TỰ THUẬT (Kỳ 2 5)Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R. Tâm hồn bị khủng bố Sống qua một chuỗi ngày gian lao. Linh hồn con theo tình trạng bên ngoài mà biến đổi... Không bao lâu, tự con cũng cảm thấy mình đáng nhờm gớm. Ma quỉ đã xui nên trong tâm trí con một tư tưởng chua chát này: Người ta đã chẳng chịu được tôi, thì Chúa nào còn chịu đựng nổi tôi nữa! Tôi sắp chết, và tôi sẽ phải sa Hỏa ngục! Án Chúa đã phạt tôi ngay tự ở đời này!... Tư tưởng ấy đã làm cho con thêm nhiều nỗi lo toan. Con chỉ sợ chết bất ưng, và ma quỉ sẽ lôi con xuống hỏa ngục, trước khi con muốn xuống đấy cùng chúng. Tuy nhiên, con vẫn còn mạnh mẽ tin cậy vào Ðức Mẹ. Lần nào ma quỉ đem tư tưởng con đến những hình khổ gớm ghê con phải chịu trong hỏa ngục, thì con lại chạy lại cùng Mẹ Maria. Con than thở với Mẹ: Lậy Mẹ, Mẹ biết rằng con sẽ phải sa hỏa ngục, nhưng là một điều con không muốn. Dầu sao, nếu Chúa muốn thế, thì con cũng xin vui lòng theo ý Chúa. Con vẫn tin không bao giờ Chúa lại muốn cho con vào nơi khốn nạn ấy. Nhưng con cảm thấy con chỉ xứng đáng vào nơi tối tăm và hèn hạ đó thôi. Con cảm thấy trên đời này không còn một ai yêu con được nữa. Cả đến thày mẹ con, là những đấng thay mặt Chúa ở dưới đất, cũng còn nguyền rủa con, thì đời nào con được Chúa yêu thương. Lậy Mẹ, nhưng dù sao, xin mẹ cũng hãy giúp con bền lòng giữ nghĩa cùng Chúa cho đến cùng. Xin Mẹ hãy giúp con làm trọn nghĩa vụ mà Chúa muốn con thực hiện ở đời này, là làm theo ý Chúa trong hết mọi sự. Ðời con, xây đi vần lại cũng chỉ thấy đau thương. Nhưng nếu đây là thánh ý Chúa muốn con làm trọn, thì con xin vui lòng chịu hết. Rồi cho đến một ngày, nếu vì tại lỗi con đã có lần nào sơ xuất, không làm thỏa được ý Chúa, mà con phải cái án phạt đời đời, thì con cũng nài van Mẹ giúp con đời đời chịu đựng, để thánh ý Chúa được hiển vinh". Con tưởng rằng ma quỉ sợ bịnh ấy lắm, nên thường những cơn bối rối con cứ nhắc đi nhắc lại luôn với Ðức Mẹ bấy nhiêu lời. Và lần nào Ðức Mẹ cũng trả lời cho con bằng một sự yên ổn, mà không tài nào tả hết sức huyền diệu trong sự yên ổn thiêng liêng ấy... Sau con cũng xét mình và xưng tội chung. Con tỏ hết mọi nỗi niềm đời con ra cho cha giải tội. Cha ấy cũng vẫn là cha Ðôminicô Nghĩa, người đã ban phép giải tội lần đầu cho con, và người cũng đã nói với con một câu trước hết: - Các tội của con chưa có điều gì làm phiền cho Chúa cả. Nay người cũng lại nhân danh Chúa mà nói: Con hãy vui lòng lãnh nhận hết mọi nỗi tai ương ấy, và dâng lên cho Chúa. Con nên tin rằng: Chúa đã gửi thánh giá đến cho con, là dấu Chúa kén chọn con... Dần dà sự an bình trở lại lòng con. Và cho đến lễ Sinh nhật năm ấy (1940) sức sống của linh hồn con lại phục hồi hẳn. Giai Ðoạn Thứ Ba. Hoan lạc trong tình yêu Trải qua một mùa đông tê tái, cảnh huống bên ngoài đã làm cho hồn con sống không còn được cảm vui. Cũng như mùa sương giá đã làm cho thân cây teo lại, không còn thể đâm hoa nẩy lá trong thời kỳ ấy. Tuy nhiên, cành cây teo kia sẽ có một thời kỳ nẩy nở, và sắc đẹp của nó sẽ không còn biết lấy mầu sắc đâu mà sánh ví. Giai đoạn thứ hai của đời con là một mùa đông rét buốt. Và để kết thúc nó, Chúa đã để con vào một chuỗi ngày tê tái nhất, là chuỗi ngày bị gia đình ngược đãi. Nhưng cũng ở đó, nguồn an ủi của Chúa đến cùng con. Mùa hoan lạc đã bắt đầu. Giai đoạn thứ ba đời con đã đến, và chớm nở vào giữa một đêm Sinh nhật. Ðêm Sinh Nhật Một kỷ niệm êm đềm, mà mãi cho đến nay con còn nhớ rõ cả từng chi tiết. Không rõ ngày ấy chị Thánh Têrêsa có điều động làm sao không? Nhưng với ơn con đã được trong đêm và giờ hạnh phúc ấy, không khác gì với cái của Têrêsa đã được ngày xưa cả. Cảnh đời con vẫn không có gì thay đổi. Lễ Sinh nhật đã sắp đến. Lòng con vui reo lên khi tưởng đến ngày Sinh nhật. Con nghĩ đến giây phút được thấy gương mặt hiền dịu của Chúa Giêsu thơ bé mỉm cười trong đêm khuya. Lần nào thấy Chúa con cũng phải xúc động, và cảm mến dào dạt. Năm nay lễ Sinh nhật đã sắp đến... Nhưng con không còn một mộng tưởng gì đến những món quà như hồi còn bé nữa. Con tự hiểu rằng món quà sinh nhật cho con năm nay đã sắm sẵn từ mấy tháng nay, và con đã lãnh nhận nó với đôi mắt tràn lệ, và đau khổ. Sở dĩ thế là vì con chưa hiểu lẽ mầu nhiệm của nó, và vì ý nào Chúa mới gửi cho con. Nên thay vì vui, con đã khóc. Cái khóc của con có ý nghĩa là con tủi cực vì phải đau khổ, chứ cõi trần ai có bao giờ cầm được ngòi nước mắt? Và thế nào Chúa cũng làm cho con hiểu thấu ý nhiệm của món quà ấy. Ðau khổ là thánh ý nhiệm mầu của Chúa. Là món quà của Tình yêu. Lòng con còn chịu đè nặng dưới sự sợ hãi của đau thương. Con đau khổ, nhưng con vẫn trốn đau khổ. Nhưng nay con không còn phải là hèn nhát đến thế. Lễ nửa đêm bắt đầu. Và con chăm chú dọn lòng để chờ đón Chúa. Con cảm thấy lòng con tăm tối và giá lạnh chẳng khác gì một đêm đông. Con không thể còn tìm đâu ra được ánh sáng, và chút ân tình để sưởi ấm cõi lòng đang trống rỗng. Giờ đây chỉ còn một Giêsu là hết cả nguồn hy vọng của con. Con mong Chúa đến... và chỉ mong Chúa đến. Giờ khát vọng đến... Và con ôm chặt Chúa Giêsu thơ bé trong cõi lòng con... Giữa lúc ấy một niềm vui sán lạn bao trùm lấy cả hồn con. Con ngây ngất như đã chiếm được một kho báu chưa khi nào đã thấy trong đời con... Sung sướng! Nhưng êm dịu làm sao! Giây phút ấy, những đau thương của con sao mà đẹp vậy! Con không thể nói, và cũng không thể hình dung nó ra bằng một vẻ đẹp nào ở trần gian. Con chỉ biết nói: Chúa đã ban cho con một kho báu, một món quà quí nhất của Tình yêu. Chỉ trong giây phút thôi, tâm hồn con đã trở nên khác hẳn. Con không còn cảm thấy sự đau khổ nữa, trái lại, con còn vui, và chỉ thích được dịp để đau khổ. Ngọn cờ chinh phục của con từ đây phất phới trên ngọn đồi ân ái. Chúa đã giao cho con một sứ mạng: Làm cho đau khổ hóa nên hạnh phúc. Con không diệt khổ, nhưng đổi khổ ra phúc. Một sức mạnh với một Tình yêu, đời con từ nay chỉ là nguồn hoan lạc. Trước hết, con đã thắng được chính mình. Cái tính đa sầu đã làm cho con bao phen đau điếng hơn gấp mấy lần những biến cố bên ngoài gợi nên. Con đã cảm thấy lòng con nhẹ và bất chấp tất cả những gì là đau đớn. Chiến Công Ðầu Mùa Cám ơn vừa đoạn, con muốn dùng một vài câu kinh sốt sắng mà con đã lựa lọc trong sách lễ. Nhưng vì con không phải là nghĩa binh, nên chỗ con ngồi xa tít tắp mãi cây đèn nến. Con không thể dùng sách mà xem lễ được, phải đợi cho các anh nghĩa binh ra về, rồi con mới hòng xích gần lại một cây nến để kiếm chút ánh sáng mà đọc sách. Con đợi mãi, gần hết lễ thứ hai, mới tìm được một chỗ trống có ánh đèn. Con mon men lại, và giở sách ra xem. Tuy nhiên con cũng phải gượng dẹ, không dám kể như mình là một cậu nghĩa binh. Và con thiết tưởng, lúc ấy có cậu nghĩa binh nào đến đuổi, con cũng không làm gì có quyền phản đối. Qua được độ dăm ba phút yên tĩnh. Rồi đột nhiên, một người trong gia đình đến tắt phụt ngay cây nến cạnh con đi, và nói với con: - Mày có phải là nghĩa binh đâu mà ngồi đây? Giá như mọi lần trước, thì con đã càu nhàu. Nhưng hôm nay con không còn thế nữa. Con bình tĩnh xếp sách lại và nhanh nhẹn lủi vào một xó cột. Ở đây con dâng cho Chúa những giọt nước mắt... thắng trận. Ðây là một chiến công đầu mùa, tuy nhỏ nhặt, và không đáng kể gì với những lần chua chát khác, nhưng là một lần con đã biết vui chịu, và vui chịu vì yêu mến Giêsu. Sau khi ấy con lên viếng hang đá và dâng cho Chúa Giêsu thơ bé món quà con vừa được. Về nhà, con lại gặp người lúc nẫy. Mà con cứ chúc lễ như thường. Kể từ lần thắng ấy, về sau lần nào có dịp chịu nhục nhã, con cũng vẫn thắng như thường. Và từ đấy, hoa yêu mến nở ra la liệt trong tâm hồn. Những ngược đãi của gia đình cũng từ đây con ôm ấp với nụ cười... Sang Sông Từ điểm này, đời con bước sang giai đoạn thứ ba. Ðường còn dài; đau thương tuy chưa tận, song cảnh lòng con đã đổi sang màn sáng sủa, đẹp tươi, và đầy êm thú. Con đã có những này sống như tuổi hồn nhiên; trong thâm tâm con lại thấy nở ra những mộng tưởng mỹ thiện như ngày còn bé. Những mộng tưởng tốt đẹp ấy đã bị nhòa mờ đi trong bao ngày đen tối vừa qua. Không bao lâu, Chúa cũng đổi cả cảnh sống bên ngoài đi cho con. Vào độ Tết (1941) bá Khánh sang chơi bên nhà. Bá nhận thấy con người cháu có một vẻ mệt nhược, xanh xao quá. Tất nhiên, bá cũng hiểu được vì đâu mà đứa cháu đáng yêu nhất của bá ấy đã bị thay đổi mầu sắc đi như thế. Nên động tình thương, bá mới yêu cầu mẹ cho con sang ở với bá. Chả cần phải bàn tính lâu la, mẹ đã bằng lòng ngay. Vì cho đi cái của "sinh tội" ấy mẹ không có bao giờ là tiếc rốt cả. Con cũng hiểu là thế. Nhưng con thương mẹ lắm, vì nhà đã nghèo!... Mặc dầu, con cũng cứ phải vâng. Trước khi bỏ nhà, sang bá, mẹ ướn cho con vài cái củng sẽ lên đầu và dặn: - Liệu mà ăn ở cho tử tế với bá. Con cám ơn mẹ bằng hai dòng nước mắt, Rồi, chả hiểu làm sao, mẹ cũngkhóc! Mẹ đặt lên vai con đôi quang thúng và bảo con gánh đi cho bá. Con lệt sệt đôi được quang thúng ra đến khỏi cổng làng, thì cảm thấy đau vai quá, vì con chưa tập gánh bao giờ. Nên bá lại phải gánh cho con. Quang cảnh ngày ra đi làm cho con phải rớt nước mắt. Khác hẳn với những năm xưa, khúc đường đi sang bá thật là vui. Nhưng năm nay, và lần này cảnh đã đổi sang một ngày u ám. Trời đổ mưa bụi liên lỉ, và gió bấc tạt lạnh vào đến tận xương. Ðôi lúc vì cảm xúc quá mạnh, con đã khóc nấc lên từng hồi. Bá Khánh tưởng là con nhớ mẹ, nên bá quay lại trách con: - Ở nhà nó đã xử cho như chó ấy, bây giờ lại còn nhớ với nhung... Rồi bá lại giở giọng yên ủi: - Thôi nín đi con, sang ở với bá ít lâu rồi muốn gì bá sẽ lo liệu cho. Từ đấy con cảm thấy lòng con gần gụi bá như một người mẹ độc nhất trên trần gian. Con đã thố lộ tâm sự con ra cho bá một cách không hơi chút dè dặt. Có những điều với mẹ thì con giấu kín, nhưng với bá thì con chẳng giấu kín điều gì con. Nhà bá bây giờ đã đổi ra hình thức khác trước nhiều lắm. Những căn nhà lụp xụp ngày xưa đã được thay thế bằng những căn nhà cao ráo và sạch sẽ hơn nhiều, tuy nó cũng lợp tranh, chiếc sân đất ngày xưa, bây giờ đã lát xi-măng; và đâu đó điều có ngăn nắp thứ tự. Thật là ngược hẳn lại với cảnh nhà con, đang lúc gia đình bá được tu bổ, thì gia đình con bị lụi bại. Anh Khánh đã có vợ, và chị Ðào cũng đang sửa soạn để người ta đến đón. Chị vẫn chịu khó nuôi lợn và chăn gà để giữ lấy chút vốn riêng, nay mai đem theo về nhà chồng. Còn hai anh Lan và Dư đang đi học ở bên Ngăm. Anh Dư trí sáng và nhanh nhảu hơn, được bá cho đi tu, giúp cha phó Bảo, người cũng đang phụ lực với cha Ð. Nghĩa coi xứ Ngăm. Trong nhà bá, thế là lẻ loi chỉ có mình con là bé nhất. Ðừng kể bá, các anh chị đều thương yêu con một cách đặc biệt như hồi thơ ấu. Và trong các anh chị, có một chị "đỏ" Khánh (người vợ mới cưới của anh Khánh) là có tình mật thiết với con hơn. Sở dĩ chị em thân thiết với nhau như vậy, là vì cả hai đều có những cảnh ngộ gần giống nhau, và tinh thần đạo đức cũng dồi dào như nhau. Thường thường hễ con cứ thố lộ điều gì về đuờng thiêng liêng, là con thấy chị đồng ý ngay, Nhưng phần nhiều, con học hỏi ở nơi chị nhiều hơn. Có chỗ này con không hiểu làm sao, là bá vẫn là một người đạo đức khá, thế mà đối với con dâu, bá có một cử chỉ nghiêm khắc đặc biệt. Con cũng không hiểu làm sao, đối với con thì bá hết sức dễ dãi, nhưng với chị đỏ Khánh thì bá lại. có lúc chả nhân đạo tí nào. Con không hiểu, ví đó là ý nhiệm của Chúa. Nhưng con biết rằng đấy là một bài học; Chúa muốn cho con nhìn vào chị đỏ Khánh mà bắt chước sự kiên nhẫn của chị. Với chị, con còn đuợc cái lợi này là ngày nào chị cũng lựa truyện thánh cho con xem khi chăn bò ở ngoài đồng. Ở bên bá, công việc con phải đảm đang là chăn một con bò, chiều về con xách nước đổ vào chum và lo cho sân trước được sạch sẽ. Ngoài ra con còn tập nấu ăn và dọn bữa. Tối đến, chỉ có mình con là được cái hãnh diện xướng kinh trong gia đình; và việc đọc sách thánh cho mọi người nghe là đặc quyền của con. Bá cho con đặc ân như thế là vì tiếng con thanh. Ðọc nghe như rót vào tai. Bá thường khen con thế. Việc đi chăn bò của con mấy ngày đầu xem ra vất vả lắm. Trước hết con phải thắng tính tự ái, vì thường thường người ta còn cho đi chăn bò là hèn hạ. Con thì con chả cho là hèn tí nào. Tuy vậy cũng phải vài ngày rớt nước mắt vì bị chế diễu. Thế rồi lại còn phải tập cưỡi bò. Con phải tập đi tập lại mãi mới biết cách leo lên lưng bò, và làm thế nào để cho bò đang đi mà đứng như ý mình. Con đã bị ngã mấy lần. May cũng là nhờ con bò của bá nó hiền, không thì con đã bị nó dẵm bẹp từ đời nào. Nhưng có cái khó nhất, là con phải đi chăn chung với bọn trẻ trong làng. Phần nhiều các anh ấy là con của những gia đình đi lương, nên nó vẫn có cái gì làm cho con khó chịu. Khích bác đạo thì các anh ấy chả dám, nhưng mà làm sao ý. các anh ấy ăn nói chả được thanh nhã tí nào. Phần lớn, các anh ấy chả hơn tuổi gì con lắm, thế mà anh nào cũng đã có vợ. Cũng có anh còn thò lò mũi xanh, răng thay chưa hết mà đã để râu nhọ nồi ở trên mép, và đã được thầy bu tăng tuổi lên để cưới vợ cho. Thế mà những cô vợ thì lớn ngồng ngộc cả, giá có ai lạ mà thấy thì không khỏi nhầm là hai dì cháu. Trong bấy nhiêu anh con biết, con dám chắc là trăm phần trăm, các anh ấy chưa hiểu gì về tình nghĩa phu thê, chỉ biết xưng tao với vợ, và hơi một tí là dỗi, lăn ra dẫy đành đạch ở dưới chân vợ như là trạch bị vùi trong tro nóng. Thật là nực cười. Và con, con tự cảm thấy một sự bất công nào đó với người con gái làm vợ của những anh chồng chưa hết răng sữa. Thế mà các anh ấy cũng biết tán ong tán bướm ra phết. Khiến con phải tự hổ thẹn mà buộc lòng phải lánh xa các anh ấy. Con đi chăn riêng một mình, và tìm cách chơi với Ðức Mẹ. Ngày ấy con chẳng có cái thú nào hơn là cái thú tổ chức rước kiệu. Tuy nhiên con chỉ có một mình với con bò. Con chia cánh đồng ra làm nhiều quãng cách xa nhau; rồi trang sức cho bò thật đẹp bằng đủ mọi sắc hoa, trên hai chiếc sừng. Xong rồi con quì trên lưng bò, tay cầm ảnh Ðức Mẹ, và cho bò ăn đi từ từ trong các bờ ruộng, còn con thì lần hạt to tiếng. Hễ khi nào con lần xong một chục mà bò chưa đi đến quãng đồng con đã chia để đọc sang chục khác, thì con đứng dậy (trên lưng bò cả) và hát một bài kính Ðức Mẹ. Những buổi rước ấy thường kéo dài ra đến hằng hai ba giờ, mà con không bao giờ thấy mệt. Và chỉ khi nào bò ăn no rồi con mới chấm dứt cuộc rước, để đưa bò về chuồng. Ngây thơ như thế, cha tưởng Ðức Mẹ có mỉm cười đuợc không? Một hôm, con gặp một ông Công giáo, ông thấy con chơi cách ấy, liền trách ngay con là vô phép, dám lần hạt ở trên lưng bò, làm như thế chẳng hóa ra như là chế diễu Ðức Mẹ vậy, vì Ðức Mẹ cao sang và quyền phép vô cùng. Con vặn lại ngay: Thế nào là vô phép? Con yêu Mẹ thì ở đâu chả yêu, và Mẹ yêu con thì chỗ nào chả là nơi xứng đáng. Ông ta tịt mất, và bảo con: - Cái thằng đáo để thật. Cha xem, biết bao nhiêu tâm hồn đối với Chúa còn sợ sệt như một cái gì cao xa quá. Trong thâm tâm họ không bao giờ dám có một tư tưởng thân mật với Chúa, vì họ chưa thấu hiểu tình yêu, chỉ coi Chúa như một ông vua trên hết các vua, và quyền hành cao cả không ai bằng, và vì thế thân mật với Chúa là một việc họ cho là không được. Nhưng con, con cảm thấy một khi con đã biết gieo mình vào lòng Ðức Mẹ, thì mỗi khi con được Ðức Mẹ ẵm con đến gần Chúa hơn. Con nhận thấy Chúa, đối với con gần gũi như một bông hoa trên bãi cỏ, như tiếng gió rì rào trên ngọn thông; như trăm vẻ hùng vĩ của một bình minh; như tiếng chim reo rắc khắp mọi vùng. Không, đối với con Chúa không là một cái gì cao xa quá bao giờ. Con không thấy người tỏ hiện cùng con, nhưng tất cả mọi vật điều là như tiếng nói, là biểu tượng làm cho con quyến luyến và lụy phục Người. Cánh đồng vì thế đối với con ngày một thêm đẹp, và đưa con đi sâu vào lòng Chúa. Thưa Cha, ở đây con muốn nói ra tất cả những cảm tình con đã lượm được trong đồng cỏ. Nhưng con nhận thấy tất cả điều tỉ mỉ, và con dám chắc cha không còn lạ gì những cái cảm hứng rất dễ có đối với một tâm hồn như con. Như thế, con ao ước được Cha cho phép để con đưa câu truyện con sang hình thức khác. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu |