TQ còn thua cả Nhật và Nam Hàn. Một vài con số cho thấy nền kinh tế của TQ vẫn còn yếu kém: Năm 1997 thương vụ của TQ chỉ bằng của Nam Hàn tức là chiếm 3% thương vụ thế giới, thua cả Hoà Lan 4.5% (Trích "Does China Matter?" của Gerald Segal trong Tạp chí Foreign Affairs số Sept-Oct 1999) Vậy Việt Nam là kẻ gánh chịu áp lực đầu tiên và nặng nề nhất của chủ nghĩa bành trướng TQ. III. Kết Luận: Ðể thoát được áp lực của khối khổng lồ phương Bắc, nhà cầm quyền CSVN phải thay đổi môi sinh chính trị. Sinh hoạt đa nguyên đảng phái sẽ giúp dân VN đối phó có hiệu quả những đòi hỏi đất đai của CSTQ. Ðảng CSVN vì tham quyền cố vị muốn cai trị đất nước bằng mọi giá đã kể cả cắt đứt giang sơn gấm vóc cho ngoại bang và sẽ còn nhượng bộ dài dài những đòi hỏi của "người anh cả phương Bắc" như hiện nay họ vẫn im hơi khi TQ xây các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong ảnh hưởng đến nguồn nước chảy vào Việt Nam, Lào, Kampuchia và Thái Lan. Ðó là quyền lợi sống còn của dân tộc mà chưa bao giờ chính quyền CSVN nói đến. Ðất sẽ khô cằn, biển Ðông bị ngoại bang chiếm cứ khai thác. Còn gì đây cho tương lai Việ Nam? Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |