TỰ THUẬT

(Kỳ 23) 

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

Trở gót lại Hữu Bằng

Hôm ấy là thứ Bẩy. Tính ra con đã trốn khỏi Hữu Bằng hơn hai tuần lễ, và đã nếm đủ mùi mặn nhạt, đói no, trong khi lưu lạc. Nhưng đem bấy nhiêu đau khổ mà sánh vì với một ngày chịu nhốt trong nhà xứ Hữu Bằng, con vẫn lấy bấy nhiêu ấy làm hạnh phúc hơn ngàn lần sống với cái cảnh tu xác của một nhà xứ...

Con xin ăn ở Yên Viên suốt cả ngày. Mãi cho đến chiều con mới sực nhớ ra mai là Chủ Nhật. Con định về Bắc Binh để dự lễ ngày mai. Nhưng không còn chuyến tàu nào về đấy nữa. Chỉ còn một chuyến đi Lào Kay.

Suy nghĩ một chút, con quyết định sẽ trở lại Hữu Bằng tối nay, nhưng làm thế nào để có thể dự lễ được mà cha Xứ không biết, rồi luôn tiện mang nốt số áo quần con vẫn để lại. Con còn nhớ mang máng như trong hòm đựng quần áo của con, còn có một số tiền dưới năm đồng, mà con đã dành dụm được từ lâu. Giả như hôm con trốn mà nhớ đem được số tiền ấy đi, thì đời con đã chẳng gặp phải cái giai đoạn ngược xuôi, xuôi ngược này.

Con theo chuyến tàu Lào Kay đến Hương Canh thì đã sáu giờ chiều. Trên tàu con giáp mặt cha Sự coi xứ Trang Lan, người rất biết con, và con cũng đã giúp lễ cho người nhiều lần. Người thật là một vị linh mục đứng đắn. Người thấy con, lúng túng như muốn hỏi thăm, nhưng dường như người sợ không phải thằng Văn nên người lại thôi. Con cũng biết người nhìn con rất lâu, nhưng không thể nào nhận ra, vì con cởi trần, và đi ăn xin.

Từ nhà ga về đến nhà xứ, con gặp được mấy người đàn bà đi chợ về muộn. Dọc đường họ hỏi thăm nhau xem mai lễ ở đâu. Nhân cơ hội này, con biết được cha xứ đã đi Tam Lộng, và mai làm lễ Chúa Nhật ở đấy. Con đã yên tâm, vì như thế, việc con quay lộn về nhà xứ sẽ không sợ bại lộ nơi cha xứ nữa.

Con lại định tâm rằng, nếu câu truyện được êm thỏa, con sẽ dùng số tiền con có để đi tàu xuôi sớm về dự lễ ở Phúc Yên, rồi sẽ xuôi tàu mười giờ tiếp theo. Như thế con sẽ không bỏ lễ ngày Chúa Nhật, và việc con quay lại Hữu Bằng sẽ chỉ có rất ít người biết.

Nhưng lại một lần, dự tính của con đã đi ra ngoài ý tiền định của Chúa. Con về được đến Hữu Bằng tối ấy, là như cả một sự gắng gượng của con.

Con lội qua cánh đồng sau, lần mò vào nhà xứ giữa lúc nhà thờ đang đọc kinh tối. Vừa đói lại vừa mệt. Con chỉ còn kịp chạy ra phòng đồ lễ, nháy anh cậu giữ chì khóa hòm quần áo của con, về cho con một bộ để thay, rồi con lăn ra giường đánh một giấc ngủ thật ngon.

Con xin anh cậu giữ bí mật câu truyện này cho, và dặn anh khi nào nhà thờ đọc kinh gần xong thì cho con hay để con liệu cách lánh mặt lũ cậu bé. Nhưng chả hiểu vì sao anh ta lại để con ngủ thẳng giấc cho đến lúc nhà thờ tan kinh.

Khi ấy, hình như con còn đang mơ quanh quẩn trên dẫy phố Bắc Ninh, hoặc đang lải nhải chìa tay xin người ta bố thí từng đồng xu trên toa tàu.

Bỗng con nghe có tiếng hò la inh ỏi, rồi thấy một lũ trẻ chăn trâu chạy xúm lại túm lấy con, thằng thì vít cổ, đứa thì lột áo, đứa lại ôm cẳng vật ngửa con ra. Con giật mình thì ra lũ cậu bé đang vui mừng vì "đại tướng" của họ đã hồi chinh.

Ôi chao! Chúng làm con cáu tiết quá, định bốp cho mỗi anh mấy cái. Nhưng "đại tướng" đã kiệt sức quá rồi, đành phải van lậy họ để họ cho khất đến sáng mai sẽ kể truyện phương cách rút lui có hiệu quả của đại tướng.

 

Câu truyện đã bại lộ

Ngày hôm sau con phải ra mặt với thầy già xứ và xin lỗi. Sau đó mọi người điều đi lễ ở Tam Lộng. Dọc đường con tả cho lũ cậu bé nghe hết mọi mưu cơ trốn của con. Họ tỏ ra bực tức, vì đã để cho đại tướng của họ trốn thoát, và buồn phiền trong những ngày xa khuất đại tướng của họ.

Anh em ai nấy điều vui khi thấy con trở lại. Nhưng họ cũng không hiểu duyên do gì mà con trở lại. Tuy thế, họ cũng khá tỉnh táo, họ đoán là con trở lại vì một án đồ cần thiết, rồi con sẽ lại trốn đi với tất cả đồ đoàn và áo xống. Họ đoán không sai. Nhưng con thì con hết sức bí mật.

Tuy nhiên không lúc nào con khỏi bị họ theo rõi, và cứ cố bám riết lấy con, không hề rời ra lúc nào. Bởi cái tài nói tránh của con, nên con đã giấu được họ tất cả mọi truyện đã xẩy ra cho con trong hơn hai tuần lễ vừa qua. Lễ xong, tuy con không muốn, nhưng thày già xứ ép con phải vào tạ lỗi cha xứ. Hôm ấy con được một mẻ mắng nên thân. Con rất lấy làm xỉ nhục với những lời cha xứ nói:

- Về nhà bị bố nện cho nên mới lại phải vác mặt lên. Sung sướng gì với cái dáng nhà rớt mùng tơi ra ấy! Chắc là nhà hết gạo rồi mới phải mò lên tao kiếm ăn đấy chứ có quái gì?"

Thực sự, con chưa về nhà.

* * *

Ra đi với một lời thề nguyền không trở lại - Quay về nhà xứ

Trưa ấy con lại lập kế trốn đi. Khó nhất là làm sao đánh lừa được tụi cậu bé, vì chúng cứ bám chặt lấy con, chẳng chịu ngơi ra lúc nào. Cũng may, với năm hào tiền kẹo, con đã tụ tập được họ trên buồng cha xứ. Con mời họ vừa xơi kẹo vừa xem báo. Còn con thì tán phét với họ một hồi theo xã giao, rồi con xin kiếu đi viết một bức thư cần.

Con lại đằng bàn giấy cha xứ, viết một bức thư thật dài để từ giã mấy anh bé quí mến của con, và cho họ biết lẽ gì mà con từ chối không muốn ở đây nữa.

Ðằng kia, mấy anh bé xem báo chán rồi lăn ra ngủ khì cả. Con đi ra ngoài một tí, lại bắt gặp anh canh giờ đang ngồi ngủ gật dưới gốc sấu, con bảo anh ta:

- Thôi cậu đi ngủ đi để tôi canh giờ cho, cậu để tôi đem nước cho thày già một thể.

Anh ta cám ơn con rồi đi ngủ. Con trở lại phòng cha xứ, mở ngăn bàn giấy có ý lấy một bao thư để đựng số tiền đi đường của con, và dó cũng là một mưu phòng ngừa của con, con nghĩ, nếu lúc đi đường, chẳng hạn có gặp người quen, và nếu họ có nghi con trốn, con sẽ giơ cho họ thấy chiếc bì thơ gửi đi, để họ yên trí cho con rằng con đi đưa thư.

Khi rút ngăn kéo để lấy chiếc bì thư, con thấy ở trong đó có 2 đồng 90 xu, con nghĩ một tí rồi cho vào số tiền của con. Thật là một dịp may hiếm có để con lấy nợ của cha xứ. Nhưng với bằng ấy, nó cũng chẳng thấm vào đâu với những ngày còng lưng hầu hạ cụ xứ.

Công việc tươm tất. Con cũng đã làm xong chu đáo mọi việc cho cậu canh giờ rồi. Hai giờ hơn, con lững thững ra đi. Trước khi đi con mặc một bộ đồ thật bảnh. Nhưng không tài nào đem hết áo xống đi được, vì như thế gặp ai, con sẽ bị nghi ngay là đi trốn. Con ra từ giã người bạn thân quí mến nhất trong đời tu chú bé của con là anh bạn Tân, rồi đi thẳng ra ga cho kip chuyến tàu xuôi.

Một lần nữa, con lại phải hết sức nín cười vì gặp ông lái đò tinh ý. Thấy con xin sang sông ông ta không những không nhúc nhích, lại còn tỏ vẻ hăm dọa con như thể là ông ta đã biết con đi trốn vậy. Con đã hơi lo lo, nhưng con chắc rằng ông không có thể mà tinh ý đến thế được. Con cố sức định thần và bình tĩnh nói với ông ta bằng một dọng hơi xẳng:

- Cụ có thể cho tôi qua ngay, để tôi kịp chuyến tàu xuôi bây giờ.

Vừa nói con vừa giơ chiếc bì thơ cho ông thấy.

Thế là chả cần phải nói thêm. Ông lái đò tinh ý ấy đã vội vã đứng dậy chống phà cho con sang sông, ông vừa nói:

- À cậu đi bỏ thư phỏng?

Con móc túi thưởng cho cái tinh ý của ông hai hào, và dặn ông:

- Này cụ, tôi sẽ đi về lối Ngọc Bảo đấy nhé. Cụ đừng ngóng tôi làm gì, và nếu có ai hỏi cụ cứ nói giúp tôi thế.

Thật ra con không nói dối, vì chuyến tàu xuôi cũng đi qua làng Ngọc Bảo. Con ra ga được một chặp thì gặp tàu xuôi. Lần này con vào nhà ga lấy vé cẩn thận, chứ không phải lẩn lút như mấy lần trước.

Ngày hôm sau con về đến nhà Bá Khánh ở Bắc Ninh con chỉ để dư đủ số tiền lấy vé xe hơi về Từ Phong, còn bao nhiêu con vào hiệu mua đồ chơi về làm quà cho em Tế.

Ngày nay cha còn thấy một bình tăm bằng sứ, trong những món quà con mua để tặng cho em. May mà nó còn sót lại bằng ấy, để ghi nhớ chút tình thân mật của con đối với em. Vì ít lâu sau khi con đã về nhà, con bị mang tiếng là ăn cắp một số tiền lớn của cha Nhã.

Khi nghe tin ấy, Tế đoạn tuyệt ngay với con, và có bao nhiêu những món đồ chơi con mua tặng em, em đã đem đập bẹp hết, để tỏ ra lòng em minh chính, không thèm nhận những của do bởi sự ăn cắp mà có.

* * *

Những nổi khổ thống bởi gia đình

Con về nhà bá được hai tuần, thì được tin mẹ ở bên nhà nhắn bá đưa cháu về. Con xin thú thật rằng, con chẳng vui tí nào khi được tin phải về nhà. Con khóc lóc xin bá cho ở lại nhà bá, và xin bá lo liệu cho đi tu chỗ khác. Nhưng bá vẫn tỏ ra bá không có quyền gì ở trên con hết, nên dù thế nào bá cũng phải làm theo lời mẹ.

Hôm bỏ nhà bá ra về, con khóc suốt dọc đường, và chỉ van xin Ðức Mẹ cứu con cho khỏi bị thày giết.

Thật ra, con đã không bị thày chém. Nhưng chỉ một tí nữa, giá không có bá can thiệp thì thế nào con cũng bị một trận đòn nên thân. Nhưng ngày hôm sau con lại thầm ước, giá con được cái hạnh phúc chết ngày hôm qua, giá hôm qua thày đã chém đầu con, hoặc đã đánh con chết được, thì còn đâu con phải sống để chịu đựng những chuỗi ngày còn đau đớn hơn cái chết! Ngày hôm qua con sợ chết, nhưng sang ngày hôm nay, con không còn sợ nữa, và chỉ ao ước được chết.

Ôi! Thưa cha, giá con được phép bỏ qua khúc truyện này! Giá cha đừng bắt con phải nói!. Nhưng đây, lại một lần con nhận thấy đức vâng lời là chìa khóa bước vào cõi hạnh phúc. Ðến đây con không ngại phải nói nữa, mà con sẽ nói một cách tường tận như con còn nhớ.

Con còn nhớ rằng, từ ngày con về nhà, tình đầm ấm giữa gia đình đối với con cũng chẳng khác gì một đứa con rơi.

Nhà con đã nghèo, nửa phần đất phải đem đi đợ. Tuy thế, nhưng thày vẫn điềm nhiên sống trong sự sung túc, thày vẫn có tiền đi đánh bạc. Nhưng các con của thày không có đủ tiền để sống. Cả nhà ai nấy điều phải làm việc để nuôi thày và lo cho có tiền để thày đi chơi. Em Lục còn bé, cái tuổi thơ của em đã hụt đi mất bao nhiêu là cái sướng, vì em đã sinh vào thời kỳ đang lúc hạnh phúc gia đình bị tan vỡ. Em Tế còn được đi học. Nhưng sự học của nó cũng chẳng được tấn tới lắm. Một đàng vì gia đình nghèo, đàng khác, phương pháp giáo huấn của mấy ông thày còn nghiêu khê lắm. Các ông còn thích để râu vểnh, và chơi roi mây tám.

Còn mẹ thì không cần phải nói. Mẹ đã là cột cái chống đỡ gia đình rồi. Mẹ còn thì gia đình cũng còn, mẹ sống thì gia đình còn sống, ấm no của gia đình là do một mình mẹ điều khiển. Mẹ chẳng có tài nghề gì cho lắm, nhưng nước mắt mẹ là sức sống của gia đình.

Lòng mẹ thì bao giờ cũng là lòng mẹ. Nhưng con nhận thấy mẹ đã rất bất mãn về việc con trốn. Và để phạt tội con, mẹ đã xử với con như không phải là con của mẹ nữa.

Từ bấy giờ cửa lòng con khép kín lại, chẳng bao giờ con dám hở răng nói một lời thân mật gì cùng mẹ. Chỉ có những dòng nước mắt trong bao đêm trường, cho con giữ nỗi niềm vào thời gian!

Non một tháng sau, con không còn đủ can đảm sống ở gia đình nữa. Dạo ấy lại được chị Lê am tường cảnh ngộ. Chị cũng nhận thấy cảnh gia đình buồn tẻ, nên muốn tìm nơi an trú để tu thân tích đức. Hai chị em tâm đồng ý hợp, rủ nhau đi tu cho yên truyện.

Hẹn một ngày chị em cùng nhau ra đi, nhưng chưa có ý định là đi tu ở đâu. Chúng con chỉ biết trốn bỏ gia đình ra đi, còn thì phó mặc ý Chúa định liệu. Rồi một khi con thuyền đã chuyển lái sang tay Chúa, thì Chúa chỉ muốn đưa con vào nơi chiến thắng. Nhưng trước chiến thắng phải qua giai đoạn giằng co, và đau đớn.

Êm thỏa chưa được một ngày, chị em đã có điều bất thuận. Ðến Bắc Ninh rồi thì chúng con không biết đi đâu nữa. Ðằng sau thày đang đạp xe đuổi riết. Chúng con đã thấy thày từ bến đò Hồ, nhưng thày không thấy chúng con ngồi trên xe hơi.

Chị Lê hỏi con cách lúng túng:

- Ði đâu bây giờ hở Văn?

Con cương quyết đáp:

- Sợ gì, chị có thể xin vào tu tạm ở nhà mụ Ðạo Ngạn.

- Thế còn mình?

- Em á? Ðể Chúa lo. Chị không thấy sao, lúc trốn bỏ Hữu Bằng, em đã ở ngoài gia đình hơn hai tuần lễ mà vẫn sống.

- Ðừng tự phụ Văn ơi.

- Em có thể tự phụ được, vì em còn tin Chúa.

- Thày sắp đến, chúng ta phải lên xe trốn lên Ðáp Cầu mau.

Ngồi trên xe, chị Lê vẫn luôn luôn áy náy.

- Văn ơi, làm thế nào mà xin vào tu ở đấy được? Mình đây không có giấy chứng chỉ của cha xứ?

- À thôi chết!

Ðến đây con mới bắt đầu lo, và còn lo hơn chị Lê. Con nghĩ một tí rồi tiếp:

- Nhưng thế này, mình cứ xin bà nhất nhận tạm, rồi xin giấy chứng chỉ sau.

Chị Lê khóc:

- Văn ơi, thế nào chứ thế này thì. lậy Chúa!

- Em thì em chả lo.

Xe đến gần rạp chiếu bóng Ðáp Cầu, chúng con ngừng lại và vào hàng ăn quà.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com