TRÒ CHUYỆN VỚI Vũ Sinh Hiên (Cao Học CTKD - Việt Nam) Nhân Ðại Hội Ðức Mẹ La Vang 8-1999, tôi hỏi ý Ðức Tổng Giám Mục Huế Nguyễn Như Thể về việc này, ngài hoan hỉ đồng tình. Ngài khuyến khích tôi bắt tay ngay vào việc. Ngài hứa là khi có dịp thuận tiện, chính ngài cũng sẽ làm "công tác tư tưởng" với cha Nguyễn Văn Lập. Vốn xuất thân từ giáo phận Huế, cha Simon Nguyễn Văn Lập công tác mục vụ tại Sài Gòn từ 1975 (và nhiều năm trước đó), nhưng vẫn tự nhận là "tiền trạm" của Huế, giọng Quảng Trị y nguyên, lòng dạ lúc nào cũng hướng về Ðức Mẹ La Vang và tiếp tay với giáo phận Huế trên từng cây số. Về Sài Gòn, tôi gặp cha và đưa đề nghị. Cha trầm ngâm rồi bảo để cha suy nghĩ. Tôi đã phải chờ đợi gần một năm trời. Ðược cha đồng ý, tôi đệ trình cho cha một đề cương về các chương mục của cuốn hồi ký. Tôi còn viết thêm: "Kính thưa cha, con xin thêm đôi điều: 1. Bởi cha đã gắn liền sự nghiệp đời cha với đất nước và Hội Thánh Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử nhất định, tên tuổi cha được nhiều người biết đến, xin cha đừng ngần ngại nhắc tới những nhân vật Ðạo, Ðời mà cha đã gặp trên bước đường công tác, phê phán thẳng thắn, khen chê trung thực. Những nhận định của cha sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến những người viết sử sau này. 2. Xin cha vui lòng trao cho con những thư từ, bản thảo, tài liệu sách báo liên quan đến những vấn đề được cha đề cập tới. 3. Con sẽ bổ túc những chi tiết, chẳng hạn những năm tháng, sự kiện chỉ còn lờ mờ trong bộ nhớ của cha. 4. Phần con, con sẽ ghi chép lại với tất cả tâm tình của một công dân yêu mến Quê Hương Việt Nam, một tín hữu thiết tha với Hội Thánh, một sinh viên Viện Ðại Học Ðà Lạt luôn quý mến cha Viện Trưởng." Cha Nguyễn Văn Lập đề nghị ngược lại với tôi phương thức làm việc: ngài không viết, cũng không một mình nói vào máy ghi âm để tôi biên tập sau đó. Ngài yêu cầu tôi gợi chuyện, trao đổi với ngài, nhân đó ngài hồi tưởng các sự việc, các nhân vật. Thế là có cuộc trò chuyện mỗi sáng thứ Năm giữa cha và con, với chiếc máy ghi âm trên bàn. Trong tổng thể, tôi ngỡ ngàng về trí nhớ minh mẫn của ông cụ ngoài 90 tuổi, tuy rằng đôi chỗ, đôi nơi, tên người, tên việc thì người học trò ngoài 60 phải điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa. Tôi bật máy ghi âm, nghe lại giọng nói của cha Viện Trưởng, ghi lại đây những điều liên quan đến quãng thời gian cha đảm trách chức vụ Viện Trưởng Viện Ðại Học Ðà Lạt, để hầu chuyện Thụ Nhân đồng môn và bạn đọc muôn phương, nhân giỗ 100 ngày của cha Simon Nguyễn Văn Lập. "Tôi đang làm Giám Ðốc Công Giáo Tiến Hành Việt Nam thì được Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam (lúc bấy giờ được hiểu là miền Nam Việt Nam - VSH) mời về làm Viện Trưởng Viện Ðại Học Ðà Lạt. Ðức Cha Ngô Ðình Thục loan tin này cho tôi. Ngài đã báo cáo với La Mã và đã được Thánh Bộ Truyền Giáo chấp thuận. Ðức Cha Thục là niên trưởng Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, đứng tên Viện Trưởng và chịu trách nhiệm về Viện Ðại Học Ðà Lạt. Cha Giuse Trần Văn Thiện (Giám Mục giáo phận Mỹ Tho 1960-1989 - VSH) khi đó chỉ là Giám Ðốc Học xá Sinh viên, nhưng vì Viện Trưởng không thường xuyên có mặt ở Ðà Lạt nên ngài đã điều hành mọi công việc của Viện và do vậy nhiều người đã lầm tưởng cha Thiện là Viện Trưởng. Trong tư thế như vậy của Ðức Cha Thục, chắc chắn đề nghị này là do ngài đề xướng và các giám mục khác cũng đồng ý theo. Tôi không loại bỏ khả năng ý kiến này cũng được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đồng ý, bởi nếu Tổng Thống không đồng ý thì cũng khó lòng. Tôi được Chúa ban cho khả năng quen biết nhiều, nhưng không hề theo một ai vì ý hướng chính trị. Riêng với gia đình họ Ngô, Ðức Cha Thục luôn đối xử với tôi trong tình cha con. Các thành viên khác trong gia đình họ Ngô luôn kính trọng và quý mến tôi. Tôi tự biết tôi không phải là người làm chính trị, tôi ở ngoài chính trị. Tôi giữ những liên lạc về tình cảm với các nhân vật nhà Ngô, không khi nào can dự vào công việc của ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, nhưng họ vẫn tin và quý mến tôi. Ông Diệm quý mến tôi lắm, nhưng không bao giờ tôi để ông vào trong Viện Ðại Học Ðà Lạt. Có một lần duy nhất ông Diệm nói với tôi: "Cha về cha nói với ông Thị Trưởng Ðà Lạt - khi đó là ông Trần Văn Phước - là khi nào tiện tôi lên Ðà Lạt, ông thị trưởng sắp xếp chương trình sao cho tôi có dịp vào thăm Viện của cha." Tôi nói: "Thưa cụ, còn nhiều nơi cần được cụ thăm viếng, cụ không cần phải đến Viện tôi. Viện tôi, cụ để tôi liệu." Có lần Tổng Thống tới, tôi ra ngoài cổng Viện Ðại Học đón ngài, ngay chỗ sân Cù, nói chuyện một chập rồi Tổng Thống đi. Ông Ngô Ðình Nhu thì yêu cầu để ông tới Viện Ðại Học Ðà Lạt nói chuyện với sinh viên về ấp chiến lược, tôi trả lời: "Ông Cố vấn nên đi nói chuyện ở những nơi khác cần hơn, "ấp chiến lược" của tôi để tôi liệu lấy." (Ấy vậy mà anh Uông Ðại Bằng, sinh viên Triết khóa 2 của Viện cho biết, có những sinh viên bị thuyên chuyển về tỉnh lẻ, chỉ có 1 hoặc 2 lớp 12, tức là lớp có giảng dạy môn Triết học, không đủ giờ dạy theo quy định, đã phải dạy môn Công dân Giáo dục, trong đó có các bài về thuyết Nhân Vị, về ấp chiến lược. Lời từ chối của cha Viện Trưởng quả là khéo léo và can đảm - VSH). Một lần duy nhất ông Nhu vào trong Viện, đó là nhân dịp lễ mừng 25 năm Giám Mục của Ðức Cha Ngô Ðình Thục (5-1963). Hôm trước ngày lễ, bà Nhu có mời một số đại sứ đi picnic ở vùng rừng giữa Ðà Lạt và Buôn Mê Thuột, trong đó có cái thác rất đẹp là thác Dankia, trong đoàn có cả Ðức Khâm Sứ Tòa Thánh Asta và Ðức Cha Ngô Ðình Thục. Bà Nhu có nói với Ðức Cha là bà không được mời dự lễ ngày mai. Ðức Cha trả lời rằng chính Ðức Cha cũng chỉ là khách mời, chủ nhà là cha Viện Trưởng. Ðang khi buổi lễ được tổ chức, có sự hiện diện của ông Nhu và người con trai, bà Nhu sai người cầm một mảnh giấy sang trao cho ông Nhu, trong đó có ghi mấy chữ: "Tôi qua có được không?." Ông Nhu viết lại: "Không." Như vậy là Tổng Thống Diệm và bà Nhu chưa hề đặt chân vào khuôn viên Viện Ðại Học Ðà Lạt. Trên Ðà Lạt có nhiều vị xứng đáng hơn tôi để giữ chức Viện Trưởng, như các cha Lê Văn Lý, Hoàng Quốc Trương. Tôi hiểu là tôi sẽ phải điều khiển Viện không bằng luật pháp mà bằng tình thương. Chỉ lấy tình thương mà đối xử với sinh viên. Cho nên trong suốt thời gian tôi làm Viện Trưởng, tôi không hề phạt một anh sinh viên nào, tôi chỉ làm hết sức để giáo dục sinh viên. Về cơ sở, Viện Ðại Học Ðà Lạt vốn là trung tâm an dưỡng của sĩ quan Pháp có tên là Camp Robert. Bộ Tài Chính chính phủ Việt Nam lúc bấy giờ đã bán lại cho các Giám Mục với giá 2 triệu đồng, giấy tờ bằng khoán đầy đủ, do Ðức Cha Ngô Ðình Thục đứng tên. Tôi gửi hồ sơ giấy tờ ở Tòa Khâm Sứ và chỉ giữ một bản sao ở Viện Ðại Học. Camp Robert có hai khu, một ở gần thành phố Ðà Lạt, bên bờ hồ, phía trường Yersin, một ở phía trong rừng xa thành phố, rộng 40 ha với 40 ngôi nhà lớn nhỏ. Các Ðức Giám Mục đã mua khu thứ hai này, gia công tu sửa những ngôi nhà trong khuôn viên, xây mới nhà nguyện ở độ cao 1500m, chung quanh có phòng ốc dành cho các giáo sư cư ngụ và một phòng học rất yên tĩnh. Cùng với việc chỉnh trang là việc đặt tên cho những ngôi nhà, những con đường trong khuôn viên Viện: nguyện đường Năng Tĩnh (nhà thờ), nhà Ðôn Hóa (văn phòng Viện), Tòa Viện Trưởng Hòa Lạc, đường Tiền Giang (từ cổng dẫn lên nhà thờ), đường Hậu Giang (từ cổng xuống lưu xá sinh viên), các giảng đường Minh Thành, Ðạt Nhân, Tri Nhất, Thượng Hiền, Hội Hữu,. Trước ngày tôi lên nhận chức Viện Trưởng, Viện Ðại Học Ðà Lạt đã hoạt động được 3 niên khóa. Tôi có cha Lê Văn Lý làm phó Viện Trưởng kiêm Khoa Trưởng Văn Khoa, cha Hoàng Quốc Trương làm Khoa Trưởng Khoa Học và sư huynh Pierre Lê Văn Nghiêm làm Khoa Trưởng Sư Phạm. Ban Triết của Sư Phạm đang nhận đào tạo các giáo sư trung học sẽ dạy môn này cho lớp 12 các trường công lập. Khi tôi lên làm Viện Trưởng thì các lớp sư phạm Triết được trả về cho Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, sau khi đã gửi 3 khóa ở Viện Ðại Học Ðà Lạt. Hình như Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn tiếp tục đào tạo thêm 3 khóa nữa là đủ nhu cầu giáo sư Triết cho toàn quốc. Viện Ðại Học Ðà Lạt vẫn tiếp tục duy trì môn Triết học tại phân khoa Văn Khoa. Các giáo sư phần đông từ Sài Gòn lên, đều đặn hai tốp mỗi tuần. Tốp lên chiều Chúa Nhật sẽ dạy các ngày thứ Hai, thứ Ba và sáng thứ Tư. Trong khi tốp này ra về chiều thứ Tư thì tốp thứ hai lên để giảng dạy ngày thứ Năm, thứ Sáu và thứ Bảy để sẽ ra về ngày Chúa Nhật. Tại Sài Gòn, chúng tôi có văn phòng lo việc đưa đón các giáo sư, do anh Trương Quang Ngọc phụ trách. Anh là người gốc Huế, Công giáo, tốt nghiệp kỹ sư lâm nghiệp ở Nancy (Pháp) về. Thế nhưng, nếu Viện Ðại Học Ðà Lạt chỉ có các phân khoa như tôi vừa kể thì các sinh viên sẽ chẳng dại gì lên Ðà Lạt theo học, vừa xa nhà, vừa tốn kém. Bản thân Viện cũng không thể cạnh tranh được với Viện Ðại Học Sài Gòn, nơi quy tụ nhiều vị giáo sư lỗi lạc, tiện đường giao thông. Tôi phải làm một cái gì mới mẻ để thu hút sinh viên. Tôi tham khảo ý kiến với anh Võ Văn Hải, tốt nghiệp chính trị học từ Pháp về và anh Trần Văn Ðỉnh, giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và nhiều vị khác nữa. (Chuyện trò với cha Lập, khi đề cập đến các vị giáo sư cũ của Viện Ðại Học Ðà Lạt, trong lúc người viết vẫn một điều "thầy," hai điều "thầy" thì cha Lập vẫn thân mật, gần gũi gọi các vị bằng "anh" - VSH). Tôi có ý định mở trường chính trị kinh doanh, điều mà chính phủ lúc bấy giờ cũng muốn mở nhưng còn do dự. Người Mỹ cũng muốn mở trong phạm vi Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nhưng gặp trở ngại về cơ chế. Viện Ðại Học Ðà Lạt là một đại học tư, tôi có toàn quyền quyết định nếu có đủ khả năng cần thiết (cơ sở, ban giảng huấn, tài chính, v..v.). Bắt tay vào việc một cách cụ thể, tôi cần có một người chuyên môn điều khiển trường mới này. Tôi được sự giúp đỡ của anh Trần Long, người đã từng theo học đại học Syracuse bên Mỹ về môn quản trị, nhưng khi đó đang bị động viên trong quân ngũ. Tôi xin với Bộ Quốc Phòng, quân đội sẵn sàng biệt phái anh Trần Long về giúp tôi. Anh rất giỏi, chính anh đã soạn thảo chương trình học như của các đại học Hoa Kỳ, cũng chính anh là người thành lập ban giảng huấn lúc ban đầu. Anh Võ Văn Hải thiết kế chương trình chính trị, thêm phần báo chí. Ngoài ra, còn có sự đóng góp của anh Phó Bá Long, người đã tốt nghiệp khoa quản trị đại học Harvard, Hoa Kỳ. Chương trình ban cử nhân sẽ gồm 4 năm, được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt. Năm thứ nhất là năm Nhập Môn (Freshman year), năm thứ hai: Khái Luận (Sophomore), năm thứ ba: Nhiệm Ý (Junior year), năm thứ tư: Sưu Khảo (Senior year). Lúc đầu, anh em đề nghị tên gọi của trường mới này sẽ là "Trường Chính Trị, Kinh Tế và Quản Trị Xí Nghiệp," để làm vừa lòng cả hai khuynh hướng, một là chính trị từ Pháp về, một là quản trị xí nghiệp từ Mỹ về. Chúng tôi gặp ngay một trở ngại tế nhị: ông Bộ Trưởng Giáo Dục lúc bấy giờ là Bùi Tường Huân, một người có khuynh hướng thân Phật Giáo. Ông Bộ Trưởng không đồng ý vì nghi là tôi dạy chính trị, ắt sẽ dạy về thuyết Nhân Vị của Ðệ Nhất Cộng Hòa và đào tạo cán bộ cho ông Ngô Ðình Nhu. Thực ra, trong hai ngành thì ngành chính trị yếu hơn, người ta thích quản trị xí nghiệp hơn. Tôi cũng không chịu hy sinh ngành chính trị để chỉ mở quản trị xí nghiệp mà thôi. Khi đó, may mắn là có anh Vũ Khắc Khoan đang giảng dạy bên Văn Khoa của Viện đứng ra làm trung gian giữa Viện Ðại Học Ðà Lạt và ông Bộ Trưởng Bùi Tường Huân để dàn xếp vụ này. Anh Vũ Khắc Khoan là anh rể ông Bộ Trưởng. (Giáo sư Vũ Khắc Khoan định cư tại Hoa Kỳ sau 1975, sáng lập và là Chủ tịch Hội Khổng Học. Giáo sư đã qua đời tại Mỹ - VSH). Tôi có cái duyên may được biết anh Vũ Khắc Khoan tại Hà Nội từ trước ngày đất nước bị chia đôi theo Hiệp Ðịnh Genève, dưới thời thủ tướng Bửu Lộc. Khi đó, tôi đang là giáo sư dạy tại trường Thiên Hựu (Huế) và là Giám Ðốc Giáo Dục của giáo phận Huế, tôi được ông Ưng Quả, người phụ trách ngành giáo dục tại Trung phần, mời tham dự khóa hội thảo về giáo dục Cao đẳng tại trường Nguyễn Trãi (Hà Nội). Một hôm, phái đoàn các tham dự viên hội thảo đi tham quan Văn Miếu. Vừa đến nơi, chúng tôi đã nghe một giọng ngâm sang sảng bài thơ "Thăng Long thành hoài cổ" của Bà Huyện Thanh Quan. Tôi bị ấn tượng và tìm hiểu người ngâm thơ, chính là anh Vũ Khắc Khoan. Lần cuối cùng, chúng tôi đổi tên thành "Trường Chính Trị Kinh Doanh" (CTKD) cho gọn gàng và được ông Bộ Trưởng Giáo Dục chấp thuận. Khóa đầu tiên được mở năm 1964, (ngày khai giảng là 13-8-1964 - VSH), với sự giúp đỡ của rất nhiều người mà phần đông không phải là người Công Giáo. Tôi rất biết ơn họ về những ý kiến, những khích lệ tôi trong việc mở trường CTKD. Tôi dự đoán là chừng 4 năm sau đó, cuộc chiến sẽ kết thúc, khi đó sẽ có một lớp sinh viên tốt nghiệp ra phục vụ Ðất Nước. Việc mở trường CTKD được nhiều người tán thưởng. Các giáo sư phần đông tôi không được quen biết trước. Nhiều vị đang là giáo sư của Viện Ðại Học Sài Gòn, đặc biệt là Ðại Học Luật Khoa và các chính trị gia như các ông Trần Văn Tuyên, Trần Chánh Thành, Vương Văn Bắc, Vũ Quốc Thúc, các nhà kỹ nghệ như ông Ðinh Xáng, . Có những vị lên thăm quan Viện, thấy vui xin dạy và tôi mời. Ngay khóa đầu này, trường CTKD đã quy tụ được trên 1000 sinh viên (1075 sinh viên - VSH). Có một số đang học ở Sài Gòn, ở một phân khoa nào đó, bỏ ngang lên Ðà Lạt ghi danh vào trường. Có những người đã lớn tuổi và hiện nay họ đã trên dưới lục tuần, có cháu nội cháu ngoại cả rồi. Không có kỳ thi tuyển nhập học, nhưng thi ra thì rất nghiêm túc. Tôi có đề nghị với các giáo sư là nếu thấy những sinh viên nào không đủ khả năng theo học thì khuyên các em nên chấm dứt việc học tại trường để theo học ngành khác. Tôi có nhiều cơ hội để gạn lọc, Ðà Lạt lại là nơi thuận lợi cho việc học hành. Ở Sài Gòn, sinh viên đi làm đủ nghề, còn ở Ðà Lạt thì chỉ có thể làm trong kỳ nghỉ hè mà thôi, hoặc dạy học tại các tư thục, nhưng cũng không có nhiều trường tư. Tôi chỉ thị cho anh Trần Long là phải tổ chức Viện Ðại Học Ðà Lạt sao cho có thực chất và với một phong cách rất Việt Nam. Có rất nhiều người Công Giáo, kể cả một số linh mục Hoa Kỳ mà tôi quên tên rồi, đề nghị với tôi gọi Viện Ðại Học Ðà Lạt là Viện Ðại Học Công Giáo, tôi từ chối. Tôi trả lời ngay là ở Ðà Lạt không có viện đại học nào khác, tôi cho gọi Viện Ðại Học Ðà Lạt là đủ rồi. Trong trường không bao giờ dạy giáo lý. Tôi căn dặn các sinh-viên-tu-sĩ-Công-Giáo là tất cả chúng ta đều có nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng, nhưng không phải trong lớp mà là bằng cuộc sống đời thường của mỗi người: sống hết mình và làm gương tốt. Tôi còn yêu cầu các tu sĩ, nhất là những nam tu sĩ công giáo, nên mặc thường phục đi học, để tránh cảnh sáng sáng lũ lượt nhà tu từ cổng vào như một đoàn kiệu. Có một chi tiết khá vui là ở kỳ thi năm đầu tiên của đời Viện Trưởng của tôi (1962 - VSH), các linh mục và nữ tu rớt gần hết bởi chưa quen với cách học và thi cử ở trường đời. Ðiều này khác với dự đoán của các sinh viên "đời" là giới sinh viên "nhà đạo" sẽ đậu hết! Khi người Mỹ đề nghị giúp Viện và yêu cầu tôi cho biết nhu cầu ưu tiên là gì, tôi trả lời ưu tiên số một của tôi là sinh viên. Các em cần được ăn no, mặc ấm để học hành, vậy các ông cho tôi bánh mì, fromage, thịt, . để sinh viên dùng. Người Mỹ hỏi tôi có cần một ban cố vấn không, tôi trả lời dứt khoát là không. Tôi biết là bề trên của tôi và xã hội Việt Nam khi đặt tôi vào chỗ này, cũng đã hiểu được là tôi có đủ khả năng để làm tròn nhiệm vụ theo tinh thần Việt Nam mà không cần đến các cố vấn người nước ngoài. Anh người Mỹ này thuộc loại tráo trở, bởi sau khi rời Viện, anh ta gửi cho tôi một lá thư, trong đó anh ta nói là qua cuộc hội kiến với tôi tại Viện Ðại Học Ðà Lạt, anh ta được biết là tôi đang cần một ban cố vấn. Tôi trả lời ngay là anh ta phải hỏi lại người thông dịch của anh ta, bởi tôi không hề nói như vậy, trái lại tôi đã nói như thế này thế này. Sau đó, họ hoàn toàn im lặng, không hề tặng Viện Ðại Học Ðà Lạt chút gì. Thế nhưng, trong một lần tham quan Hoa Kỳ cùng với bốn vị viện trưởng khác là giáo sư Trần Quang Ðệ, Viện Trưởng Viện Ðại Học Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Thế Anh, Viện Trưởng Viện Ðại Học Huế, giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Viện Trưởng Viện Ðại Học Cần Thơ và Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Ðại Học Vạn Hạnh, ông thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Philip Habib, người từng phục vụ lâu năm ở Việt Nam trong ngành ngoại giao, đã tuyên bố là chỉ có Viện Ðại Học Ðà Lạt mới là một Viện Ðại Học thực sự, theo quan điểm của ông. Tôi tỏ ra ngại ngùng về lời nhận xét này trước mặt các vị viện trưởng khác. Tuy nhiên, giáo sư Trần Quang Ðệ quay sang nói với tôi: "Cụ đừng ngại, tôi cũng đồng ý với nhận xét này. Bởi như tôi đây, có mấy khi dành đủ 8 giờ một ngày cho công việc của Viện Ðại Học Sài Gòn đâu. Những gặp gỡ, những giao tế hàng ngày cũng chiếm mất nhiều thì giờ. Còn cụ, 24/24 giờ, cụ sống chết với Viện Ðại Học Ðà Lạt, cụ xứng đáng được đánh giá như vậy." Mà quả thật như vậy, ban đêm nếu chẳng may có sinh viên ngã bệnh phải đi cấp cứu thì chính tôi đưa đi, bởi nếu có sự hiện diện của tôi thì các bác sĩ, y tá cũng tỏ ra mau mắn tận tình hơn đối với sinh viên của tôi. Mối thân tình giữa tôi và các sinh viên của tôi là như thế, nên họ không e dè ngần ngại tiếp xúc với tôi, kể cả để mượn tiền những lúc gia đình chưa kịp gửi lên, mà tôi chẳng bao giờ ghi sổ sách, cũng chẳng nhớ đã trao cho ai. (Còn sinh viên thì thường không ghi vào bộ nhớ những động tác này, bây giờ nhắc lại là để cười xòa về một kỷ niệm đẹp trong giới Thụ Nhân - VSH). Những vấn đề quan trọng, họ thường hỏi ý kiến tôi. Chẳng hạn, những lúc thành phố xôn xao biểu tình để ủng hộ hoặc phản đối chính sách của nhà cầm quyền lúc bấy giờ, sinh viên đến hỏi ý kiến tôi là có nên tham gia hay không. Tôi trả lời là các con phải đi biểu tình với đồng bào. Tôi nhớ câu ngạn ngữ của người Tây Phương: cái gì người khác làm mà mình không làm thì người ta sẽ làm để chống lại mình (Ce que vous ne faites pas, les autres feront contre vous). Khi có các cuộc tuyệt thực ở bất cứ đâu, ở ngoài chợ, ở bên chùa, tôi đều đi thăm. (Khuôn viên của Viện Ðại Học Ðà Lạt tọa lạc xa thành phố, dân cư quanh vùng thưa thớt nên không được các đoàn biểu tình chọn làm địa bàn để biểu dương lực lượng - VSH.) Tôi rất thân với các thầy bên chùa Linh Sơn. Tôi còn nhớ khi đó bên chùa có một vị đại đức trẻ tuổi, dự tính sang Nhật du học tại một trường Phật Giáo. Trường bên Nhật đòi phải xuất trình bằng cấp đã đậu ở Việt Nam, ngặt một nỗi các tăng ni Phật Giáo ít khi tham dự các cuộc thi cử để lấy bằng cấp ngoài đời. Tuy vậy, có thể thay thế sự khiếm khuyết này bằng thư giới thiệu của một giới chức cao cấp trong ngành giáo dục Việt Nam. Vị đại đức này đã nhờ tôi viết thư giới thiệu, tôi đồng ý ngay. Trước ngày lên đường du học, vị đại đức đã tổ chức một buổi tiếp tân trong đó có mặt các Thượng Tọa Thích Minh Châu, Thích Thiện Minh và nhiều vị Thượng Tọa khác nữa. Tôi được mời tham dự. Khi tôi đến, các vị Thượng Tọa hỏi cha Trần Thái Hiệp để biết linh mục mới đến là ai. Khi tôi được giới thiệu, các vị Thượng Tọa đã đến bắt tay và cám ơn tôi về việc tôi đã làm. Ðầu năm 1969, tôi tổ chức lễ mãn khóa cho sinh viên khóa I Cử nhân QTKD. Ðây là lễ mãn khóa đầu tiên ở Việt Nam (dĩ nhiên được hiểu là miền Nam Việt Nam - VSH) do một viện đại học tổ chức cho các sinh viên tốt nghiệp, trước đó chưa hề có, kể cả ở Viện Ðại Học Sài Gòn. Ðây cũng là lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Ðại Học Ðà Lạt. Tôi cho mời các sinh viên đã tốt nghiệp trước đây của các phân khoa khác, trong đó có anh Dương Văn Ba, dân biểu đối lập trong Quốc Hội lúc bấy giờ, vốn là cựu sinh viên khoa Triết của Viện. Tôi đã đề nghị anh đọc diễn văn đại diện các sinh viên tốt nghiệp, phát biểu với tư cách là cựu sinh viên chứ không là dân biểu Hạ Viện. Theo luật động viên lúc bấy giờ, tất cả các sinh viên tốt nghiệp đều phải nhập ngũ nếu không được hoãn dịch vì những lý do nào khác như sức khỏe, gia cảnh, tôn giáo, sắc tộc,. Cho nên các sinh viên khóa I QTKD đã về trường dự lễ trong bộ quân phục, chân đi botte de saut. Một người bạn của tôi đã tặng tôi đủ số vải may áo choàng cho các sinh viên. Các sinh viên khóa I QTKD đã để nguyên bộ quân phục và chỉ khoác áo choàng bên ngoài. Tôi được nghe kể lại là sau ngày 30-4-1975, ở Ðà Lạt, trong một phòng triển lãm, người ta thấy một chiếc toge này của sinh viên và được ghi chú là "biểu tượng phong kiến." Hôm trước ngày lễ, tôi tổ chức một thánh lễ đồng tế với sự hiện diện của nhiều vị giám mục. Buổi lễ chính thức ngày hôm sau được đặt dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Dịp này Tổng Thống đã gắn Bảo Quốc Huân Chương cho tôi. Tôi chỉ những đôi giày lính trong hàng ghế của các sinh viên tốt nghiệp và nói với Tổng Thống là các sinh viên của tôi nay là lính của Tổng Thống. (Người trò chuyện với cha Lập có nêu lên chi tiết là khi ấy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ thị cho Trung Tướng Trần Văn Trung, Tổng cục Trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị, lấy danh sách các "tân binh" này để giữ lại làm việc ở những vị trí thích đáng, cha Lập nói ngài không hay biết chuyện này. Và ngài cực lực bác bỏ nguồn tin cho rằng Tổng Thống đã can thiệp không để cho dân biểu đối lập Dương Văn Ba đọc diễn văn với tư cách là cựu sinh viên của Viện. Cha Lập bảo ngài có toàn quyền tổ chức buổi lễ. Vả lại, Tổng Thống có hay biết gì đâu về nội dung bài phát biểu mà can thiệp hay không - VSH.) Sau khi nền Ðệ Nhất Cộng Hòa bị lật đổ ngày 1-11-1963, tôi vẫn được các tướng lãnh kính trọng nể vì. Tướng Vĩnh Lộc, Tư lệnh Quân đoàn II đã cho máy bay chở "sinh-viên-lính" về dự lễ mãn khóa. Tướng Tôn Thất Ðính thường nhờ tôi trình bày chuyện này chuyện nọ với Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình mà tôi có khi nào làm đâu. Tướng Trần Văn Ðôn thỉnh thoảng có vào chơi thăm tôi và có tham dự khóa hội thảo về "Mục Tiêu Quốc Gia" do Viện Ðại Học Ðà Lạt tổ chức dưới sự bảo trợ của Hội Ðồng Các Viện Trưởng Ðại Học (từ 24 đến 29 tháng 7 năm 1967 - VSH). Tôi không quen tướng Dương Văn Minh. Tôi quen biết cụ Phan Khắc Sửu, nhưng cụ Trần Văn Hương thì không. Khi đã điều khiển Viện được 10 năm, đã thực hiện được nhiều điều cho Viện, tôi cảm thấy nếu cứ tiếp tục thì sẽ không tiến bộ được, bởi vì mình có thể ngủ quên trên những thành quả này, không cần phải cố gắng chi nữa. Tôi nghĩ là cần phải nhường chỗ cho một người khác để có sáng kiến làm mới Viện sau 10 năm. Tôi trình bày ý định này với Ðức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận. Tôi với ngài coi nhau như anh em, không hề giấu diếm nhau điều gì, mặc dù ngài nhỏ tuổi hơn tôi. Ngài bảo: "Nếu thực sự anh muốn từ chức thì lúc này là lúc thuận tiện nhất, bởi Viện đang lên, có uy tín với sinh viên, với người ngoài. Kẻo mai mốt già cả, chỉ điều khiển Viện theo thói quen thì không xong." Tôi suy nghĩ về ý kiến của Ðức Cha và tôi từ chức. Cũng có một vài khó khăn nhỏ nhưng không ảnh hưởng đến quyết định của tôi. Sẵn có cha Lê Văn Lý, rất nhiều uy tín, rất nhiều khả năng, ngài có thể tiếp tục. Lúc bấy giờ, Viện không có vấn đề gì về uy tín, nhân sự, tài chính,. Hôm bàn giao, từ giã Viện, Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình có lên, tuyên bố tôi là Viện Trưởng danh dự của Viện Ðại Học Ðà Lạt. Hôm đó cũng có sự hiện diện của một số nhân vật của thành phố Ðà Lạt. Sau này, đôi lần cha Lý mời tôi lên, ví dụ các lễ mãn khóa của sinh viên. Sau 1975, có một lần tôi lên Ðà Lạt nghỉ với cộng đoàn Tu Hội Bác Ái mà tôi là linh phụ, các nhân viên cũ của Viện biết và có mời tôi vào chơi thăm anh chị em trong đó. Khi đó ông Viện Trưởng đương nhiệm nghe tin tôi có mặt, đến gặp gỡ và tiếp đón tôi tử tế. Họ cũng biết rằng khi ra đi, tôi đã để lại tất cả, kể các sách của riêng tôi, tôi cũng để lại cho giáo sư và sinh viên sử dụng. Ông cũng tỏ lòng cám ơn vì đã thừa hưởng cơ ngơi tốt đẹp của Viện." Ở đầu bài viết này, tôi (VSH) đã đề cập đến bản đề cương cho cuốn Hồi Ký của Cha Nguyễn Văn Lập. Tôi cũng đã thưa thốt thêm bốn điều. Ðiều ba và bốn, tôi đã làm với tất cả tâm tình. Ðiều hai, qua bao nổi trôi của thời cuộc gần đây, cha Nguyễn Văn Lập chẳng còn lưu giữ được tài liệu gì quý giá, những hình ảnh và bài viết. Vả lại, chính ngài không có ý định giã từ Huế mãi mãi năm 1975, chỉ có ý định vào Sài Gòn giải quyết một số công việc rồi sẽ trở về nhiệm sở. Làn sóng di tản xuôi Nam đã chặn đường về của vị linh mục Tổng đại diện giáo phận Huế. Từ ấy, ngài chưa một lần quay lại với cố đô. Tài liệu, sách vở của ngài ở Huế cũng cuốn theo chiều gió. Phòng làm việc của ngài hôm nay, trên kệ sách, chẳng còn gì mang hương sắc hình hài Thụ Nhân. Duy có điều một, yêu cầu mà tôi cho là quan trọng, là cần thiết, làm nên tầm vóc của cuốn hồi ký thì đã bị cha Viện Trưởng (rất sáng suốt) cố tình lờ đi. Có những lúc đề cập đến nhân vật này, chính khách nọ trong vòng quen biết của ngài, tôi cố tình đẩy câu chuyện đến chỗ buộc ngài phải đưa ra những nhận định của riêng mình, thì ngài lại ậm ừ cho qua, thậm chí buộc tôi tắt máy ghi âm nếu muốn được nghe ngài kể lể tiếp. Mà kể lể gì đâu, một vài giai thoại, thế thôi. Tôi thất vọng. Còn cha Viện Trưởng, ngài vẫn thản nhiên, nhất định không phê phán một ai, một biến cố nào dưới nhãn quan chính trị. Suốt đời, cha Simon Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập chỉ là một nhà giáo dục và một mục tử thuần tuý. Linh mục Phan Xuân Thanh, một nghĩa tử của cha Viện Trưởng, đã có lần được nghe cha bật mí: "Anh Hiên viết báo, thích chuyện giật gân. Nhưng đời tôi chỉ là cho Giáo Hội và Giáo Dục." Những người cùng thời với cha Nguyễn Văn Lập phần lớn đã vào cõi vĩnh hằng. Trong số các vị còn sống hoặc đã qua đời, có vị đã từng viết hồi ký, nhưng thử hỏi có mấy ai để lại được nỗi nhớ nhung tròn trịa, những tình cảm không sứt mẻ trong lòng hậu sinh! Hôm cha nằm xuống, kính thưa cha Viện Trưởng, cả trăm sinh viên Thụ Nhân phủ phục bái lạy tiễn biệt cha. Cha còn nguyên vẹn (và hơn thế nữa) trong lòng người và trong lòng Thụ Nhân. Con mới vỡ lẽ về thái độ của cha suốt những tháng ngày trò chuyện với cha trong ngôi nhà mà Thụ Nhân khắp nơi đã chung sức xây tặng cha Viện Trưởng. Trước mặt Thiên Chúa và trước mặt loài người, cha đã và mãi mãi là một nhà giáo dục và một linh mục đôn hậu. Viết tại Sài Gòn Tết Nhâm Ngọ 2002 Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |