|
LỜI CHA CHUNG ÐGH GIOAN PHAOLÔ II TÔNG THƯ DƯỚI DẠNG TỰ SẮC
Ơn cứu độ, do đó và trên hết, là sự cứu độ khỏi tội lỗi làm ngăn trở tình bằng hữu với Thiên Chúa. Ơn cứu độ là một sự giải phóng khỏi tình trạng nô lệ mà con người luôn nhìn thấy kể từ khi khuất phục trước cơn cám dỗ của Sự Dữ và mất đi tự do của con cái Thiên Chúa (x. Rom 8:21). Ðức Kitô ký thác cho các Thánh Tông Ðồ sứ mạng công bố Nước Thiên Chúa và rao giảng Tin Mừng về sự hoán cải (x. Mk 16:15; Mt 28:18-20). Buổi chiều ngày Phục Sinh của Ngài, khi sứ vụ tông đồ sắp khởi sự, Ðức Giêsu ban cho các Thánh Tông Ðồ, qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, năng quyền hòa giải các hối nhân với Thiên Chúa và Giáo Hội: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" (Jn 20:22-23).
Tôi đã viết trong Tông Thư Khởi Ðầu Ngàn Năm Mới: "Tôi kêu gọi lòng can đảm mới mẻ về mục vụ trong việc bảo đảm rằng huấn giáo hằng ngày của các cộng đồng Kitô hữu phải biết trình bày cách thuyết phục và hiệu nghiệm việc thực hành Bí Tích Hòa Giải. Như anh chị em sẽ nhớ lại, trong năm 1984 tôi đã đề cập tới chủ đề này trong Tông Huấn Hậu Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thế Giới Hòa Giải và Thống Hối, tổng hợp những kết quả do cuộc Họp Thượng Hội Ðồng các Giám Mục chuyên biệt cho vấn đề này. Lúc bấy giờ tôi kêu mời phải cố gắng hết sức để đương đầu với cơn khủng hoảng "ý thức về tội" đang tỏ tường trong nền văn hoá ngày nay. Nhưng tôi còn kiên trì hơn thế nữa khi kêu gọi hãy tái khám phá Chúa Kitô như là mầu nhiệm của lòng sốt sắng đạo đức, trong đó Thiên Chúa bày tỏ cho chúng ta trái tim đầy thương xót của Người và giao hòa chúng ta với Người cách trọn vẹn. Chính gương mặt Chúa Giêsu là điều mà chúng ta phải khám phá qua Bí tích Giải Tội mà đối với người tín hữu đây là cách thế thông thường để được ơn tha thứ và xá giải những tội nghiêm trọng đã mắc phải sau khi chịu bí tích Rửa Tội'. Khi Thượng Hội Ðồng đề cập đến vấn đề này, thì mọi người đều thấy cơn khủng hoảng này, cách riêng ở một vài nơi trên thế giới. Những nguyên nhân gây nên cơn khủng hoảng đó không tan biến trong khoảng thời gian ngắn sau đó. Nhưng Ðại Năm Thánh, năm được đánh dấu cách đặc biệt bởi sự trở lại với Bí Tích Giải Tội, đã cho chúng ta một sứ điệp đầy khích lệ không thể bỏ qua: nếu nhiều người, và trong đó cũng có nhiều người trẻ, đã hưởng phúc nhờ tiếp cận với bí tích này, thì điều có lẽ cần thiết là các vị mục tử sẽ trang bị cho chính mình với lòng tự tin, tính sáng tạo và sự kiên nhẫn hơn trong việc trình bày và hướng dẫn dân chúng quí trọng bí tích đó." Với những lời này, tôi đã có ý, như chính lúc này đây, để khuyến khích các anh em Giám Mục và khẩn thiết kêu gọi các ngài - và, qua các ngài, đến mọi linh mục - hãy gánh vác công việc làm hồi sinh Bí Tích Hòa Giải. Ðây là một đòi buộc của lòng bác ái chân thật và là một sự công bình thật sự về mặt mục vụ, 5 và chúng ta nên nhớ rằng người tín hữu, khi có sự chuẩn bị nội tâm thích hợp, có quyền nhận được món quà bí tích này theo thể thức cá nhân. Ðể thừa tác viên của Bí Tích này có thể thẩm định được những điều kiện nội tâm của các hối nhân hầu ban ra hay cầm lại ơn xá giải, cũng như đề ra việc đền tội thích hợp, điều cần thiết là người tín hữu, ngoài việc ý thức về tội lỗi mình đã phạm, ăn năn vì những tội đó và dốc lòng chừa không tái phạm nữa, còn cần phải xưng thú những tội của mình ra. Theo nghĩa đó, Công Ðồng Triđentinô tuyên bố rằng điều cần thiết "theo luật của Chúa cần phải xưng hết mọi tội trọng." Giáo Hội luôn thấy có một liên kết căn bản giữa sự phán xét được giao phó cho linh mục trong Bí Tích này và nhu cầu các hối nhân phải kể ra các tội của họ, trừ khi không thể được. Cho nên, do việc xưng thú trọn vẹn những tội nghiêm trọng theo luật của Chúa là phần chủ yếu cấu thành Bí Tích này, việc hối nhân phải xưng ra các tội trọng không thể là vấn đề mà các mục tử có quyền tự ý định đoạt (chước giảm, diễn dịch, phong tục địa phương, ...). Theo những chuẩn mực kỷ luật thích đáng, giáo quyền chỉ có thể định ra những tiêu chuẩn nhằm giúp phân biệt sự bất khả xưng thú tội lỗi thật sự của hối nhân với những tình trạng khác trong đó sự bất khả chỉ là hời hợt bên ngoài hoặc có thể vượt qua được. Trong những hoàn cảnh chăm sóc phần rỗi các linh hồn hiện nay và để đáp lại những thỉnh nguyện đáng ưu tư của các Anh Em trong hàng Giám Mục, tôi thấy thật hữu ích để nhắc lại một vài giáo luật hiện đang áp dụng liên quan đến việc cử hành Bí Tích này, và minh bạch một vài khía cạnh của chúng - trong tinh thần hiệp thông với trách nhiệm chính đáng của toàn thể hàng Giám Mục, trong chiều hướng tiến đến một sự thực thi Bí Tích này tốt hơn. Ðây là vấn đề phải bảo đảm sao cho việc cử hành món quà hồng ân đã được trao phó cho Giáo Hội bởi Chúa Giêsu sau sự Phục Sinh của Ngài (x. Jn 20:19-23) được trung thành hơn bao giờ, và do đó mang lại nhiều kết quả hơn nữa. Ðiều này xem ra là đặc biệt cần thiết, xét vì một vài nơi đã có khuynh hướng từ bỏ việc xưng tội cá nhân để quay sang một cách sai trái việc giải tội "chung" hay "tập thể." Trong tình huống này việc giải tội chung không còn được xem như một cách thế bất thường được dùng trong những hoàn cảnh hoàn toàn đặc biệt. Trên cơ sở một sự nới rộng tùy tiện những điều kiện của sự tối cần thiết, trong thực hành đã có sự kém trung tín với cấu hình thánh thiện của Bí Tích này, và đặc biệt liên quan đến nhu cầu của việc xưng tội riêng, gây ra những hệ quả tổn hại nghiêm trọng cho đời sống thiêng liêng của tín hữu và sự thánh thiện của Giáo Hội. Vì vậy, sau khi tham khảo ý kiến của Bộ Tín Lý, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, và Hội Ðồng Giáo Hoàng về Giải Thích Các Văn Bản Pháp Quy, và sau khi nghe ý kiến của Anh Em Hồng Y đáng kính phụ trách các bộ phủ trong Giáo triều Rôma, và tái khẳng định tín lý Công Giáo về Bí Tích Thống Hối và Hòa Giải được tóm tắt trong Giáo Lý Công Giáo, 11nhận thức về trách nhiệm mục tử của tôi và hoàn toàn ý thức về nhu cầu của Bí Tích này cũng như hiệu năng lâu dài của nó, tôi truyền như sau: 1. Các Ðấng Bản Quyền phải nhắc nhở các thừa tác viên của Bí Tích Giải Tội rằng luật phổ quát của Giáo Hội, ứng dụng tín lý Công Giáo trong phạm vi này, đã quy định rằng: a) "Việc xưng tội cá nhân và đầy đủ cùng với phép xá giải là cách thế thông thường duy nhất mà người tín hữu, có ý thức về tội trọng, có thể hòa giải với Thiên Chúa và Giáo Hội; chỉ những lý do bất khả về thể lý hay luân lý mới được chuẩn chước khỏi cách xưng tội như thế, trong trường hợp đó ơn hòa giải có thể nhận được bởi những cách thức khác." b) Do đó, "tất cả những ai có nhiệm vụ chăm sóc cho các linh hồn buộc phải bảo đảm rằng khi được người tín hữu yêu cầu cách hợp lý, họ sẽ thực hiện công việc đã được ký thác cho họ là nghe xưng tội, và rằng các tín hữu được cho cơ hội để xưng tội cá nhân, vào những ngày và giờ quy định thuận lợi cho các tín hữu." Hơn thế nữa, tất cả linh mục với năng quyền ban phát Bí Tích Giải Tội phải luôn luôn chứng tỏ họ nhiệt tình muốn ban phát bí tích này bất cứ khi nào người tín hữu đưa ra lời yêu cầu hợp lý. Một sự miễn cưỡng chào đón con chiên bị thương, ngay cả việc không sẵn lòng bước ra với họ để mang họ về trong đàn, là một dấu chỉ xấu của sự thiếu nhạy cảm mục vụ nơi những người, mà qua việc được Thụ Phong linh mục, cần phản chiếu hình ảnh của vị Mục Tử Tốt Lành. 2. Các đấng Bản Quyền Ðịa Phương, các linh mục coi xứ, và những vị coi sóc các thánh đường và đền thờ, cần phải xác minh thường xuyên rằng các tín hữu đã được dành cho cơ hội tốt nhất để xưng tội. Ðặc biệt đề nghị rằng tại những nơi thờ phượng, các cha giải tội phải hiện diện tỏ tường vào những thời điểm đã niêm yết, những thời điểm này phải thích ứng với những hoàn cảnh thực sự của hối nhân, và đặc biệt việc xưng tội phải có thể thực hiện được trước Thánh Lễ, và ngay cả trong Thánh Lễ nếu có những linh mục khác, để đáp ứng nhu cầu của giáo dân. 3. Vì "người tín hữu buộc phải xưng ra, theo từng loại và số lần phạm, tất cả tội trọng đã phạm sau khi được Rửa Tội mà họ ý thức sau khi xét mình cẩn thận và chưa được tha bởi năng quyền tháo gỡ của Giáo Hội, cũng chưa được thú nhận trong khi xưng tội riêng," mọi thực hành giới hạn việc xưng tội trong việc xưng thú tổng quát hay chỉ giới hạn vào một hay hai tội được đánh giá là quan trọng hơn cả đều đáng bị khiển trách. Thực vậy, xét theo sự kiện mọi tín hữu đều được mời gọi để nên thánh, họ được khuyến khích để xưng cả các tội mọn nữa. 4. Dưới ánh sáng và trong khuôn khổ của những chuẩn mực trên, việc xá giải một số hối nhân cùng lúc mà không có việc xưng tội trước, như dự kiến trong điều 961 của Bộ Giáo Luật cần phải được hiểu và ban phát đúng. Việc xá giải như thế thực ra là "bất thường" và "không thể được thực hiện trong những cách thức thông thường trừ khi: 1. Trong hoàn cảnh nguy tử đang ập đến và không có thời gian đủ cho linh mục hay các linh mục nghe xưng tội của từng hối nhân; 2. Nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng xảy ra, nghĩa là, khi đứng trước con số hối nhân mà không đủ số cha giải tội để có thể nghe giải tội trong một cách thế xứng hợp trong một thời gian phù hợp khiến cho các hối nhân bị tước mất ân sủng bí tích hay không được Rước Mình Thánh Chúa trong một thời gian dài mà không phải do lỗi của họ; [tuy thế] không thể coi là cấp thiết đủ nếu thiếu các cha giải tội chỉ vì số lượng lớn của hối nhân, như có thể xảy ra trong các dịp lễ lớn hay hành hương." Liên hệ đến trường hợp nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng, cần minh bạch như sau: a) Nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng đề cập đến những hoàn cảnh bất thường một cách khách quan, chẳng hạn có thể xảy ra tại các xứ truyền giáo hay tại các cộng đoàn tín hữu biệt lập, khi các linh mục chỉ có thể viếng thăm một vài lần trong năm, hay trong điều kiện của chiến tranh hoặc thời tiết hay những yếu tố tương tự. b) Không thể tách rời hai điều kiện nhằm xác định nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng đã được quy định trong khoản 961 của bộ Giáo Luật. Do đó, không thể chỉ xét riêng sự kiện là người tín hữu có thể được nghe xưng tội "trong một cách thế xứng hợp" và "trong một thời gian phù hợp" do việc thiếu linh mục hay không; mà điều này phải được phối hợp với sự kiện là liệu hối nhân có bị tước mất hồng ân bí tích "trong một thời gian dài," mà không phải do lỗi của họ hay chăng. Thành ra, cần phải tính đến toàn bộ các hoàn cảnh của các hối nhân và của Giáo Phận, trong những gì liên quan đến tổ chức mục vụ của giáo phận và khả năng của tín hữu có thể tiếp cận với Bí Tích Giải Tội. c) Ðiều kiện đầu tiên, nghĩa là việc không thể nghe xưng tội "trong một cách thế xứng hợp" "trong một thời gian phù hợp," chỉ liên hệ đến thời gian đòi hỏi cách hợp lý cho các yếu tố của một cử hành hợp lệ và xứng đáng Bí Tích này. Ở đây không đặt vấn đề về các đối thoại mục vụ mở rộng hơn, mà có thể để dành lại trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn. Thời gian hợp lý và xứng hợp cho việc nghe xưng tội sẽ tùy thuộc vào khả năng cụ thể của cha giải tội hay các cha giải tội, và của chính các hối nhân. d) Ðiều kiện thứ hai đòi hỏi một sự phán đoán thận trọng trong việc đánh giá thời gian bao lâu hối nhân có thể bị tước đi hồng ân bí tích trong điều kiện bất khả thực sự như được mô tả trong điều 960 của Giáo Luật, với giả định rằng không có tình trạng nguy tử gần kề. Một sự phán đoán như thế sẽ không là thận trọng nếu nó bóp méo ý thức về sự bất khả thể lý và luân lý như thường xảy ra, chẳng hạn, nếu coi một thời gian ít hơn một tháng là "một thời gian dài" trong tình trạng bị tước đoạt ơn thánh. e) Không thể chấp nhận việc tạo nên hoặc cho phép tạo nên những hoàn cảnh có vẻ là cấp thiết nghiêm trọng, xuất phát tự sự cử hành không bình thường của Bí Tích Thống Hối vì không tuân giữ các qui luật nói trên đây,20 và càng không thể chấp nhận sự chọn lựa của các hối nhân muốn lãnh nhận sự xá giải tập thể, như thể đó là một điều thông thường tương đương với hai hình thức bình thường được mô tả trong sách Nghi Thức Thống Hối. f) Chỉ nguyên sự kiện có đông hối nhân không đủ để cấu thành sự cấp thiết nghiêm trọng không những trong các dịp lễ trọng hoặc hành hương, mà cũng vậy đối với việc du lịch hoặc vì những lý do khác do tính chất lưu động ngày càng gia tăng của con người tạo nên. 5. Người có thẩm quyền xác định xem có đủ điều kiện theo khoản Giáo Luật số 961 triệt 1 và 2 hay chăng không phải là Cha Giải Tội nhưng là "Ðức Giám Mục Giáo Phận sau khi xét đến các tiêu chuẩn đã thỏa thuận với các thành viên khác trong Hội Ðồng Giám Mục, Ngài có thể xác định những trường hợp nào được coi là cấp thiết"21. Những tiêu chuẩn mục vụ này, trong các hoàn cảnh tại những lãnh thổ của các giám mục liên hệ, phải biểu lộ sự tìm kiếm và trung thành hoàn toàn với các tiêu chuẩn căn bản trong kỷ luật chung của Giáo Hội. Các tiêu chuẩn này cũng dựa trên những đòi hỏi phát xuất từ chính Bí Tích Thống Hối do Chúa thiết lập. 6. Xét theo tầm quan yếu về sự hoà hợp trọn vẹn giữa những Hội đồng Giám mục thế giới về một vấn đề hết sức căn bản như thế này đối với đời sống Giáo Hội, các Hội Ðồng Giám Mục chiếu theo khoản 455 triệt 2 của Bộ Giáo Luật, hãy sớm gởi về Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích văn bản các qui luật mà các Hội Ðồng Giám Mục muốn công bố hoặc cập nhật dưới ánh sáng tự sắc này về việc áp dụng khoản Giáo Luật số 961. Việc này sẽ tạo điều kiện cho sự hiệp thông ngày càng sâu rộng hơn giữa các Giám Mục trong toàn thể Giáo Hội, thúc đẩy ngày càng nhiều các tín hữu khắp nơi kín múc dồi dào nơi nguồn mạch lòng từ bi của Thiên Chúa qua Bí Tích Hòa Giải. Trong viễn tượng hiệp thông này, các Giám Mục Giáo Phận cũng nên thông tri các Hội Ðồng Giám Mục liên hệ về những trường hợp cấp thiết nghiêm trọng đã xảy ra trong khuôn khổ quyền tài phán của mình. Tiếp đến nhiệm vụ của mỗi Hội Ðồng Giám Mục là thông báo cho Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích về tình hình cụ thể trong lãnh thổ của mình và những thay đổi sau đó. 7. Xét về những điều kiện bản thân của hối nhân, cần phải tái khẳng định rằng: a) "Ðể lãnh nhận hữu hiệu ơn xá giải ban một trật cho nhiều người, các tín hữu không những phải có tâm tình thích đáng, nhưng còn phải dốc lòng cách riêng sẽ đi xưng tội riêng các tội trọng mà trong lúc này mình không thể xưng được." b) Khi có thể được, ngay cả trong trường hợp nguy tử, cần cố gắng hết sức khuyên nhủ "mỗi người lo việc đền tội." c) Rõ ràng rằng các hối nhân sống trong tình trạng thường xuyên với các tội trọng và những ai không có ý định thay đổi tình trạng của họ không thể nhận được ơn xá giải cách thành sự. 8. Bổn phận phải "xưng các tội trọng mỗi năm ít nhất một lần" vẫn còn hiệu lực, và do đó "một người có tội trọng đã được tháo gỡ bởi việc xá giải chung phải đi xưng tội riêng ngay khi có cơ hội trước khi nhận một phép xá giải chung khác, trừ phi có ngăn trở chính đáng" 9. Xét về nơi chốn và tòa giải tội để cử hành Bí Tích này, cần nhớ rằng: a) "Nơi chốn thích hợp để nghe xưng tội là nhà thờ hay một nguyện đường," mặc dù đã rõ là những lý do mục vụ có thể biện minh cho việc cử hành Bí Tích này tại các địa điểm khác. b) Các tòa giải tội cần theo các chuẩn định ban hành bởi các Hội Ðồng Giám Mục, những đấng phải bảo đảm rằng các tòa giải tội phải được bố trí tại một "khu vực không hạn chế" và có "lưới che," sao cho các tín hữu và các cha giải tội có thể sử dụng chúng dễ dàng khi cần. Tôi truyền rằng mọi điều tôi đã quy định trong Tông Thư được ban hành dưới dạng Tự Sắc có hiệu lực đầy đủ và chung thẩm và phải được tuân thủ từ hôm nay trở đi, bãi bỏ bất cứ điều khoản nào ngược lại. Tất cả những gì đã truyền trong Thư này, tự bản chất, có giá trị cho các Giáo Hội Công Giáo Ðông Phương theo quy định của Giáo Luật tương ứng dành cho họ. Ban hành tại Rôma, Ðền Thờ Thánh Phêrô ngày 7 tháng Tư, Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, lễ kính Lòng Thương Xót Chúa, trong năm của Thiên Chúa chúng ta thứ 2002, năm 24 triều Giáo Hoàng của tôi. + GIOAN PHAOLÔ II
|