TỰ THUẬT

(Kỳ 23)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

 

Ăn xong, chúng con đi dạo chơi vớ vẩn ở chung quanh sân vận động của nhà binh bên cạnh đường.

Thoạt khi ấy, chiếc xe thày phóng ngang qua chúng con. Nhưng một lần nữa thày không trông thấy chúng con, và cứ cắm đầu phóng thẳng lên phía cầu. Chị Lê trông thấy thày hãi quá, xanh lè cả mắt ra. Chị lôi con chạy lên cửa hiên rạp chiếu bóng, rồi hai chị em ngồi núp ở trong một bụi cây rậm. Chị em vừa chui vào bụi, trống ngực còn đập thình thình, thì lại một lần hết vía. Con chó tây to tướng tự trong nhà nhẩy xổ ra, gâu gâu sấn đến cắn hai chị em. Chúng con đang không biết làm thế nào. Con sợ quá thét lên một tiếng lớn. May thay, lúc ấy có anh bồi chạy ra, tay vẫn còn cầm một con gà vặt lông giở.

Thấy hai đứa bé nhà quê, anh ta không nỡ mắng. Anh hỏi vài câu, rồi bảo chúng con ra phía trước mà ngồi.

Chúng con đem nhau ra ngồi nấp dưới gốc cây bên vệ đường. Quãng này mới do dự tợn. Một đàng, chúng con không dám tiến về Ðáp Cầu nữa, vì thày đã ở trên ấy rồi, đàng khác về thì cũng không dám trở về. Ðàng nào cũng khổ.

Chị Lê nhớ nhà, chốc chốc lại chẩy nước mắt. Con cũng nhớ nhà lắm, nhưng con cảm thấy không tiếc xót một cái gì ở đấy. Cả nhà không ai còn ưa con nữa. Tình yêu gia đình đối với con như một cái gì khô khan và trống trải. Có lẽ vì con tự ái quá nhiều? Một khi con đã yêu, mà cái yêu kia không được tiếp nhận, cái đó làm cho con đau khổ, rồi tự nhiên con muốn lìa biệt. Nên sự nhớ đến nhà khi này không làm cho con sa nước mắt.

Chị Lê khóc, con không quan tâm đến nước mắt của chị. Nhưng chỉ thích xem tốp lính đang chơi ban dưới sân vận động. Chị Lê không như con, chị buồn và có vẻ nghĩ ngợi nhiều lắm. Hai chị em từ nẫy vẫn không nói gì với nhau cả. Nhưng đang lúc con mãi miết xem tốp lính thao diễn, chị Lê chậm chạp nói:

- Về đi Văn ơi!

- Sao lại Về? Chị Lê!

- Mình đi tu thế nào được?.

Chị gục mặt xuống khóc tiếp:

- Có lẽ mẹ ở nhà đang mong chúng ta.

- Không, chị về thì về, em không về đâu. Về bây giờ mẹ đánh chết.

- Không, mẹ hiền lắm, mẹ sẽ không đánh đâu.

- Mẹ hiền với chị thôi, chứ đời nào hiền với em được? Ðấy. Chị xem.

Ðến đây con mới bắt đầu khóc.

- Không, tại em không hiểu mẹ đấy.

- Em hiểu lắm. Em hiểu, về thì thế nào mẹ cũng sẽ nọc em ra mà đánh trước chị. Thôi, chị có về thì về. Phần em, em sẽ liệu một đường tu, nếu Chúa không muốn cho em tu ở chỗ nào, thì em thà làm một thằng bé bán nước rong chẳng thà về nhà để sống với những. cái gì thì chị đã hiểu em từ trước đến nay rồi.

- Em không về thì chị không thể về được.

- Cái đó tùy chị. Nhưng xin đừng vì em mà chị phải đau lòng. Thôi, chị về thì về đi. Con sang gốc cây bên kia. Chị Lê bưng mặt khóc, con cũng úp mặt vào thân cây để khóc. Hai chị em cũng khóc. Lòng con lúc cảm thấy cái nhớ dào dạt hơn. Con nghĩ: Trốn đi có hai chị em, bây giờ lại phải ly biệt mỗi người một ngả. Khóc chán rồi con ngồi lần hạt. Một lúc chị Lê sang gốc cây con ngồi mà dụ về, con đáp:

- Không, chị về mặc chị, còn em, em ở đây.

Rồi con lại chạy sang gốc cây bên kia. Một lúc chị Lê lại qua bên con. Con lại chạy sang bên chị Lê. Hai chị em bây giờ không khóc nữa, nhưng không thể nói truyện với nhau được. Vì chị thì bảo về, mà con thì sợ về mẹ đánh.

Chỉ có cái sợ ấy mà thôi. Chị Lê đã bắt đầu bẳn. Tiếng nhẹ qua đi, bây giờ đến những lời nặng. Sau một cuộc đôi co, chị Lê dỗi, nhất định là về. Chị xách tay nải quay về. Về thật, để mặc đứa em của chị đi đâu thì đi. Nhưng chỉ mười lăm phút sau, chị lại quay lại và dỗ con về. Con thương chị quá, nên bàn thế này:

- Thôi, em xin nghe lời chị về, nhưng đừng về nhà. Chúng ta về nhà bá Khánh.

Chị Lê tán thành ngay. Chị em lại dắt nhau quay trở lại Bắc Ninh.

Ðang đi, đã gần đến Bắc Ninh. Bỗng chúng con nghe có người ngã xe đạp ở phía sau, chúng con quay lại thì ra:

Lậy Chúa! Thày! Tội nghiệp làm sao, thày chúng con bị ngã xe! Nhưng cũng chẳng còn hồn vía nào ngừng lại để chia sẻ cái rủi với thày. Vừa thấy bóng thày là chúng con lôi nhau chạy thật lực để trốn.

Cái ngã của thày chắc là không can gì, nên thày chỗi dậy và đuổi theo chúng con ngay. Chiếc xe còn để nằm bên vệ đường. Chị Lê bị thày bắt được đầu tiên, vì chị mang tay nải. Còn con thì không mang gì cả, và nếu cứ để sức con chạy thì thày khó mà đuổi kịp con.

Nhưng khi con thấy chị Lê đã bị thày bắt được, và bạt tai cho mấy cái, con cảm thương chị quá, nên con quay lại và tự nộp mình cho thày.

Thày mệt lữ, thở tái cả mặt đi. Con vừa đến, thày giơ tay bạt cho con một cái, nhưng lại bớp hụt. Rồi thày không đánh đấm gì chúng con nữa.

Chị Lê khóc. Con đến ôm lấy chị và dỗ chị nín đi

Chị Lê bẽn lẽn bảo con buông chị ra, vì có nhiều người đứng xem. Quay lấy chiếc xe đạp còn nằm ở đằng kia. Rồi thày tịch thu hết tất cả tiền nong, áo xống của chúng con, không trừ lại một trinh, bảo chúng con liệu hồn mà về. Xong, thày lên xe phóng về trước chúng con. Chốc chốc thày ngừng lại để coi chừng. Con bắt đầu khóc khi thày vừa đi. Bây giờ lại đến phiên chị Lê dỗ con.

Chúng con phải đi bộ hơn hai chục cây số. Về được đến nhà thì đã gần chín giờ đêm. Thày đã về trước, và sửa soạn nã cho chúng con một trận thật lực.

Về nhà, chúng con nhận thấy tiếng mẹ đã khàn, và dọng mẹ nói không còn tự nhiên nữa. Chắc mẹ đã khóc nhiều? Tuy thế, mẹ cũng giảng cho chúng con một bài ngắn. Mẹ vừa giảng xong, thì đến lượt thày hạch tội. Roi mây quất đen đét lên phản để thị oai. Con cảm thấy ghê cả người, và nói nhỏ với chị Lê chạy trốn. Chị Lê không chịu, lại gàn con:

- Thôi Văn, ta chịu cho nó xong đi, đau đớn gì mà lo?

Mẹ lên tiếng bênh chị Lê, còn con thì mẹ bảo: Ðánh cho rác xác nó ra. Con gục vào vai chị Lê khóc, và than thở với chị:

- Ðấy, chị xem, em nói có bao giờ sai đâu, mẹ có thương em chút nào?

Thày cầm roi tiến đến chỗ chúng con và quát lớn:

- Trói cổ chúng nó vào cho tao! Nọc nó ra! Chết phen này tao không thương!

Con vùng chạy ra cổng. May thay, cổng vẫn còn mở toang. Chị Lê chạy theo. Ðến lượt thày đuổi theo. Nhưng ra khỏi cổng, chúng con chạy tán mỗi đứa một ngã, làm cho thày không biết đuổi ngã nào, vả lại, trời tối như bưng.

Chúng con thoát được trận đòn đêm hôm ấy. Sáng hôm sau chị Lê đã về nhà làm việc như thường. Còn con không dám về, vì hôm qua con đã nghe mẹ nói một câu như dứt hết mọi tình âu yếm với đứa con trao của mẹ.

Mãi cho đến trưa, con vẫn còn quanh quẩn ở nhà thờ.

Em A.M. Tế bắt đầu gièm chê con, và gọi con là thằng vô phúc. Em không nhìn nhận con là người anh nữa. Em đã bắt đầu gọi con là "thằng" và xưng "tao" gặp em lúc nào con cũng phải rớt nước mắt!

Trưa đến, mặc dầu từ sáng đã có nhiều tin bảo con cứ về nhà, đừng sợ gì. Nhưng con vẫn nghi ngai, chỉ sợ về thày đánh cho róc xác như án mẹ đã tuyên, thì chết! Mãi cho đến lúc chị Lê gọi con ra nhà thờ, thay mặt thày mẹ làm lời giao kết sẽ không đụng chạm gì đến con ngày hôm nay, con mới chịu theo chị về.

Một tuần lễ qua, con không nghe thầy mẹ đã động gì đến truyện phạt chị em chúng con cả. Nhưng không ngày nào là ngày con không phải lau nước mắt. Và như con tưởng, bấy nhiêu ngày chịu xỉ báng, cũng có thể bồi đắp cho cái tội trốn của con rồi. Nhưng nào có phải thế!. Thày mẹ không thể nào miễn thứ cho con một trận đòn.

Bất chợt một buổi tối, đang lúc chúng con ngồi nói truyện vui ở trong buồng. Thày ở đâu về, đóng cổng cẩn thận, và đề phòng đủ mọi truyện cho chúng con không thể nào trốn thoát được. Thày lại quát tháo, và đem roi mây thị oai như lần trước. Thày uống thêm rượu, rồi truyền nọc chúng con ra phản để thày trị tội.

Con bắt đầu run, và trống ngực đập thình thình như vỡ trái tim. Con định chạy lại xin mẹ bênh đỡ. Nhưng thảm thay! Một lần nữa, mẹ lại lên tiếng bênh vực chị Lê, còn con mẹ chỉ có một điều, là đánh cho róc xác nó ra, có chết đem chôn sớm.

Chị Lê bình tĩnh như không cảm thấy cái đau đớn là gì. Ðã rõ, vì chị vừa được mẹ lấy thêm áo xống để độn vào người cho đỡ đau.

Phần con bắt đầu khóc ngay tùy lúc mẹ lên tiếng. Con cảm thấy mình trơ trọi, và vô phương cầu cứu.

Anh Liệt, em Tế, thỉnh thoảng lại dạo lại những lời mẹ đã nói với con:

- Ðánh cho róc xác cái thằng Văn đi. Quân ấy có chết không ai thương.

Thày đã là lý hình. Vậy thì còn ai còn một chút cảm tình với con trong lúc này?

Sự cô đơn nhắc nhủ con nhìn trời. Con chỉ còn đưa đôi mắt tràn lệ nhìn về phía ảnh Ðức Mẹ, con van xin Mẹ, và trông cậy Mẹ sẽ cứu giúp con, ít là cho con có đủ can trường để chịu cho qua tấn đòn đêm hôm nay.

Sung sướng thay! Khi con đã đưa mắt trông nhìn Mẹ cực lành trên trời, thì những biến cố kia sẽ hóa thành êm dịu.

Thày vụt con lia lịa, nhưng roi nào cũng vào thành phản bên kia, vì con nằm trên phản duới, nên bao nhiêu đầu roi giáng xuống điều được thành phản trên cản roi lại. Con không đau đớn gì cả.

Tuy nhiên, con đã khóc suốt đêm, vì tận lòng con khơi lên một mạch sầu không tài nào nén nổi:

Ðối với mẹ từ đấy, con lại cảm thấy xa xôi hơn. Và dường như mẹ cũng hiểu biết rằng: Con không bao giờ dám có một cử động thân yêu nào dù rất nhỏ mọn ra với mẹ nữa. Hơn nữa, con hay tìm đường trốn tránh hết cả mọi người trong gia đình. Kể cả em Lục.

*

* *

Nhưng chưa phải là đã xong. Gánh đau thương ngày một thêm nặng. Không đầy một tháng sau. Cha Yoseph Nhã đến chơi nhà con. Sau khi gièm chê con đủ mọi tội lỗi xấu xa ở nhà xứ Hữu Bằng đoạn người kết thúc bằng một lời vu khống, cho con đã lấy trộm của người đến ba chục bạc tiền lễ, trước khi trốn ra đi. Vừa được tin ấy, con đang xay lúa, phải lảo đảo bước vào buồng nằm. Con không nói một lời nào để minh oan. Nhưng theo sự con nuốn nói khi ấy, là chỉ muốn nói không hay cho cha Y. Nhã.

Nhưng thôi, đã có Chúa biết là đủ rồi. Con tự yên ủi mình hết, rồi âm thầm chịu khinh bỉ. Cha Nhã vừa đi, con tưởng sắp sửa lại phải chịu một tấn đòn nữa? Nhưng nhờ ơn Mẹ Maria xui khiến, con được an toàn.

Từ đấy, đời sống của con càng thêm tẻ lạnh, và chỉ tăng lên mãi những ngày buồn thương cay đắng!

Viết qua những dòng này, con cảm thấy như mình đang sống lại những ngày thảm khốc ấy, lòng con se lại, và mắt con cũng tự dưng rơi ra những dòng nước trắng!

Không lần nào hồi tưởng lại đến giai đoạn này mà con không thấy mắt con ướt, lòng con khô. Và để hãm cho cơn sầu khỏi thúc đẩy mạnh, con chỉ có cách nhớ lại hồi thơ trẻ ở đấy có những cái yêu, có thể làm cho con khuây hết mọi nỗi buồn.

Cho đến lúc này gia đình coi con như một đồ bẩn thỉu. Ai cũng ngại nói với con, mà nếu có nói thì lại chỉ nói cho lòng con thêm tủi. Ai cũng dè dặt, che giấu con từng cử chỉ, vì chỉ sợ con ăn cắp mất. Trong nhà hễ hơi thấy sơ sẩy cái gì, cho dù chưa phải là đã mất, nhưng mới thấy khác vết một tí là đã đăng tên con vào cái hạng tình nghi muốn đánh cắp.

Ngày ấy con được nhà tặng cho khối danh từ. Nào là: "Thằng xoáy" (thằng ăn cắp vặt) hay là: Con nuôi của chú Hương, thường thường gọi tắt là: Hương non. Hương là tên một anh ăn cắp vặt tại chợ Mão Ðiền, hắn đã có tiếng là ăn cắp giỏi. Bây giờ thay vì kể con là người nhà, thì loại con vào hàng trộm cắp.

Một hôm, chả biết em Tế để lẫn đâu mất một mẫu ảnh kẻ sách. Em tìm không thấy, rồi nghi ngay là con đã ăn cắp. Thế rồi suốt ngày hôm ấy, em cứ theo con rều rễu mà đòi:

- Xoáy! Giả ảnh tao đây. Ðồ ăn cắp! Chốc chốc em lại đổi giọng:

- Hương non! Giả ảnh người ta, không thì ông bảo mẹ đánh cho róc xương ra bây giờ.

Chưa đã, em còn đi cáo báo với tất cả các chị em bạn Nghĩa binh của em nữa. Nên con đi đâu cũng cứ bị các cô chạy theo đòi ảnh cho em Tế.

Câu truyện ăn cắp tiền của cha Y. Nhã không bao lâu cũng đồn đi ra khắp làng. Thành thử hễ có con ở đâu là ở đấy có điều xỉ nhục. Ở nhà, nhà chê, ra đường thì thiên hạ cười. Ai ai cũng bĩu môi khi nhìn thấy con, và khi nói về con họ chỉ rủa là một thằng vô phúc. Những anh chị em Nghĩa binh sốt sắng thường coi con là đồ nhớp, không đáng cầu nguyện cho. Ðang khi ấy, con âm thầm làm việc tông đồ trong đám trẻ đi làm thuê, nghĩa là con chơi thân với chúng và dẫn dụ chúng theo sự con hiểu và thực hành về đời sống công giáo.

Ðã sống qua những tình trạng như lũ trẻ đi làm thuê, con đã rất am tường cảnh ngộ và đời sống bị khinh mạt của chúng, nên việc chơi thân với chúng là một lẽ. Sướng tự nhiên của con. Các anh ấy cũng tỏ ra hiểu và yêu con. Tuy con chẳng bao giờ tự bào chữa cho mình, nhưng các anh ấy cũng chẳng bao giờ tưởng con là đã ăn cắp như người ta nói.

Nhưng, con càng bị ghi gán chặt chẽ vào những việc làm đê mạt, khi mọi người thấy con đi lại thân mật với những đứa trẻ mà xưa người ta thường coi là đồ vô học và kém giáo dục.

Tất cả con chỉ còn được cái sướng ấy. Nhưng một ngày cũng bị mẹ tuyệt cấm. Lần nào mẹ thấy con nói truyện với lũ trẻ chăn trâu, là mẹ lôi ngay con về, củng cho mấy cái.

Mấy lần dầu, con còn lý luận cho mẹ hay là ai cũng là con Chúa, và mọi người trên trần gian là anh em với nhau cả. Nhưng càng lý sự nhiều càng được củng nhiều, và chỉ thêm cho sự chán ghét của gia đình ngày một thêm, nên con phải chực lặng thinh, và vâng lời mẹ không đi lại với lũ trẻ đi làm thuê nữa.

Thày thường vẫn ít nói đến con. Nhưng mỗi lần thày nói là nói cho đến nỗi con phải tưởng rằng: con chỉ bởi đống phân mà chui ra.

Bữa cơm là một buổi cáo lỗi con trước mặt gia đình. Hễ không thày thì mẹ là chánh án. Lần nào bị cáo con cũng được nghe một bài giảng cho đến hết bữa cơm. Và dầu sao, con cũng khóc nhiều hơn ăn.

Giữa bài giảng, thỉnh thoảng em Tế lại răn dậy con một vài lời, như tra thêm muối ớt vào dấm thanh. Và những lời răn dậy ấy còn làm cho con ra nước mắt nhiều hơn cả một bài giảng dài của thày mẹ.

Thường con chẳng bao giờ dám phản đối em. Con hiểu rằng em còn dại, và chỉ biết nói theo sự em nghe người ta nói. Nhưng có những lúc con phải đưa đôi mắt tràn lệ van nài em thôi hãy để cho nỗi lòng anh dịu lại một tí, bằng một cái nhìn.

Than ôi! mấy lần em gặp được cái nhìn ấy và hiểu nó theo tâm trạng người anh đang đau khổ của em!

Con chẳng bao giờ muốn ăn cơm chung, với con chỉ ao ước ăn riêng, hoặc ăn lúc khác. Nhưng phải một là ăn, hai là nhịn, chứ còn sự con ao ước không đời nào lại có thể thành đạt được.

Cũng có nhiều bữa con phải dằn lòng chịu nhịn đói, rồi tìm cách ăn vụng.

May mắn cho con được một cái là con còn đuợc chị Lê coi cho con ăn vụng, hoặc chị lén để cho con một phần nào. Nhưng sự may ấy có hạn. Ít lâu sau chị Lê cũng bỏ rơi con... Thế rồi mấy lần con ăn vụng, lại đuợc đem ra và kể vào những lỗi đáng ăn lươn.

Con đã thưa với cha ở trên kia rằng: hết mọi điều sơ suất trong nhà điều đổ lỗi lên đầu con cả. Tất nhiên, con không dám cãi là con không bao giờ có điều sai lỗi. Tự nhiên con vẫn là đứa trẻ lười lĩnh và hay càu nhàu. Con cũng không hiểu là tự sao con lười? Con chỉ cảm thấy con không còn sức vóc đâu mà làm việc được nữa. Cho đến cái việc lau nước mắt con cũng cảm thấy không muốn làm. Nên chi, con vẫn luôn luôn là đứa trẻ lười. Con hay càu nhàu, chỉ vì một lẽ thiếu nhân đức, chứ còn thật ra, đau khổ vẫn dồi dào luôn.

Ðến cái câu truyện chị em đi trốn, chị Lê cũng dồn cả lỗi lên đầu con. Dạo ấy trong nhà xứ Ngăm đang có những câu truyện lôi thôi cũng như ở nhà xứ Hữu bằng. Thày giáo quản Nghĩa binh chỉ thích nói truyện riêng với các chị Trung binh trong bóng tối. Chả biết rằng họ nói gì với nhau ở những chỗ ấy, nhưng mà người ta đồn thổi dữ lắm. Dư luận đang xôn xao thì chị em Lê đem nhau đi trốn...

Thế rồi người ta kết thúc rằng:

- Thày giáo quản Nghĩa binh bảo Lê trốn lên tỉnh, nhưng Lê không dám đi một mình, thì rủ Văn đi với cho có bạn.

Mẹ con rất khó chịu về những lời bàn nhỏ ấy, nên bắt chị Lê phải khai rõ tự sự ra sao để phân phô cho mọi người biết. Chị Lê nghe vậy cũng bẽn lẽn, không dám tự thú là mình có ý đi trốn. Nhưng mà chị bảo: Văn nó rủ đi tu.

Thật ra, thày giáo Lượng không bảo chị Lê đi trốn. Nhưng cũng không phải em Văn của chị rủ chị đi tu. Văn của chị chỉ dẫn dụ chị về đuờng tu, rồi chính chị đã tình nguyện đi tu. Hai chị em cùng có một ý định trốn đi tu chứ không phải là: Văn nó rủ.

Chỉ vì một sự bẽn lẽn, mà không dám thành thật, chị đã để cho đứa em chị phải sống trong bao ngày gian truân khổ não!

Phần con, con cứ ngay thật nói trắng ngay ra như việc đã xẩy ra. Con hết sức bênh chị khi nghe có ai nói: Chị Lê đi theo trai. Và nếu người nói là một cậu hay cô nghĩa binh thì con vả luôn cho một cái cho họ câm đi. Nhưng đã đến lúc con không còn được yêu, thì lời thật của con sẽ được ai cho là thật! Chỉ có Lê nói là ai cũng tin.

Thế rồi chị cứ quen miệng gán lỗi cho em Văn. Hễ có điều gì sơ xẩy mà mẹ hỏi, thì chị lại thưa:

- Chắc là thằng Văn.

Thằng Văn nào mà lạ thế? Có nhiều lúc con chưa biết duyên do câu truyện ra làm sao, đã bị lôi ra để chịu tội rồi.

Thấy vậy, về sau con có cái thói quen đi nhận lỗi. Bất cứ lỗi gì, hễ mẹ hỏi là con thưa trước rằng:

- Thưa mẹ con đấy ạ.

Rồi mẹ có tha thì con cám ơn mẹ, bằng nếu mẹ phạt thì con chịu.

Theo con nghĩ, như thế cũng chả phải là nói dối, và cũng không lỗi đức công bằng. Con cứ lý luận thế này:

Ðiều lỗi thì đã tất nhiên là điều lỗi, mà nếu không có người làm lỗi thì lỗi ấy không có. Và một khi đã có thì tất phải có người làm ra. Nhưng có khi người làm ra không dám nhận, nên con nhận hộ. Anh em một nhà, người này chịu thế cho người kia cũng kể là như người kia bị phạt rồi vậy.

Nhưng các anh chị em con lại chẳng hiểu thế cho con. Tính tự ái của mỗi người điều bênh vực cho mình là phải cả.

Một hôm, chị Lê sơ ý bốc thang gạo ở cối lên mà không đậïy lại. Rồi chị bỏ vào trong bếp xay lúa với con.

Chẳng may, lũ gà nhân cơ hội, nhẩy vào thúng gạo, bới vãi lung tung.

Bất chợt, mẹ ở đâu về, thấy thế, mẹ mới lên tiếng:

- Ðứa nào làm ăn cẩu thả thế này đây? Biết lỗi, nhưng chị im thít. Mẹ phải hỏi đến lần thứ hai. Chị Lê cũng vẫn cứ lặng yên. Mẹ đi lấy chổi, vừa quét lại đống gạo bị văng ra, và lên tiếng hỏi lần thứ ba. Chị Lê vẫn yên như tượng đá. Thấy vậy, con hiểu là chị sợ phạt, nên con thưa hộ chị rằng:

- Thưa mẹ... em đấy ạ.

- Tao biết mà... Thế mà phải để cho ta hỏi đến ba lần mới nhận lỗi... Con vừa nghe mẹ mắng dứt lời, và còn đợi mẹ đem roi vào quất. Thì chị Lê sấn lại bên con, mặt mũi đỏ gay. Chị tát cho con ba cái thật lực và mắng:

- Thằng phải gió này!.. Tao làm đấy!...Mày biết là tao làm, sao mày lại không bảo là tao làm? Mày tưởng thế là nhân đức... là, là.. để tao phải phục mày chứ gì? Thằng quỉ này, mày chỉ làm cho người ta sinh tội ra thôi. Xéo! Bước đi đâu thì đâu!...

Mẹ ở ngoài, chả hiểu câu truyện ra làm sao, thấy chúng con xô xát, mẹ liền cầm ngược cuống chổi, chạy vào bếp, dí vào đầu con, nghiến răng, mắng gằn từng tiếng.

- Thằng khỉ này! Bao nhiêu tội ở cái nhà này là do tự mày mà ra cả... Hết người nọ, đến người kia, mày điều gây nên những sự hỗn độn.

Con ấm ức khóc, và thưa:

- Vâng, con đã biết hết mọi sự hỗn độn điều đổ lên đầu con cả, nên con đã thành thực mà thú trước.

Chị Lê cay nghiệt mỉa:

- Gớm ghê chưa! ông thánh đấy!...

Mẹ vừa giơ cao cán chổi, vừa đe:

- Có câm đi không thì ông cho mấy cái cuống chổi bây giờ.

Chị Lê húi:

- Mẹ cứ nện cho nó một thôi đi cho em...

Con luồn qua nách mẹ, chạy biến ra ngoài...

Mãi đến trưa hôm sau con mới dám về nhà... Con đói đã làm cho con kiệt sức đến nỗi chỉ về được đến cổng thì con ngồi bệt xuống đất, và lúc ấy dường như con đã thiếp đi. Nhưng con lại tỉnh lại. Và một lúc sau gặp em Tế đi chơi về. Em có ý đi tìm con. Thấy con ngồi bệt ở cổng, em chạy về báo cho thày mẹ hay, rồi đem cho con một bát cơm rưới tương, và một bát nước lã, bảo con:

- Ăn xong rồi đi nhà khác...

Em có ý coi con là người hành khất. Con chưa kịp ăn thì đã cảm thấy no. Và không còn cách nào để con làm cho em Tế hiểu con hơn là chẩy nước mắt. con nghẹn ngào nói với em bằng một giọng điệu xa xôi:

- Xin cám ơn cô...

Con vừa dứt tiếng, Tế nhìn ngay đến sự ngạo nghễ của em đối với một người anh. Em bưng bát cơm vào nhà, và có một cử chỉ ăn năn.

Trong nhà, thày mẹ lên tiếng mắng Tế, và bảo:

- Lôi cổ nó về đây.

Con cảm thấy phát run cả người lên. Nhưng lại sợ xẩy ra điều chẳng lành, nên con cố đứng dậy và lảo đảo bước ra đường. Con có ý định đến nhà thờ, nơi mà đã che giấu con từ sáng hôm qua.

Em Tế chạy ra cổng, thấy con đi, em la ó lên:

- Thày ơi, anh Văn ấy lại đi.

- Ði đâu? Tiếng thày vọng ra.

Tiếng mẹ lại tiếp:

- Ði đâu? lôi cổ nó về đây cho tao.

Em Tế chạy ra cản con lại:

- Anh Văn! Ði về!

- Về đâu?

- Về nhà chứ về đâu?

- ... Nhà anh ở phía kia.

Con có ý nói là nhà thờ.

- Không, anh muốn em về bảo mẹ đem roi ra chứ?

- Nếu em cho là cần.

Tế khóc...

- Không, anh Văn! Ði về! Mẹ buồn vì anh đã bỏ nhà...

- Anh về, mẹ còn buồn hơn, vì phải chịu sinh tội ra vì anh.

- Không, anh phải về, không thì...

Tế đun con một cái nhẹ để thúc con quay lại. Bất thần con ngã ngửa người ra. Tế sợ, chạy về mách mẹ.

Một lúc mẹ mới ra. Con còn ngồi dướt đất.

Mẹ bảo con:

- Ðứng dậy! Về!

Con đứng, nhưng không về. Con cũng chẳng biết nói gì cùng mẹ. Cả người con run rẩy như người bị sốt rét. Mắt con hoa lên, và chỉ chực ngã.

Mẹ thấy con không nhúc nhích. Mẹ cầm tay con vừa lôi đi vừa mắng:

- Cái thằng chết tiệt này, đói xanh cả mắt ra, bảo về lại còn lì.

Ðược mấy bước, con ngả nhào đầu xuống dưới chân mẹ. Nhưng mẹ cứ tiếp tục lôi con sền sệt về cho đến nhà.

Thày con tuốt roi mây định đánh. Nhưng không hiểu làm sao, thấy con, thày lại thôi...

Qua bận ấy, rồi tiếp đến nhiều bận khác con phải trốn tránh không dám về nhà. Mà lần nào con cũng chỉ lấy nhà thờ làm nơi nương náu. Của ăn cho thân xác con là những khúc sáp vụn trên bàn thờ. Và chờ những lúc vắng người, con ra đầu đình nhặn nhạnh những lá gói bánh, hoặc vỏ ốc, để thừa hưởng những chút dư còn vương lại...


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com