SÔNG NƯỚC VIỆT NAM QUANG VIỆT
I. Kinh nghiệm về việc khai thác sông Mêkông Chúng ta biết rằng hạ lưu sông Mêkông là một vùng đất rộng tới 600,000 km2 với dân số khoảng 50 triệu người. Ðời sống của 80% số dân này lệ thuộc vào dòng sông: đánh cá hoặc nghề nông. Riêng tại Việt Nam, vùng châu thổ Cửu Long tính vào năm 1996 có tới 20 triệu dân sống nhờ vào sông nước Cửu Long. Ðời sống người dân miền Nam Việt Nam sung túc và thoải mái hơn đời sống miền Bắc và miền Trung chính là nhờ con sông huyết mạch này. Nhưng tất cả đang bị đảo lộn và đe doạ. Ai cũng rõ hiện Trung Quốc đã xây xong 2 công trình thủy điện; Thái Lan đã đưa vào sử dụng thủy điện Park Mool và tất cả sẽ có hơn 20 đập thủy điện được dựng suốt dòng sông Mêkông này. Ðây là kinh nghiệm cụ thể: 1. Cá bị tiêu diệt: Tại dòng sông Mool ở Thái Lan, không còn cá từ sông Mêkông di chuyển theo mùa đi vào sông này nữa. Mặc dầu để bảo vệ ngành đánh các cho ngư dân, các kỹ sư xây đập đã làm nhiều hồ thành những bậc thang cho cá nhảy vào đập để trở ngược dòng nước. Khi công trình đang thực thi, người địa phương đã đùa với nhau: Cá chỉ bơi lội chứ đâu biết leo thang. Quả vậy, sau khi đập xây xong thì khoảng 5000 gia đình chuyên sống bằng nghề đánh cá đang thu hoạch mỗi năm từ 3000-4000 Mỹ kim chỉ thu được lợi tức 350-400 Mỹ kim mà thôi. Họ kéo nhau về thủ đô Bangkok cắm lều biểu tình đòi bồi thường từ tuần này sang tuần khác (1996). Tại phần đất Trung Quốc, với sông Lan Cang, sau khi đập thủy điện Manwan với công suất 1500 megawatt làm xong thì cũng giết chết ngành thuyền chài tại đây. Ðó là báo cáo của ông Tyson Robert, một chuyên viên về thực vật và thủy sản đã nghiên cứu sông Mêkông trong thời gian 30 năm. Theo World Rainforest Movement Bulletin ("Bản tin Mưa Rừng Thế Giới") số 46 ra vào tháng 5/2000, Trung Quốc đang có tham vọng xây 220 đập thủy điện trên toàn quốc. Riêng trên dòng Lan Cang, họ dự trù xây 30 đập thủy điện nữa mà đập thủy điện Xiaowan sẽ là đập cao nhất thế giới tới 292 m và hồ chứa có chiều dài đến 169 km. Như vậy tất cả hệ thống phiêu sinh vật nảy nở trên dòng sông này sẽ bị chặn lại và cá không còn mồi để ăn và sinh sôi nảy nở. Báo cáo cho biết tại dòng Mool (phần sông Mêkông trên đất Thái Lan), có đến 150 loại cá đã biến mất. Ông Roberts cũng cho biết cá tại Biển Hồ (phần sông Mêkông trên nước Kampuchia) cũng đã mất nhiều (Báo cáo 15/6/1999). Vậy thì sinh thái trên dòng sông Mêkông thay đổi làm hao hụt 1 tỷ Mỹ kim thu nhập cho người ngư phủ dựa vào nguồn nước này mà sinh sống. 2. Các đập thay đổi lượng phù sa trong nước Chúng ta biết rằng lượng phù sa được chuyên chở trong dòng sông rất quan trọng đối với sự trồng trọt và bồi đắp của vùng biển. Thế mà trên dòng sông Mêkông dài 4200 km này được dự trù sẽ có hơn 200 đập nước thủy điện được xây lên (Tài liệu của World Disaster Aid do Stephanie Kriner cung cấp ngày 16/8/1999). Như vậy, trung bình cứ 21 km thì có một cái đập chắn nước. Kinh nghiệm cho biết lượng phù sa đọng lại tại đập đầu tiên Man wan xây trên sông Lancang nhiều gấp đôi so với con số dự trù. Ngoài ra, với những lượng xi măng lớn đắp đập trộn vào nước khiến cho dòng nước bị ô nhiễm nặng đi đến việc diệt chủng nhiều loại thủy sản (khoảng 200 loài thủy sản đã biến mất cho dù các đập chưa phát triển nhiều). Loài cá heo nước ngọt chỉ còn lại trên dòng sông này tại vùng Biển Hồ đang bị đe doạ nặng nề. Ðối với những người sống nghề trồng trọt, họ nay phải dùng phân hoá học thay thế cho lớp phù sa được bồi đắp mỗi năm. Riêng tại Việt Nam, nông dân sử dụng phân bón quá lố, nhiều gấp đôi so với nông dân Thái Lan. Lượng phân này từ từ ngấm xuống các mạch nước ngầm làm ô nhiễm nguồn nước ngọt. 3. Lượng nước bốc hơi tăng Theo dự tính của các khoa học gia thì mỗi đập chứa nước cho thủy điện tạo nên sự bốc hơi nhiều hơn 10%. Như vậy khi các công trình xây xong (theo dự tính đến nay thì có khoảng 230 đập thủy điện trên hệ thống sông Mêkông), lượng nước bốc hơi sẽ tăng lên 2300%. Ngày 7.8.2001, Dominic Whitting thuộc các nhóm bảo vệ môi sinh thê giới Planet Ark phỏng vấn ông David Jezeph, trưởng Ngành Nguồn nước và Khoáng sản, thuộc Ủy ban Kinh tế và Thái Bình dương của Liên Hiệp Quốc. Ông Jezeph hoan nghênh các dự án xây đập (hơn 30 cái) của Trung Quốc, cho rằng các hồ chứa của ngành thủy điện Trung Quốc lớn đủ để giữ nước lại trong mùa mưa khiến cho Lào tránh được nạn lụt do hiện tượng trái đất ấm lên thêm 2 độ làm cho tuyết vùng Tây Tạng tan nhiều hơn, mưa mùa Ðông Nam Á kéo dài. Ông Jezeph nói rằng trong những năm gần đây, sông Mêkông đã hay tràn bờ và lụt lội năm 2000 làm hơn 500 người chết và gây thiệt hại hằng trăm triệu Mỹ kim trên khắp bốn nước Thái, Lào, Kampuchia, và Việt Nam. Ông Jezeph quên rằng chỉ vào những năm đầu thập niên 90, bốn nước bị lụt nặng năm 2000 đều có mức độ phá rừng đáng kể: Mức độ phá rừng hằng năm ở Thái Lan là 1.48%, Lào 2%, Kampuchia 3% và Việt Nam 3.2%. Chúng ta cũng nên biết rằng vào năm 1998 cả khu vực bị hạn hán và trạm kiểm soát mực nước ở Tân Châu (Việt Nam) cho biết đó là năm mực nước xuống thấp nhất từ 13 năm qua. Tình trạng này đưa đến mất mùa cá, đất ruộng thiếu phì nhiêu, nước mặn tràn vào sâu tới 70 km làm hàng triệu mẫu ruộng phải bỏ không và phải đợi tới năm sau nước lụt mới đẩy nước phèn ra biển và rửa sạch chất muối trong ruộng để có thể trồng trọt được. Với lượng nước bốc hơi 2300% khi các đập thủy điện dự trù hoàn tất thì hậu quả thật là tai hại như kinh nghiệm của Trung Quốc: Dòng sông sẽ cạn kiệt. II. Kinh nghiệm Trung Quốc 1. Sông Hoàng Hà cạn nước: Sông Hoàng Hà là sông lớn thứ nhì của Trung Quốc. Ðây là con sông đã dõi theo suốt dòng lịch sử 2700 năm của đất nước này và trong khoảng thời gian này, người ta ghi nhận là cửa sông trải qua 29 lần thay đổi. Theo tài liệu nghiên cứu của World Resources Institute 2000 tại Washington thì vào năm 1998, mỗi người Trung Quốc dùng có 439 m3 nước. Theo thống kê của Bộ Ðiều hành Nguồn nước của Nhà nước Cộng sản Trung Quốc thì năm 1990, mỗi người Trung Quốc dùng 2500 m3 nước. Mức nước tiêu thụ này chỉ là ¼ mức tiêu thụ trung bình của thế giới. Bản nghiên cứu năm 1998 của Hoa Kỳ cho biết lượng tiêu thụ nước bình quân đầu người mỗi năm tại một số quốc gia như sau: Hoa Kỳ 1677 m3, Ai Cập 920 m3, Mexico 812 m3, Ấn Ðộ 598 m3, Trung Quốc 439 m3, Ethiopia 50 m3, và Nigeria 46 m3. Như thế tại sao Trung Quốc bị thiếu hụt quá mức như vậy? Ðó là do việc quản lý nước của Trung Quốc quá kém. Vùng phía Bắc nước này hiện thiếu đến 30 tỉ m3 nước mỗi năm. 80% nước của nước này dùng cho canh nông và vì thiếu nước nên 20 triệu mẫu đất trồng cấy bị thiệt hại. Trong những năm gần đây, lượng nước thiếu hụt mỗi ngày một tăng. Năm 1972 lần đầu tiên xảy ra việc sông Hoàng Hà cạn khô trước khi chảy ra biển và kéo dài đến 15 ngày. Những năm sau đó, có năm cạn, năm không. Từ 1985 đến nay, năm nào dòng sông này cũng bị cạn và thời gian kéo dài hơn. Năm 1996 thời gian cạn là 133 ngày. Năm 1997, mùa cạn kéo dài 133 ngày. Năm 1997 mùa cạn kéo dài 226 ngày. Thời gian này, ngay tỉnh Sơn Ðông là vùng đất sản xuất đến 1/5 bắp và 1/7 lúa mì toàn quốc cũng không có nước trồng trọt. Nhà cầm quyền đổ lỗi cho thiên tai nhưng lại không nghĩ rằng 22000 đập thủy điện xây bừa bãi thiếu nghiên cứu làm cạn nguồn nước của họ. Tại Trung Quốc, việc điều hành phân phối nước cũng thiếu thống nhất. Sau thời Cách mạng Văn hóa bước vào thời đổi mới kinh tế của Ðặng Tiểu Bình, các địa phương thi nhau thiết lập nhà máy và tự do đổ nước ô nhiễm hoá học vào sông ngòi. Cống rãnh cũng trực tiếp đổ đồ phế thải vào sông hồ mà không được tái sử dụng làm tăng bệnh tật cho con người. Vì thiếu nước, miền Bắc Trung Hoa, nơi sản xuất đến 40% lượng thực phẩm toàn quốc, mọi tổ hợp đều bơm nước ngầm lên dùng. Trong 5 năm qua, theo báo cáo của Giáo sư Liu Yongong thuộc Viện Canh nông Bắc Kinh, mỗi năm người ta lấy ra 1.5 m nước ngầm để dùng. Việc này làm cho đường xá bị sụp, cột điện đổ, cao ốc nghiêng như bản tin của Planet Ark ngày 19.1.2001 cho hay đã xảy ra tại Cangzou, một thành phố trên bờ kênh "Ðại Thủy" đào từ đời nhà Nguyên nối liền sông Hoàng Hà và Dương Tử. 2. Kế hoạch dự trù phân phối nước Các nhà chuyên môn tính rằng nếu không có những hành động khẩn để thích ứng thì đến năm 2010 lượng nước cần cho dân dùng là 31.8 tỉ thước khối nước. Vậy lấy đâu ra? Ngay từ thời Mao Trạch Ðông còn sống, Trung Quốc đã đặt kế hoạch đưa nước từ miền Nam lên miền Bắc, từ sông Dương Tử lên sông Hoàng Hà. Theo kế hoạch dự trù thì sẽ có 3 hệ thống dẫn nước: phía đông đi theo kênh "Ðại Thủy," phía giữa và phía tây, và kênh phía đông sẽ bắt đầu khởi công vào năm 2002. Kinh phí dự trù là 17 tỉ Mỹ kim vào năm 2001 nhưng đến đến năm 2002 kinh phí được tính phải lên đến 22 tỉ Mỹ kim. Tính ra thì người tiêu thụ sẽ không đủ tiền để trả. Các nhà khoa học thì đặt vấn đề: nước chảy về rồi, làm sao giữ cho dòng sông khỏi bị ô nhiễm. Ðiểm quan trọng hơn hết đáng lo ngại là nếu kế hoạch được thực hiện thì chỉ đến năm 2030 nghĩa là chưa đầy 30 năm, dòng sông Dương Tử cũng cạn luôn. Do đó chính phủ Úc, Canada đã rút ra khỏi kế hoạch giúp Trung Quốc xây đập "Tam Hợp" vĩ đại nhất thế giới và Hoa Kỳ ngay từ đầu đã không ủng hộ kế hoạch này. Kế hoạch càng lớn, càng phá hoại môi sinh. Ðiều đáng nói với Việt Nam chúng ta là khi các dòng sông Hoàng Hà cạn, Dương Tử cạn, tất nhiên Trung Quốc sẽ chặn nước hai con sông chảy vào nuôi sống dân ta: Sông Mêkông và sông Hồng Hà. Vậy chúng ta phải làm gì? III. Trách nhiệm của chúng ta 1. Với Ủy ban Sông Mêkông (Mekong River Commission) Trước hết Việt Nam có chân trong Ủy ban Sông Mêkông gồm Việt, Thái, Lào và Kampuchia. Trong nhóm 4 nước thì Thái Lan muốn khai thác tối đa khúc sông dài 800 km chạy qua biên giới của họ để phát triển vùng Ðông Bắc rất nghèo nàn. Dân chúng địa phương bị đàn áp để di chuyển đi nơi khác hầu chính phủ lấy chỗ chứa nước cho thủy điện bèn biểu tình liên lỉ hàng tháng mà cũng không được lưu ý tới thì thử hỏi người Việt chúng ta nói làm sao Thái Lan nghe. Thái Lan là quốc gia duy nhất trong Ủy ban Sông Mêkông ăn mảnh với Trung Quốc. Ai cũng biết rằng chính sách của Trung Quốc là không bao giờ đưa vấn đề liên hệ lân bang ra quốc tế. Họ chỉ chịu nói chuyện trên căn bản "một nước với một nước," chứ không nói chuyện với một khối nước như ASEAN (Tổ chức các nước Ðông Nam Á) chẳng hạn. Thế mà Thái Lan ăn mảnh ký tay đôi với Trung Quốc để cùng xây đập Jinghong trên phần đất Vân Nam (Trung Quốc) và chịu 70% phí tổn để có điện xài vào năm 2013. Công trình sẽ khởi công vào năm 2006. Bản văn đã được hai nước ký vào ngày 8.6.2000. Ðối với Lào, một nước nghèo nhất trong khu vực, khó lòng mà từ bỏ số vốn ngoại quốc đầu tư lên đến 25 tỉ Mỹ kim để xây 54 đập thủy điện trong 15 năm tới. Hai cơ quan đầu tư chính là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển Á châu (Asia Development Bank) đều nhìn vào Thái Lan như khách hàng sộp cho những đập thủy điện xây ở Lào. Còn lại chỉ có Kampuchia là nước lo ngại về nguồn sống cho dân mình vì hồ Tonlêsáp cung cấp đến 80% protein cho toàn dân xứ Chùa Tháp. Nếu hệ thống môi sinh trên dòng Mêkông bị phá hoại, cá biến mất, Kampuchia mất cả nguồn sống cho dân mình. Ðiều khó khăn cho Việt Nam là khi những người quyền thế bước vào các cuộc họp bàn bàn thảo về việc xây dựng thủy điện thì lập tức họ đứng về phía những người được hưởng lợi bởi công trình xây đập cùng với các cơ quan bỏ vốn. Phần cân nhắc lợi hại là do người dân sống chết với ruộng vườn, dòng sông của mình. Dĩ nhiên, trong chế độ không có dân chủ thì dân nói ai nghe. Tuy nhiên, chúng ta phải làm: Thông tin cho quần chúng để họ ý thức về sự lợi hại của vấn đề môi sinh và đòi hỏi nhà cầm quyền tích cực hoạt động với các nước liên hệ trong vùng hầu đưa ra những cam kết thật sự là phải bảo vệ môi sinh. 2. Ðối với Trung Quốc: Việc đối phó với Trung Quốc thật là khó khăn. Khó khăn đầu tiên là tổ chức hành chánh của nước này có quá nhiều bộ phận trùng hợp để lo cùng một việc mà không ai nghe ai. Kế hoạch phát triển vừa do trung ương, vừa do địa phương điều khiển. Do biết nước là nhu cầu cấp bách phải giải quyết nên các địa phương cứ tự tiện khai thác nước ngầm xài cho đến hết. Nếu ý thức được mối nguy hiểm của các đập lớn đối với môi sinh, Ðập Tam Hợp của Trung Quốc cần phải hủy bỏ ngay. Nhưng điều này chắc khó xảy ra vì Ðảng CS Trung Quốc vẫn còn chú trọng đến tiếng tăm nơi những công trình vĩ đại kiểu Liên Xô cũ hơn là thực tế. Khó khăn thứ hai là Trung Quốc không hề phổ biến kế hoạch phát triển ra bên ngoài. Bởi vậy Hà Nội không có được các thông tin về các đập xây trên sông Lancang cho đến khi công trình đã được tiến hành. Khó khăn thứ ba, đó là Trung Quốc là một nước mạnh, chỉ muốn thương lượng với từng nước để dễ bề áp đảo. Ðó là lý do nước này nhất định không chịu tham gia vào Ủy ban Sông Mêkông được sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Ai cũng biết rằng các công trình bảo vệ môi sinh trên Sông Mêkông không có sự tích cực tham gia của Trung Quốc là xứ thượng nguồn thì những đề nghị cũng bằng vô ích. Khó khăn thứ tư là Trung Quốc vẫn còn nuôi mộng bá chủ toàn vùng. Họ muốn các nước phải lệ thuộc vào họ. Vậy việc đòi hỏi quốc gia này phải đối xử công bằng trong việc sử dụng nguồn nước là điều rất khó. Trong cuộc tranh chấp tại vùng biển Ðông, các nước ASEAN đều có kinh nghiệm với Trung Quốc. Một mặt họ rao phải thương thuyết, mặt khác họ lại lẳng lặng xây dựng các cơ sở quốc phòng trên các hải đảo chiếm đóng. Ðến khi củng cố sức mạnh xong, họ trở nên cứng rắn tuyên bố chủ quyền trên toàn vùng. Ðây cũng là ý kiến của ông Jose T Almonte vốn là Cố vấn An ninh cho cựu Tổng thống Phi Luật Tân Fidel Ramos: "Bắc Kinh xem ra lúc nào cũng đeo đuổi hai mục tiêu chiến lược: truớc hết là họ sát nhập Ðài Loan vào lục địa, sau là bảo đảm sự phòng vệ vững chắc cho vùng duyên hải bằng cách làm chủ toàn vùng biển Ðông" (Issues & Insights No.2-2001). Ðây là một cuộc chiến khó khăn, nhưng Việt Nam phải thuyết phục các nước ASEAN đứng vào một chiến tuyến mang tính cách vừa văn hoá, vừa kinh tế và vừa môi sinh. Việt Nam và các nước ASEAN phải gây áp lực khiến Trung Quốc phải tôn trọng lẽ phải. Nhưng trước hết, câu hỏi đặt ra là liệu chính nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã ý thức được sự quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước chưa. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |