TỰ THUẬT

(Kỳ 27)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

 

Phản công của Sa-tan

Bông hoa chưa nở qua một ngày, cơn cuồng phong ghen ghét đã đùng đùng nổi lên, và muốn lấy sức mạnh mà đè bẹp sự đẹp đẽ của nó vào đêm tối.

Ngay tối hôm con bắt đầu thành lập Ðội Thiên Thần Kháng Chiến, tưởng là bí mật lắm, vì anh em ai nấy đều đồng tâm. Và ngoài sáu anh không còn một ai hay công việc của chúng con.

Nhưng chúng con đã bị một anh phản bội. Anh Ðoán, một người thân cận của con. Nhưng chỉ vì tính nhút nhát quá lẽ, chỉ sợ nếu câu truyện sau có bị vỡ lở, anh không chịu được đòn, nên anh tính rút lui trước, và để tránh sự tình nghi, anh đã đem câu truyện tổ chức của con, thưa tỏ với ông già. Và để được lòng ông già, anh còn gán thêm cho con nhiều truyện khác con không có. Ví như, gọi ông là "con lợn," với lại là "trạng rượu."

Kinh tối xong, anh em chúng con bị ông già gọi lên buồng hạch tội. Con tưởng là thế nào ông ta cũng cho chúng con một trận đòn phải biết. Nên con quyết rằng con sẽ nhận tội cho con hết, để nếu có thì chỉ con bị mà thôi, còn anh em khác sẽ vô can.

Nhưng may ông không đánh, chỉ diễn thuyết cho chúng con một bài, mà trong bài diễn thuyết ấy ông chỉ rủa có thằng chó Văn là tệ nhất. Rồi ông bảo chúng con, xéo!

Ông tưởng bài diễn thuyết của ông có ảnh hưởng sâu xa đến tâm trạng non yếu của lũ bé, vì xưa nay việc gì cũng thế ông chỉ "hèm" có một tiếng là thế nào cũng phải êm.

Nhưng hôm nay ông thất bại. Cái tài uy hiếp của ông không còn hiệu lực gì trước những buồng gan tí xíu của Ðội Thiên Thần Kháng Chiến nữa.

Ðe thì đe, nhưng phận sự của chúng tôi thì chúng tôi cứ làm. Ðánh chúng tôi là ăn hiếp. Chúng con vẫn đồng thanh cương quyết trả lời như thế.

Tụi ông già và cánh kẻ giảng non, không bao giờ lại ngờ đến nước thế. Ông không bao giờ có thể tưởng được thằng Văn nó dám xỏ lá với ông thế. Ông là thày dạy của nó, ông đã đánh nó nhiều trận tím da, và đã bao lần nó xám mặt lại trước cái nhìn tròng trọc của ông. Hôm nay nó đã trở thành một cái chướng ngại vật, ngăn cản ông bằng một kỷ luật đặc xịt, không cho ông được tự do ngồi kề cô tình nhân đẹp đẽ nhất của ông. Cô tình nhân ấy trước đây cũng là đứa học trò "thò lò mũi xanh" của ông. Nhưng hôm nay ông lại yêu nó bằng cách khác. Ông không muốn nó phải "bẩm thày già" như ông đã dậy nó, mà lại bắt nó phải gọi bằng "anh giáo" và xưng em. Ông cũng không cấm nó ra vào đêm hôm trong nhà xứ nữa, mà hễ đêm nào nó không ra vào thì ông không tài nào ngủ được, và sáng hôm sau thế nào ông cũng phải sai một "thằng cậu" ra hỏi thăm xem "chị giáo" thế nào?

Bây giờ không thế được, ông bắt buộc phải sống trong kỷ luật. Từ ngày Ðội Th. Th. Kh. Ch. thành lập, đêm hôm cổng ngõ đóng kín và theo đúng với thời khắc, khiến ông đêm nào cũng nao nao, thở vắn có một mình. Sáng ra kêu "thằng cậu" ra vấn an "chị giáo" thì thằng nào cũng trả lời là luật cấm không cho ra ngoài khi không phải là việc phận sự. Nếu ông có hằn học thế nào thì chúng con lại dựa vào thế cha xứ.

Cha xứ hiện nay cũng đã khá hơn trước nhiều. Ngày ngày người chỉ còn quây quần với lũ chai alcol (rượu) Việt Nam, và lạc rang; cái thú đoàn viên của người là chỉ có thế. Còn ngoài ra người im lặng trước những vấn đề "đàn bà." Tuy thế đối với lũ cậu bé người còn gần gụi hơn một tí. Người thường nghe chúng con và cho chúng con hoạt động tự do, nghĩa là đúng luật thì bao giờ người cũng bênh.

Nhưng không phải chỉ dựa thế cha xứ mà chúng con thành công đuợc luôn mãi. Vì đối với ông già, ông chẳng coi cha xứ ra gì cả. Có cùng, ông chỉ vì lý mà nể.

Bọn ông già ngày nay chỉ còn một mình anh Ðoán, người đã phản chúng con, làm liên lạc giữa họ và các chị trung binh ngoài làng. Anh phải vất vả ngược xuôi để chạy đưa thư cho cô này, rồi lại phải đi mời mọc cô kia đến xó nọ xó kia ban tối, để gặp anh kẻ giảng nọ, anh kẻ giảng kia. Thật là túi bụi. Mà công lênh thì chỉ một vài phiên chợ, các cô mua cho mấy chiếc kẹo, hoặc một miếng sà-phòng để giặt quần áo; ít lắm là một tấm lơ giấy, để giúp cho bộ cánh của anh có phần sáng sủa hơn các anh khác.

Anh còn là một tay do thám lợi hại của tụi ông già. Anh thường theo rõi chúng con trong hết mọi việc. Nhưng chúng con cũng biết thừa đi rồi, nên chẳng bao giờ để anh lọt vào những nơi tụ họp của chúng con.

Ðược ít lâu, chúng con cũng kiếm được kế làm cho anh Ðoán không tài nào bước chân ra khỏi khu vực nhà thờ được nữa. Như thế sự liên lạc với các cô trung binh ở ngoài làng sẽ bị tắc nghẽn. Chúng con tìm cách giao thiệp với các anh thanh niên ngoài, cho họ hay biết những ông kẻ giảng ấy ấy, nọ nọ, hay đi lại với những cô ấy, cô ấy., và liên lạc của họ là anh Ðoán.

Trai làng thì chả cần phải nói đến cái vấn đề đó. Xưa nay họ vẫn có cái quan niệm là: rai Trai llàng giữ lấy gái làng; đừng cho ong bướm., bẽ bàng quê ta.

Cho dầu họ có phải là những anh chàng còn tệ đi đến mấy, họ vẫn có cái tư cách là giữ danh thơm tiếng tốt của họ, là chính những cô con gái đức hạnh của làng họ.

Cho nên, đối với một cậu thanh niên làng khác đến cưới cô con gái ở làng họ, họ không bao giờ phản đối, hay làm ra khó dễ, nhưng phải hợp lệ và cho ngay chính. Còn cứ lôi thôi, trăng gió một mùa, thì họ choảng cho có đến nhừ xương xống.

Ðối với các người nhà tu họ rất kính nể; nhưng họ càng kính nể bao nhiêu, thì họ lại càng ghét bấy nhiêu, một khi họ đã biết những người nhà tu ấy không ăn ở đứng đắn với địa vị mình. Ðã đi tu mà còn có những cử chỉ bất xứng như thế, người trai làng sẽ không bao giờ dung thứ cho đâu.

Con cho các anh thanh niên ngoài nhà xứ biết việc ấy, tức cả một mánh lới bắt buộc anh Ðoán phải ở nhà, không dám đi ra đến đâu, vì thanh niên đã đe đánh Ðoán, nếu thấy Ðoán đi ra làng một mình. Phía trong thì chúng con ngăn đón, không bao giờ để cho Ðoán lọt qua khỏi vòng vây của chúng con. Anh ta cũng lừa lọc đủ cách để tìm cách liên lạc với các cô trung binh, nhưng phần nhiều chúng con điều tiết lộ trước, thành thử anh ta không dám làm gì.

Ông già tức nôn ruột, và báo thù chúng con bằng đủ mọi cách. Những lỗi thường rất nhỏ nhặt cũng bị họ hạch hỏi và sát phạt tàn ác. Thí dụ: ngủ gật trong buổi đọc kinh, quá bẩy giờ một phút mà chưa đánh trống học.v. v. Những lỗi ấy dù chúng con hết sức tránh cũng không bao giờ hết, nên cứ bị họ lôi ra nện luôn. Lại còn khổ một nỗi, là hễ một anh lỗi thì tất cả bấy nhiêu trong Ðội Th. Th.Kh.Ch. đều bị đánh.

Nhưng như thế chúng con mới lấy làm sung sướng, vì chính kẻ thù của chúng con cũng cộng lực giúp chúng con đoàn kết tinh thần của đội ngày một thêm chặt chẽ. Anh em cùng nhau chiến đấu, gặp bước may, cùng chung vui, đến lúc cay sầu lại cùng nhau san sẻ. Trên đời còn thú nào hơn thú hợp đồng! Phải không cha?

Một buổi trưa, cơn điên nổi lên, ông già nhất định dùng thế oai của mình để đạp đổ bức thành ngăn mà Ð.T.T.K.C. đã tạo nên. Bức thành ngăn "Thời khắc và kỷ luật." Ðúng trưa là đóng cổng, và đúng chín giờ tối là các cửa thông thương ra ngoài đã phải khóa, và trong hai trường hợp ấy không còn được một ai đi lại trong nhà xứ, dù cho cả đến nam giới. Nếu trong nhà xứ cần phải có việc đi ra ngoài trong hai trường hợp ấy, đã có hai người do cha xứ thác cho, được phép ra đi. Trong hai người ấy, thì một người có phận sự giữ chìa khóa cổng. Mà người giữ chìa khóa cổng chính là cậu canh giờ. Cậu ấy còn có đặc quyền được thừa lệnh đi ra lo việc ngoài một mình, đang lúc mọi người nghỉ. Trong các cậu bé, phải thay phiên nhau mỗi anh canh giờ một tuần lễ.

Ðó là một luật lệ đã có từ đời nào, giá mà hết các nhà xứ điều theo đúng như vậy, thì chốn tu hành đâu có thể xẩy ra được những mầm tội lỗi đến thế?

Ở đây Ð.T.T.K.C. bắt đầu lập thành ngăn ấy lại. Công phu và đầy chua chát!

Vậy như buổi trưa, như con vừa khởi đề, ông già đã điên tiết, ông thẳng thắn sai ngay anh Ðoán ra làng mời cô tình nhân của ông vào chơi.

Cha xứ đã nghỉ trưa trên nhà.

Ðoán đi, ra đến cổng đã thấy bóng Văn đang ngồi tựa bên cánh cổng, học bài. Ngập ngừng anh định quay về. Nhưng nghĩ sao, anh lại tiến thẳng ra cổng, và đưa tay vói để mở then.

- Anh đi đâu giờ này?

- Ði đâu việc gì anh phải hỏi?

- Tôi có quyền hỏi. Vì giờ này là giờ cấm không được đi ra làng.

- Tôi đi có việc cho thày già.

Anh ta trả lời bằng một giọng ngạo nghễ.

Con lắc đầu:

- Việc gì thì việc, của ai thì của, đến thày giời cũng không có phép thế. Giờ này là giờ của tôi, ai có việc gì cần phải đi ra, thì chính tôi mới là người được phép đi ra.

Cả hai im lặng một hồi. Sau con tiếp:

- Không việc gì, cậu cứ đi về nghỉ đi, có thế nào để tôi lo giúp.

Ðoán cãi:

- Thày già bảo tôi đi, thì tôi cứ đi đấy, anh làm gì được thì anh làm đi.

- Ừ thì anh cứ đi, tớ chả làm gì cả, nhưng cứ chịu khó đứng ở ngoài cho đến hiệu dậy rồi tớ sẽ mở cổng cho mà vào.

Không đáp nửa lời, anh ta im lặng quay ngay về phòng ông già.

Ðứng tựa cánh cổng ở ngoài này, con cảm thấy hơi lo lo, vì nếu ông già điên tiết, ông sẽ có thể đánh chết con ngay trưa hôm nay. Nhưng con định thần lại ngay và quyết dù có chết cũng sẽ không chịu nới sự canh phòng của mình để bảo vệ cho sự thanh khiết chốn tu hành.

Một lúc Ðoán lại ra, anh ta gọi con:

- Anh Văn, về thày già gọi.

- Anh dọa tôi, hay anh nói thật?

- Thật chứ việc gì phải dọa. phen này là cứ ốm!.

Vừa theo anh ta đến phòng ông già, con vừa tự yên ủi: Cùng lắm là ông ta cho mình một thiên roi mây cho chết quách đi là cùng chứ đến đâu. Việc quái gì mà sợ?

Con van xin Maria và Thiên thần bản mệnh của con đến cứu giúp, và ban thêm sức mạnh cho con. Nhưng làm sao? Ông ta chẳng đánh đấm gì con cả. Có lẽ vì ông sợ làm ồn trong buổi ngủ trưa.

Dầu sao ông ta cũng rủa cho con một bài thật dài. Và rút cùng ông đe một câu:

- Tao bảo cho mà biết, liệu hồn đấy!

Rồi ông đuổi con:

- Xéo.

Con chưa ngờ rằng cơn báo oán có thể xẩy ra ngay chiều hôm nay. Nhưng người ta đã sắp đặt sẵn sàng để trả thù cho con một trận đòn giữa công chúng.

Giờ học ban chiều, con bỡ ngỡ, vì bỗng nhiên cái bút con vẫn thường để trong bao da, hôm nay đã biến mất. Sắp đến giờ phải viết ám tả rồi, con luống cuống, và nghi có lẽ là mình đem về làm bài trưa hôm nay rồi còn bỏ quên ở nhà? Nhưng không phải thế, con nhớ rõ ràng con đã sắp đặt tất cả các đồ vào trong bao da trước khi con ra ngồi học bài ở ngoài cổng. Nhưng thế nào cũng phải về tìm cho ra. Con đứng dậy, và đi lên tận bàn thày giáo để xin phép về tìm quản bút.

Ông già có lẽ đã nghe con xin phép, nhưng vẫn thấy ông cắm gằm đầu xuống bàn để viết, không nói một lời, cũng không tỏ một dấu cho phép con ra.

Con lên giọng nói to hơn:

- Bẩm thày già, cho phép con về tìm quản bút ạ.

Ông cũng chả thèm nhúc nhích.

Một lần nữa con nói to hơn, để xin phép đi ra. Nhưng ông càng ngồi lỳ. Trường hợp ấy, tất nhiên là con đuợc phép đi ra.

Con về tìm ra được quản viết thì đã mất đến mười lăm phút, chỉ còn mười lăm phút nữa là phải nộp bài, vì thày giáo hẹn như thế.

Có điều con chưa thể nghĩ ra, là tại sao cái quản viết của con nó lại biết lẩn đi nấp ở dưới khe giường con nằm được? Tất nhiên, nó phải có tay ai nhét nó vào đấy. Mà trong nhà này thì còn ai? Ngoài anh Ðoán, con không còn biết nghi cho ai hơn được. Anh ta hẳn có ý báo thù con về cái vấn đề trưa hôm nay đây. Nhưng đã tìm thấy rồi thì thôi, con cũng chẳng phàn nàn gì, dâng cho Chúa hết.

Con chạy vội ra nhà trường, và vào chỗ ngồi như thường. Nhưng con vừa vào đến chỗ thì ông già lên tiếng hỏi:

- Ðứa nào vừa vào đây?

- Bẩm con ạ.

Ông quắc mắt một cách dữ tợn:

- Thằng này làm gì mà bây giờ mới ra lớp? Ngủ à?

- Bẩm không ạ, con vừa xin phép thày cho con về lấy quản bút.

- Thật không?

- Bẩm thật ạ.

Ông làm bộ hỏi lại từng người ngồi trên ghế chót:

- Có thật thằng Văn nó có xin phép ta về lấy quản bút không?

Anh nào cũng đứng dậy thưa:

- Bẩm có ạ, chúng con có thấy cậu ấy lên xin phép ạ.

Ông xoay lý:

- Thật thì thật chứ, tao chưa cho phép mà mày đã dám ra, quân vô giáo dục này.

Ông bỗng biến dạng, và quát lớn:

- Lên đây!. Nằm sấp xuống đây.

- Bẩm thày, nếu con đã lầm, xin thày tha thứ cho con lần này. Vì thật sự con đã đến xin phép, nhưng con không được thày chú ý, và vì thế con tưởng là đã được phép đi ra. Xin thày bỏ qua cho con lần này.

- Thứ thứ gì mày. quân chó Ngăm này. Xưa nay mày không biết ai đã mở mắt cho mày, mà mày còn có cái tư cách. gì . với. Chó! Quân chó!.

Ông nắm lấy roi mày và quất cho con một thôi túi bụi. Trong nhà trường, ngoài những tiếng roi kêu vun vút với những câu nguyền rủa của ông già, không còn một tiếng động sẻ nào. Con cũng chẳng thèm van xin, vì con biết mình chẳng có lỗi gì mà phải xin; ông đánh con vì ông muốn đánh cho đã tức, có thế thôi.

Ông ngừng một lát để lấy hơi. Ông nhìn xuống phía lũ cậu bé, hai mắt ông đỏ sòng sọc, như một kẻ điên cuồng trong cơn oán thù. Rồi ông gọi lũ cậu bé lên. Và ông cũng đánh họ như ông vừa mới đánh con.

Thật thảm hại cho những anh em vô tội! Nhưng mà chẳng anh nào oán than một lời. Riêng con, thấy các anh em bị đánh cách vô lý quá, con định lên tiếng phản đối tại chỗ. Nhưng vô ích, vì ông đã đánh họ túi bụi và chẳng nể nang một chỗ nào trong thân xác.

Vừa cảm phục, nhưng con cũng không tài nào dằn lòng được. Con thấy trong mình một cảm giác muốn chết để bênh đỡ mấy anh em con. Rồi chẳng cần phải nói, con xông vào, xô ngã các anh em và lấn họ vào gầm bàn, để bao nhiêu roi ông già giáng xuống, chỉ có thể đập trên mình con.

Con không còn cảm thấy đau đớn như trận đánh trước. Con chỉ còn thấy mỗi một roi đập vào mình con là như thêm cho thân xác con một sự dầy dạn để chịu đựng cho đến roi cuối cùng. Con bất chấp cả nhưng roi ông già không có ý quất vào con, mà cả những roi ông có ý quất vào các anh em con trong góc tường. Nhưng con đã chìa tay nắm lại đầu roi.

Cử chỉ ấy khiến ông càng điên tiết, và đánh trên con không biết mấy mươi lằn mà kể. Ðến nỗi, lũ học sinh bé ngồi ở cuối lớp phải khóc tu lên vì hãi quá.

Cuộc báo oán đã gần đến giai đoạn chót. Ông già thở hồng hộc, toát cả mồ hôi trán. Ông ném chiếc roi mây đã bị nát bét ở xó tường, ngồi phịch xuống ghế, đôi mắt đỏ sọc nhìn trừng trừng vào anh em chúng con, và ông vẫn tiếp tục chửi bới lu bù. Ðỡ mệt, ông lại đứng dậy, đi nhặt chiếc roi sơ xác. Ông thấy nó vô dụng, ông vứt nó ra ngoài cửa sổ, và sai một anh về buồng ông lấy chiếc roi khác.

Trống ra chơi điểm ba tiếng.

Bắt học trò ngừng lại ở trong lớp vài phút. Ông tỏ vẻ bực tức hết sức, và nguyền rủa anh đi lấy roi chậm là thằng chó chết. Năm phút, anh học trò đi lấy roi vẫn chưa ra. Ông ra hiệu cho học trò ra chơi, rồi ông hằm hằm cắm đầu về nhà, chẳng nói chẳng rằng một câu. Có lẽ vì ông đã kiệt lực.

Ông vừa ra khỏi nhà trường, mấy anh bé xúm lại, ôm lấy con và khóc nức nở. Cả thân mình con đã bị mềm nhũn. Và một lúc sau thì trở nên cứng như súc gỗ. Hai bàn tay con không thể nào nắm lại được, nó đã sưng cứng. Nhưng đau nhất là hai bên bả vai, khuỷu tay, lưng và hai bên hông dưới. Con ê cả người đi, hai tay co lại không được nữa. Ðầu con cũng bị mấy roi thật mạnh, một roi quất vào tai bên trái rím máu, nó đã phát sưng và làm cho ù tịt cả, không còn nghe thấy gì bên tai ấy. May không roi nào quất vào mắt.

Các anh em trong trường vạch áo con lên để đếm vết roi, và họ xúi con đem đến kiện cha xứ. Nhưng con biết rằng kiện ông thì chỉ làm thêm nhơ danh cho ông, và dầu sao con cũng là một người học trò của ông, con không muốn có một sự thù ghét nào giữa con và ông. Còn ông đã oán ghét con chỉ vì ông thấy con trung thành với những điều mà ông đã giáo huấn con.

Con ngồi nghỉ ở trong lớp một tí, rồi con vào nhà thờ. Con can anh em đừng xôn xao quá. Nhưng chỉ nội chiều hôm ấy cả làng Hữu Bằng đã biết đến câu truyện anh trưởng Ð.T.T.K.C. bị ông già báo oán bằng một trận đòn ghê sợ. Người ta bàn tán rất xôn xao. Từ nẫy, con vẫn cầm cự được với nước mắt. Nhưng khi vào nhà thờ, vào vừa khi đôi mắt con gặp thấy cái nhìn hiền từ ở nơi ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp, con liền phát khóc nấc nở. Con đến ngồi trên một chiếc ghế dài trước bàn thờ Mẹ, và miệng chỉ có thể lắp đi lắp lại được một lời.

Lạy Mẹ, đây là chiến thắng của con. đau đớn này là chiến thắng của con!. Rồi con khóc hu hu như không có ai trong nhà thờ cả.

Giờ chầu chiều đã sắp đến. Trong nhà thờ đã có mấy bà ngồi đợi. Các bà thấy con khóc, mới chạy lại hỏi. Con thấy hơi thẹn, và chỉ trả lời vắn tắt:

- Không tôi nghịch đấy.

Rồi con bỏ ghế đứng dậy ra về, nằm. Lòng con cảm thấy một sức yên ủi dịu dàng mình con đỡ đau. Con tưởng như Ðức Mẹ đã đặt một cái hôn thầm lặng trong tâm hồn con, để thưởng công chiến thắng, và thêm sức mạnh cho con chịu nhiều đau đớn về sau.

Câu truyện cũng đã đến tai cha xứ, nhưng người dường như không thiết gì đến việc ấy. Mãi cho đến mấy ngày sau, trong nhà ngoài ngõ xôn xao quá về vụ ông già phải lòng một cô trung binh, rồi bị lũ cậu bé làm rầy ra cho cuộc gặp gỡ của ông với cô ta, nên ông hiềm và lập kế báo thù. Lúc ấy cha xứ mới ậm è gọi ông già xứ lên phòng và nói nhỏ cho biết phải coi chừng.

Thanh niên ngoài đòi cha xứ phải đuổi ông già đi.

Chiều hôm con bị đánh, anh bạn Tân của con cũng vào thăm với một anh thanh niên nữa. Họ ép con phải nói hết mọi nhẽ ra, để họ có thể cộng lực với, mà tẩy trừ bọn ông già cho.

Con thì con không ngờ rằng câu truyện nó lại lan ra to đến thế. Nhưng đầu nêu cũng chỉ là tại cái ông già to đầu mà dại. Tự ông bêu xấu cho ông, chứ ai động chạm gì đến ông? Ai bảo ông lúc đánh người ta, thì miệng cứ hô hô nhắc đến đứa tình nhân của mình! Tưởng là đẹp lắm đấy? Ðể cho lũ học sinh nó biết nó cười cho.

Con xin anh Tân vì tình nghĩa bạn bè, hãy nói hộ với các anh em thanh niên đừng động chạm gì đến tính mạng ông già và tụi kẻ giảng kia. Hay hơn hết là anh em có thể trợ lực bằng cách ngăn đón làm sao cho các chị trung binh khỏi đi lại trong nhà xứ vào những buổi đêm hôm.

Thực ra họ cũng có hành động như con xin, nhưng cũng ba hoa được chừng một tuần lễ rồi thì chẳng còn nghe tiếng anh nào hò hét, đi tuần ở chung quanh nhà thờ nữa.

Sở dĩ thế, cũng là vì trong số thanh niên cũng có nhiều anh là anh em với cô tình nhân của ông già. Mà ngặt một nỗi nữa, cô lại là con gái của cụ tiên chỉ làng cơ mới chết chứ.

Bởi thế, những anh em thanh niên có thiện chí với con cũng hơi nem nép vị nể đằng kia.

Vài ba ngày sau những vết hằn trên người con mới lặn hẳn, nhưng con vẫn cảm thấy đau. Một gia đình ở ngoài làng xưa nay vẫn có thiện cảm với gia đình con; gia đình chị Tiết. Nghe biết con bị đòn nặng, chị đã liệu cách thuốc thang và bổ sức cho con. Nhờ đó sức con mau lại, và cảm thấy khỏe hơn thường.

Ông già không nói năng gì đến con hết. Nhưng bao nhiêu ngày con còn nằm trên giường bệnh thì ông cũng phải chịu "một bóng một đèn" trong xó tối. Một đằng ông không dám ló mặt đi đến đâu, vì trai làng đe đánh. Ðằng khác cô tình nhân của ông cũng cứ bị tụi trẻ làng nó theo rều rễu chế diễu suốt ngày, thành thử cô cũng chả dám vác mặt đi ra đường. Những cô trung binh cùng cánh với cô, được lệnh của giới kẻ giảng non, bảo đừng mon men vào nhà xứ nữa kẻo mà mang tiếng chết!

Con cũng thừa hiểu cái mưu mô của ông già và cánh của ông muốn đợi cho đến khi cha xứ đi làm phúc ở các họ lẻ, khi đó chỉ còn một mình ông có đặc quyền trong nhà xứ, ông sẽ liệu cách để bắt con phải rút lui.

Con tức tốc đem vấn đề ấy ra tố cáo với cha xứ, con nói:

- Con muốn về trước khi người ta bắt ép con phải đi. Xin cha chứng thực cho con rằng con đã vì trung thành với nghĩa vụ, mà bị người ta hành xích bất công.

Cha xứ yên ủi con, và hứa thế nào rồi người cũng sẽ tuyệt cấm mấy đứa con gái và không cho mon men vào nhà xứ nữa.

Tuy nhiên, hứa thì hứa thế nào chứ, đời nào cha xứ lại dám tuyệt cấm con gái cụ tiên chỉ, không cho mon men vào nhà xứ, một khi người vẫn còn là bạn thân của ông ta? Thỉnh thoảng người cũng vẫn ra nhà ông ta để chơi tổ tôm cơ mà?

Cho nên tuy hứa thì hứa đấy, nhưng có cho kẹo cũng chả dám cấm.

Nhưng người cũng biết liệu cho con đi ra khỏi nhà xứ ít lâu, cho đỡ buồn với ông già đi. Người sai con cùng đi với người về các ấp xa xôi để làm phúc cho bổn đạo.

Trước khi đi, con xin họp mặt anh em trong Ð.T.T.K.C. khuyên dặn thôi hẵng ngừng hoạt động khi con vắng mặt. Nhưng nhất thiết là phải đồng tâm bênh đỡ nhau; xa tránh những câu truyện tục tĩu và đừng quên tin tức cho con hay những công việc xẩy ra ở nhà xứ.

Do đó, tuy không ở nhà, nhưng những hôm nào có xẩy ra việc gì trong nhà xứ con cũng điều biết hết.

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu 
E-mail : ducme@cuuthe.com