Deal Hudson 1. Linh mục Công Giáo có khuynh hướng thích tình dục với trẻ em hơn các nhóm đàn ông khác. Chứng thích tình dục với trẻ em (pedophilia) là một sự rối loạn về ám ảnh tính dục trong đó một người lớn (đàn ông hay phụ nữ) lạm dụng trẻ em trước tuổi dậy thì. Ða số các vụ tai tiếng về lạm dụng tính dục của một số giáo sĩ không có liên quan đến chứng thích tình dục với trẻ em trước tuổi dậy thì. Trái lại, các vụ tai tiếng này có liên can đến chứng bệnh gọi là thích đồng tính với thiếu niên (ephebophilia). Trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay trong Giáo Hội, những tôn giáo khác và các cơ chế ngoài tôn giáo cũng thừa nhận đã có các vấn đề tương tự với việc một số giáo sĩ rơi vào trong hai trường hợp thích tình dục với trẻ em trước tuổi dậy thì hay thích tình dục với thiếu niên. 2. Tình trạng độc thân của linh mục dẫn đến bệnh thích tình dục với trẻ em. Ðộc thân không phải là nguyên nhân gây ra các chứng bệnh rối loạn lệch lạc về tính dục. Thực ra, người đàn ông có gia đình cũng lạm dụng tính dục trẻ em như một thiểu số linh mục độc thân khác. Nói chung trong dân, đa số những người lạm dụng tính dục các em gái là từ đàn ông, mặc dầu vẫn có phụ nữ nữa. Những kẻ lạm dụng tính dục trẻ em không phải là do hậu quả của việc tiết dục, độc thân rồi trở nên ám ảnh tính dục với con nít. 3. Linh mục có vợ sẽ khiến không còn có các hành vi thích tình dục với trẻ em hay những hành vi tình dục xấu xa. Một số người, kể cả một vài người Công Giáo chống đối, đang khai thác cơn khủng hoảng Giáo Hội Hoa Kỳ đang gặp phải để lôi kéo sự chú ý của mọi người đến chương trình hành động riêng của họ. Vài người đòi hỏi rằng một hàng giáo sĩ Công Giáo có vợ là câu trả lời cho sự tai tiếng hiện nay, như thể hôn nhân chặn đứng việc người mắc chứng thích tình dục trẻ em khỏi hãm hại chúng. Ðiều này đã từng được ghi trong nghiên cứu của tác giả Jenkins cho thấy đàn ông dị tính luyến ái (heterosexual) có vợ cũng lạm dụng trẻ em như thường. Vì không phải độc thân dẫn đến chứng thích tình dục với trẻ em, việc một linh mục có vợ không giải quyết vấn đề gì cả. Người ta chỉ cần nhìn đến các cơn khủng hoảng tương tự nơi các hệ phái tôn giáo và chức nghiệp khác là thấy rõ. Sự kiện rõ ràng là những người đàn ông dị tính luyến ái (heterosexual) lành mạnh không bao giờ phát triển chứng gợi tình thích con nít như là hậu quả của việc kiêng dục. 4. Ðộc thân linh mục là một phát kiến thời Trung Cổ. Sai. Trong Giáo hội Công Giáo Tây phương, độc thân được thực hành phổ biến vào thế kỷ thứ 4, bắt đầu với việc Thánh Augustinô chấp nhận kỷ luật đan viện cho các linh mục của mình. Thêm vào những lý do thực tế cho việc độc thân linh mục như ngăn cản nạn gia đình trị nếu linh mục có vợ con, lối sống độc thân cho phép người linh mục trở nên độc lập và sẵn sàng hơn với công việc mục vụ của mình. Giáo hội đã không thay đổi đường hướng về việc độc thân linh mục bởi vì qua bao thế kỷ đã nhận ra giá trị của việc này về mặt thực tế cũng như mặt thiêng liêng (Ðức Thánh Cha Phaolô VI, Thông điệp "Về Ðộc Thân Linh Mục" năm 1967). Ngay cả khi Giáo hội Công Giáo Ðông phương cho phép linh mục có vợ, giám mục chỉ được chọn trong hàng ngũ linh mục độc thân mà thôi. Ðức Kitô đã cho thấy giá trị và ý nghĩa thật sự của đời sống độc thân. Các linh mục Công Giáo từ thời Thánh Phaolô cho đến nay đã bắt chước Chúa Giêsu hiến dâng trọn vẹn chính mình cho Thiên Chúa và tha nhân như những người độc thân. Mặc dầu Chúa đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích để mạc khải tình yêu và sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, Ngài cũng là một chứng tá sống động về sự sống thế giới mai sau. Linh mục độc thân là một chứng tá sống động cho về cuộc sống hôm nay trong đó sự kết hợp và niềm vui của hôn nhân giữa người nam và người nữ sẽ bị bao phủ bởi một sự hiệp thông yêu thương tuyệt đối với Thiên Chúa mà thôi. Nếu sự độc thân được hiểu cho rõ và sống cho đúng sẽ giải thoát con người để họ biết yêu thương và phục vụ người khác như Chúa Kitô đã làm. 5. Phụ nữ làm linh mục giúp giải quyết vấn đề lạm dụng tính dục trẻ em Việc đòi hỏi truyền chức linh mục cho phụ nữ chẳng giải quyết gì cả vì nó hoàn toàn không liên quan đến vấn đề chứng thích tình dục với trẻ em và các hành vi sai trái về tính dục khác. 6. Ðồng tính luyến ái không có liên quan gì đến chứng thích tính dục với trẻ em. Ðiều này sai rõ ràng. Những người đàn ông đồng tính luyến ái có nguy cơ thích tình dục với trẻ em cao gấp ba lần so với những người đàn ông dị tính luyến ái. Mặc dầu chứng thích tình dục với trẻ em dưới tuổi dậy thì (pedophilia) thật sự là một trường hợp hiếm hoi, một phần ba đàn ông đồng tính luyến ái ưa thích các em thiếu niên trai. Hành vi lệch lạc này là hình thức tiêu biểu của nạn lạm dụng tính dục trẻ em nơi một thiểu số linh mục và có liên hệ trực tiếp với hành vi đồng tính luyến ái. Như tác giả Michael Rose trình bày trong cuốn sách "Tạm biệt những người đàn ông tốt lành!" (Goodbye! Good Men), Giáo hội Hoa Kỳ bị ảnh hưởng bởi một nền văn hoá chấp nhận tình trạng đồng tính luyến ái. Sự hoang mang phát sinh từ cuộc cách mạng tính dục vào những năm 1960, cuộc biến chuyển theo sau Công Ðồng Vatican II, và việc chấp nhận hành vi đồng tính luyến ái trong xã hội nói chung tạo ra một môi trường trong đó có những người đồng tính luyến ái được chấp nhận và dung thứ trong hàng ngũ linh mục. Giáo hội Hoa Kỳ cũng dựa càng ngày càng nhiều vào các bác sĩ tâm lý để sàng lọc ứng viên linh mục và chữa trị những linh mục có vấn đề tâm lý. Mặc dầu, khoa học tâm lý có thể giúp cho chương trình đào tạo các linh mục, câu hỏi làliệu những nhà tâm lý được Giáo hội nhờ đến có nhãn quan đạo đức và luân lý của Hội Thánh hay không hoặc chỉ thuần chạy theo kỹ thuật tâm lý của một xã hội luôn luôn thay đổi. Chẳng hạn vào năm 1973, Hội Tâm Lý Hoa Kỳ (American Psychological Association) thay đổi lại cách xếp loại đồng tính luyến ái, không còn coi đó là một khuynh hướng rối loạn khách quan về mặt tâm lý và đã không còn xem đó là một chứng bệnh tâm lý trong Thủ Bản Chẩn Ðoán và Thống Kê IV của Hội nữa. Trong khi Giáo Hội đối xử với những ai mắc phải
khuynh hướng đồng tính luyến ái với lòng thương cảm,
giáo huấn của Giáo Hội rất rõ ràng và không đổi:
Ðồng tính luyến ái là một sự rối loạn khách quan về
mặt tâm lý và hoạt động tính dục chỉ có ý nghĩa
đúng đắn trong một quan hệ hôn nhân giữa một người
nam và một người nữ mà thôi. 7. Hàng Giáo phẩm Công Giáo Hoa Kỳ không làm gì hết đối với chứng thích tình dục với trẻ em. Trong khi chúng ta có thể đồng ý là hàng giáo phẩm Hoa Kỳ chưa làm đủ, việc cho rằng Giáo hội Hoa Kỳ không có làm gì cả về vấn đề này là sai. Khi Bộ Giáo luật mới được đưa ra năm 1983, một đoạn quan trọng được đưa vào: "Giáo sĩ vi phạm cách nào khác đến giới răn thứ sáu, nếu đã phạm tội bằng bạo hành, hay ngăm đe, hoặc cách công khai hoặc với một vị thành niên dưới mười sáu tuổi, sẽ bị phạt những hình phạt xứng đáng, kể cả sự khai trừ khỏi hàng giáo sỉ, nếu hoàn cảnh đòi hỏi" (Giáo Luật điều 1395, đoạn 2). Nhưng đấy không phải là điều duy nhất Giáo hội đã làm. Các giám mục, bắt đầu với Ðức Thánh Cha Phaolô VI vào năm 1967, đã đưa ra lời cảnh báo về những hậu quả tiêu cực của cuộc cách mạng tính dục. Thông điệp "Về Sự Ðộc Thân Linh Mục" năm 1967 của Ðức Phaolô VI, đã nhắm về vấn đề linh mục độc thân trong một nền văn hóa kêu gào có "tự do" tính dục nhiều hơn. Ðức Thánh Cha đã khẳng định độc thân khi ngài kêu gọi các giám mục đảm nhận trách nhiệm đối với "những linh mục bị khó khăn gây nguy hại trầm trọng đến tặng phẩm [độc thân] Thiên Chúa ban cho họ." Ngài khuyên các giám mục hãy tìm kiếm sự giúp đỡ thích hợp đối với những linh mục này, hay, trong trường hợp nghiêm trọng, hãy xin hồi tục cho những linh mục nào không thể giúp đỡ nổi. Thêm vào đó, ÐTC khuyến giục các giám mục hãy nên cẩn trọng hơn nữa trong việc xét cho chịu chức linh mục của các ứng viên. Năm 1975, Giáo hội đã đưa ra một tài liệu mang tên là "Tuyên bố về vài Vấn đề liên quan đến Ðạo đức Tính dục" do Ðức Hồng y Joseph Ratizinger viết ra, trong đó nêu lên rất rõ vấn đề đồng tính luyến ái của một số linh mục. Cả hai tài liệu năm 1967 của Ðức Phaolô VI và tài liệu năm 1975 của Thánh bộ Tín lý đều nêu lên các hành vi tính dục sai trái, gồm có chứng bệnh thích tình dục trẻ em chưa dậy thì (pedophilia) và chứng bệnh thích tình dục với thiếu niên (ephebophilia) đang lan tràn trong những người đồng tính luyến ái. Năm 1994, Ủy ban Ðặc biệt về Vấn đề Lạm dụng Tính dục của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã đưa ra bản hướng dẫn cho 191 giáo phận trong nước, giúp mỗi giáo phận địa phương đề ra những chính sách để đối phó vấn đề lạm dụng tính dục trẻ em. Hầu hết mọi giáo phận đều đáp ứng và đề ra chính sách riêng cho giáo phận mình. Lúc này, người ta nghĩ rằng chứng thích tình dục với trẻ em chưa dậy thì (pedophilia) là một rối loạn tâm lý không thể chữa trị được và vấn đề càng thêm trầm trọng do sự phổ biến của văn hóa khiêu dâm. Trước năm 1994, các giám mục theo lời chỉ bảo của các chuyên viên trong ngành tâm lý tin rằng bệnh này có thể chữa trị thành công. Những linh mục mắc tội lạm dụng trẻ em được gửi đi đến một trong vài trung tâm chữa trị khắp nước Mỹ. Các giám mục thường dựa vào sự đánh giá của các chuyên viên chữa trị tâm lý để xác định xem linh mục nào có thể làm được việc mục vụ. Dĩ nhiên, sự kiện này không thể phủ nhận về sự xao lãng trách nhiệm của một vài giám mục, nhưng để cho mọi người có được một cái nhìn khách quan hơn. Với những vụ tai tiếng mới đây, một số giáo phận đang lập ra các ủy ban đặc biệt về vấn đề lạm dụng trẻ em và cho biết sẽ đối phó tức thì với những lời tố cáo hợp lý về việc này. 8. Giáo huấn của Hội Thánh về luân lý tính dục chứ không phải chứng thích tình dục với trẻ em mới là vấn đề. Giáo huấn Hội Thánh về luân lý tính dục bắt nguồn từ việc tôn trọng phẩm giá con người và sự thiện hảo của tính dục con người. Giáo huấn này lên án việc lạm dụng tính dục trẻ em dưới mọi hình thức, cũng như khi lên án các tội ác tình dục ghê tởm khác như hiếp dâm, loạn luân, khiêu dâm trẻ em, và nạn mãi dâm trẻ em. Nói một cách khác, nếu con người sống theo giáo huấn Hội Thánh, sẽ không có vấn đề lạm dụng trẻ em. Ý kiến cho rằng giáo huấn của Hội Thánh về luân lý tính dục dẫn đến tình trạng thích tình dục với trẻ em dựa trên sự hiểu lầm hay cố tình xuyên tạc. Giáo Hội nhìn nhận rằng hoạt động tính dục mà không có tình yêu và sự cam kết nơi đời sống hôn nhân hủy hoại nhân phẩm con người. Về vấn đề độc thân, nhiều thế kỷ qua chứng tỏ rằng con người có thể tiết dục mà vẫn sống cuộc đời lành mạnh và có ý nghĩa. 9. Yêu cầu độc thân hạn chế con số ứng viên linh mục và vì thế dẫn đến việc nhiều linh mục có đời sống tính dục mất quân bình. Trước hết, không có "nhiều linh mục có đời sống tính dục mất quân bình." Ða số linh mục có cuộc sống bình thường, mạnh khoẻ, và trung tín. Hằng ngày họ chứng tỏ sự đáng tin cậy của những ai được trao phó cho họ. Ngoài ra, những ai không cảm thấy có ơn gọi sống đời độc thân thì thực tế là không có ơn gọi linh mục Công Giáo. Thực vậy, đa số giới nam không được gọi sống đời linh mục. Tuy nhiên, một số được Chúa gọi làm linh mục. Như ơn gọi hôn nhân, ơn gọi linh mục đòi hỏi sự ưng thuận tự do của cả hai bên. Do đó, Giáo Hội phải phân biện có phải một ứng viên có xứng đáng về mặt tâm thần, thể lý, và tâm linh để cam kết sống đời phục vụ linh mục hay không. Một người có ước muốn làm linh mục không có nghĩa là người đó có ơn gọi linh mục. (Theo Tạp chí Crisis) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |