XIN GIỮ LẤY SÔNG NƯỚC QUÊ HƯƠNG Quang Việt
Thế giới ai cũng biết rằng trên đất liền 91% tài nguyên thiên nhiên đã bị khai thác. Người ta xô nhau xuống biển để tìm mọi tích trữ trù phú trong đó. Trung Quốc muốn chiếm vùng biển đông của Việt Nam vì vấn đề bành trướng chiến lược. Nhưng họ cũng được các nhà địa chất cho biết đó là một vùng chứa đầy dầu và khí đốt, có thể lấy ra được 105 tỉ thùng dầu thô. Thực tế cho thấy với việc chia lại lãnh hải vịnh Bắc Việt với Trung Quốc chúng ta đã mất mát khá nhiều. Vấn đề nước ngọt đang là quan tâm lớn của thế giới nhưng liệu nhà cầm quyền CSVN đã lưu ý đến việc này chưa? I. Tình Trạng "Nước" Trên Thế Giới Từ thập niên 1980 và nhất là thập niên 1990, các nhà chiến lược Hoa Kỳ nói nhiều về vấn đề khan hiếm nước trên thế giới. Theo bản nghiên cứu của Nhóm Tearfund chuyên về sự phát triển có trụ sở đặt tại Luân Ðôn (Anh quốc) vào ngày 23/3/2001, cho biết: Thế giới bị khủng hoảng nước rất trầm trọng. Ðến năm 2025 thì cứ 3 người dân thì có 2 người thiếu nước dùng. Bản tin được tung ra đúng vào "Ngày Nước của Thế Giới" với tiêu đề "Running on Empty" (tạm dịch là Chảy Cạn Kiệt). Mức tiêu thụ nước trên thế giới đã tăng lên 6 lần từ 1990 đến 1995, hơn gấp đôi đà tăng dân số. Bản báo cáo cho biết nhiều khu vực vẫn phát triển thịnh vượng, có thể đối phó với nạn khan hiếm nước này nhờ sự quản lý hữu hiệu nguồn cung cấp nước. Ngược lại, những xứ nghèo hơn sẽ bị nguy cơ thiếu hụt trầm trọng. Cơn khủng hoảng về sự khan hiếm nước này cấp bách đến độ Tearfund cho biết thế giới sẽ phải chứng kiến một hiện tượng mới: Những người tị nạn nước. Hằng triệu ngườisẽ phải rời bỏ quê hương để tìm nước sạch mà sống. Ðây là những vùng rất gần "ngày khủng hoảng": Khu Dehli của Ấn Ðộ, nơi được tiên báo mạch nước ngầm sẽ cạn vào năm 2015; hồ Chad bên Phi châu, nơi mực nước đã xuống đến 95% trong 38 năm qua vì phải nuôi đến 20 triệu dân trong 6 quốc gia chung quanh; Trung Hoa với sông Hoàng Hà đã cạn. Bà Joanne Green trong Nhóm Teafund nói rằng: "Không có nước thì cả xã hội, cả dân chúng đều chết. Ngày nay chúng ta đang đứng trên bờ vực. Với cuộc khủng hoảng nước, hằng tỉ người sẽ phải bồng bế nhau đi tìm nguồn nước sống." Theo Hãng thông tấn Reuter hôm 23/03/2001, Cơ quan Y tế Thế giới (World Health Organization) trong tuần đó cũng cho biết rằng hơn 1 tỉ người hiện đang trong tình trạng không có nước hợp vệ sinh mà dùng khiến cho hằng năm có 3.4 triệu người chết vì bệnh tiêu hoá. Chỉ cần có nước sạch dùng thì họ đã không bị tiêu vong. Ngày 13/8/2001, theo báo cáo của Hội nghị về Nước của Thế giới thứ 3 do Liên Hiệp Quốc bảo trợ tại Stockholm thì tình hình cũng rất nguy kịch: Ðến năm 2025, cứ 3 người dân thì 1 người bị đe doạ thiếu nước. Nhiều cuộc xung đột sẽ xảy ra vì vấn đề nước. Bản báo cáo còn cho biết 450 triệu người trong 29 quốc gia đã bị ảnh hưởng nặng nề vì nạn thiếu nước mà Châu Á và vùng Nam sa mạch Sahara chịu hậu quả nghiêm trọng nhất. Cũng như báo cáo của Nhóm Tearfund, bản báo cáo của Hội nghị Thế giới về Nước lần thứ 3 cũng đề cập đến vùng Trung Ðông, Ấn Ðộ, Pakistan và Trung Hoa sẽ là nơi thiếu nước trầm trọng nếu các nhóm đối đầu (nhóm bảo vệ môi sinh chống nhóm khoa học nghiên cứu ngành nông nghiệp) không thoả thuận với nhau về cách thức kiềm chế việc sử dụng nước. Trong khi các nhà nghiên cứu nông nghiệp chủ trương cần phải tăng dẫn thủy nhập điền lên từ 15 đến 20% trong 25 năm tới để bảo đảm có đủ lương thực cho loài người, nhóm bảo vệ môi sinh lại đòi phải bớt sử dụng nước 10% để bảo vệ các nguồn nước sông hồ, vùng đất thấp nơi mà hàng triệu người dân dựa vào để có nguồn sinh sống. II. Tình Trạng Nước Tại Việt Nam: Hệ Thống Mêkông và Hồng Hà
1) Hệ thống sông Cửu Long (Mêkông): Năm 1994, nhà thám hiểm người Pháp, ông Michel Peissel, mới xác định rõ nơi phát xuất của con sông. Từ vùng sình lầy trên cao nguyên Tây Tạng gọi là đèo Rupsa cao 5000 mét đổ xuống tỉnh Qurghai gọi là sông Dzachu. Khi con sông nhận thêm nước từ phụ lưu Ngom Qu cũng thuộc Tây Tạng thì được gọi là sông Lancang, chảy vào tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, với nhiều hẻm sâu và gềnh thác. Sau khi rời Vân Nam, con sông chia đôi ranh giới giữa Miến Ðiện và Lào. Từ Lào, sông này đổ xuống phân ra ranh giới giữa Thái Lan và Lào. Người Thái gọi sông này là Mae Nam Không. Khi sông chạy vào Kamphuchia nằm dưới nước Lào, vào mùa khô nhận nước từ Biển Hồ của xứ này và mùa mưa nước tràn vào biển này trở lại. Ðó là hồ chứa thiên nhiên cân bằng mực nước cho vùng hạ lưu gồm vùng Ðông Nam Kampuchia và Nam Việt Nam. Trong vùng hạ lưu, sông Cửu Long là một bà mẹ vắt sữa nuôi hết đoàn con dân Việt. Ðây là vựa lúa lớn nhất miền Ðông Nam Á với diện tích là 192,250 km2. Trước năm 1945, vùng Cửu Long này sản xuất lúa gạo nhiều nhất thế giới. Nhờ lớp phù sa hằng năm được chuyển tới do nước lũ từ thượng nguồn kéo về, đồng ruộng miền Nam không cần phân bón và khắp vùng từ cửa Tiền giang đến xuống mũi Cà Mau mỗi năm bồi đất bồi thêm được hơn 100m, nhích hơn lượng bồi đắp của sông Hồng Hà ngoài Bắc. Lưu lượng của sông Cửu Long rất lớn nên khi đổ ra biển để chia ra nhiều nhánh làm thành một hệ thống kinh rạch cộng thêm với hệ thống kênh đào khắp nơi khiến việc di chuyển dễ dàng và thuận tiện. Riêng dòng sông chính Cửu Long, tàu trọng tải lớn có thể di chuyển trên 550 km với cảng chính là Nam Vang. Các nhà nghiên cứu về thủy sản cho biết sông Cửu Long sản xuất mỗi năm hằng tỉ Mỹ kim thủy sản nuôi sống dân làng dọc theo dòng sông về vùng Biển Ðông do những phôi sinh vật được nước sông nuôi dưỡng và chuyên chở làm mồi cho cá. Tại vùng thác Khone phía Nam Lào, sông Cửu Long đổ thấp xuống 22 m với đoạn thác dài 9.7 km. Năm 1957, Liên Hiệp Quốc thành lập Mekong Scheme (tạm dịch là Dự án sông Mêkông) để giúp các xứ liên hệ phát triển dòng sông này, đó là Thái Lan, Cam bốt, Lào, và Nam Việt Nam. Dự án này bao gồm việc xây dựng ngành đánh cá, liên quốc lộ Ðông Dương và nhà máy thủy điện cho toàn vùng. Tuy nhiên từ năm 1960, châu thổ sông Cửu Long thành bãi chiến trường đẫm máu nên mọi dự tính đều bị bãi bỏ. Năm 1995, Liên Hiệp Qước lại mời các nước liên hệ, gồm cả Trung Quốc và Miến Ðiện, đến tham dự vào tổ chức gọi là "Ủy ban Sông Mêkông" (Mekong River Commission). Tuy nhiên chỉ có Việt Nam, Kampuchia, Lào và Thái Lan tham dự. Theo tin của Nhóm Mekong Forum (Diễn đàn Mekong) thì đến năm 1996 đã có dự án xây 54 đập thủy điện trên sông này. Tại tỉnh Vân Nam, nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc đã hoàn thành nhà máy thủy điện Manwan và sản xuất điện vào năm 1993. Họ dự định xây thêm 15 công trình thủy điện nữa. Thái Lan cũng đã hoàn thành nhà máy thủy điện Pak Mun năm 1994, và có dự tính đào sông dẫn nước sông Mêkông vào vùng đông bắc nước này khiến lượng nước sông thay đổi trầm trọng. Họ bị Việt Nam và các nước trong Ủy ban Sông Mêkông phản đối nên kế hoạch này bị hủy bỏ. Chúng ta biết rằng lưu vực sông Mêkông rộng 794,526 km2. Riêng Việt Nam, chỉ có 70,520 km2. Như vậy lượng nước từ sông Mêkông đến Việt Nam là 452.8 tỉ mét khối. Trong khi đó lượng nước do mưa trong nội địa Việt Nam chỉ có 55.1 tỉ mét khối mỗi năm mà thôi. Vì thế, tất cả những thay đổi lượng nước và sinh thái trên dòng sông Mêkông đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng trên đời sống người dân Việt. 2) Hệ thống sông Hồng Hà: Sông Hồng Hà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam có tên Yaunchang dài 1175 km, chảy qua nhiều ghềnh thác. Khi và Việt Nam, dòng sông tương đối bằng phẳng, nhất là từ Việt Trì ra biển. Phần lớn chiều dài của sông Hồng nằm trong lãnh thổ Trung Hoa nhưng vùng đất có liên hệ đến dòng sông tại đây là 82,300 km2. Khi sông đổ vào Việt Nam, lượng phù sa do nước chuyên chở bị sóng biển và thủy triều giữ lại làm thành một đồng bằng trù phú có diện tích 61,400 km2 và hằng năm còn bồi thêm cho cánh đồng miền Bắc Việt chạy từ Hải Phòng xuống đến Thánh Hoá 100 m lấn ra biển nữa. Người ta tính rằng chiều ngang dọc theo bờ biển của lưu vực sông Hồng cũng bằng chiều dài tính từ Việt Trì xuống là 120 km. Vậy ta sẽ được thêm 12 km2 đất bồi mỗi năm vào cho cánh đồng cánh đồng miền Bắc. Từ khi tình trạng hâm nóng địa cầu (global warming) xảy ra, khí hậu thay đổi tạo nên nhiều cảnh lụt lội và hạn hán. Hai nhà máy thủy điện Hoà Bình (1920 megawatt) và Thác Bà (108 megawatt) dự trù cung cấp 40% điện lực cho miền Bắc nhưng hạn hán xảy ra thường xuyên trong thập niên vừa qua làm tốn phí rất nhiều công quỹ. Riêng mùa hè 1997, miền Bắc thiếu mưa, nhà nước phải chuyển từ trong Nam ra mỗi ngày 4 triệu kilowatt. Tuy nhiên điều quan trọng là nhà cầm quyền phải biết tiên liệu và giải quyết những khó khăn khi sự việc xảy ra. III. Trách Nhiệm Nhà Cầm Quyền: Ðọc các tài liệu về kế hoạch bảo tồn môi sinh của Nhà nước CSVN, chúng ta thấy vấn đề nào cũng được đề cập với những dự trù qui mô. 1) Vấn đề phá rừng: Theo tài liệu người Pháp để lại năm 1943, 60% đất đai của ta là rừng cây bao phủ. Ðến năm 1993, tức 50 năm sau, diện tích cây rừng chỉ còn 26% và được biết vùng cao miền Bắc, rừng chỉ còn dưới 20%. Báo cáo Nhà nước CSVN khoe rằng từ năm 1991, nạn phá rừng đã giảm bớt vì đã trồng cây rừng được 130,000 mẫu bù vào 110,000 mẫu bị phá mỗi năm. Nhưng báo cáo cũng công nhận rằng tới năm 1991 có tới 24.3 triệu người dân (30% dân số Việt Nam) sống gần rừng thường chặt cây làm củi và khai thác các lâm sản khác để sinh sống: măng tre, cây trái rừng, mật ong, lá thuốc... Ðiều tai hại nhất là việc khai thác cây rừng không kiểm soát được. Trong năm 1994, người ta tính ra có khoảng 1900 nhà khai thác cây rừng thì chỉ có 75% trong số này là có giấy phép hoạt động. Gỗ quý của Việt Nam được xuất cảng, nhất là qua Nhật, càng làm cho việc đốn cây lậu gia tăng. Ngoài ra 70% dụng cụ cắt xẻ đã lỗi thời khiến cho sự phí phạm cây rừng càng trầm trọng hơn. Tại đồng bằng sông Hồng, việc phá rừng gây nhiều hiểm hoạ: Người miền cao thiếu vật liệu làm nhà, sưởi ấm, và không có gì để bán nên thành nghèo đói hơn. Rừng trụi cây tạo ra nạn nước lũ tràn về làm lụt lội bất thường và xoi mòn đất làm mất màu mỡ. Thời gian gần đây, miền Trung năm nào cũng lụt lớn, trôi cả nhà cửa, người và vật. Tại đâu? Phải chăng rừng cây đã bị chặt hết mà vẫn báo cáo số lượng cây rừng được trồng trội hơn khu vực bị phá! 2) Sự phát triển thiếu kế hoạch: Trên đồng bằng sông Cửu Long, năm 2000 lụt lớn, rồi năm 2001 cũng lụt lớn. Người Việt hải ngoại có cảm tưởng nhà cầm quyền CSVN muốn dùng nạn lụt để bắt người dân mình làm con tin, lấy tiền cứu trợ. Trong một buổi phát thanh kỳ lụt vừa qua tại Hồng Ngự, phóng viên Ðài Phát thanh Anh BBC hỏi nhà cầm quyền địa phương có kế hoạch phát triển kh6ng mà lại đem đắp đường ngăn dòng nước chảy khiến cho dân phải chịu cảnh lụt lội, đại diện nhà cầm quyền trả lời là phải đưa ra kế hoạch để sống trước đã. Kế hoạch của những người thiếu lý trí mà đem ra thi hành; trung ương hay miền đều không cần để ý tới kế hoạch lâu dài thì làm sao người dân sống nổi? Trong những năm đầu sau ngày CS cưỡng chiếm miền Nam, Thành ủy CS Sài Gòn hãnh diện với nông trường Lê Minh Xuân. Họ đào đất lên để cho nước phèn nổi lên theo, thật tai hại! Tại miền Bắc, nhiều khúc sông được đào lên rồi lấp lại chỉ vì không có kế hoạch và thiếu sự hiểu biết. Thời kỳ rừng rú cai trị thành thị đã qua rồi. Nhà cầm quyền CSVN không còn được quyền nói: "Thất bại, ta rút kinh nghiệm để lần sau đạt yêu cầu cao hơn" (!) Sự liêm sỉ tối thiểu mà người Việt Nam biết tự trọng phải giữ, đó là "Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe." Số tới: "Nước Sông Việt Nam Và Việc Ðối Phó Với Các Nước Lân Bang" Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |